TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
***********
LÊ THỊ HẢI YẾN
THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG
TIỂU THUYẾT NHỮNG ĐỨA TRẺ CHẾT GIÀ
CỦA NGUYỄN BÌNH PHƢƠNG
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lí luận văn học
HÀ NỘI - 2015
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
**********
LÊ THỊ HẢI YẾN
THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG
TIỂU THUYẾT NHỮNG ĐỨA TRẺ CHẾT GIÀ
CỦA NGUYỄN BÌNH PHƢƠNG
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
TS. Phùng Gia Thế
HÀ NỘI - 2015
Lê Thị Hải Yến
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .............................................................................................. 1
1.
Lí do chọn đề tài...................................................................................... 1
2.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề ...................................................................... 3
3.
Mục tiêu, nhiệm vụ của khoá luận .......................................................... 5
4.
Giới hạn của đề tài .................................................................................. 6
5.
Phương pháp nghiên cứu ........................................................................ 6
6.
Đóng góp của khoá luận.......................................................................... 6
7.
2.1.1. Khái niệm quan niệm nghệ thuật về con người ................................... 17
2.1.2. Vài nét về sự vận động của quan niệm nghệ thuật về con người
trong tiểu thuyết Việt Nam từ sau 1986 ................................................ 19
2.2.
Quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết Những đứa
trẻ chết già của Nguyễn Bình Phương .................................................. 22
2.2.1. Con người bị chi phối bởi tâm linh hoá ................................................ 22
2.2.2. Con người tha hoá – biến dạng............................................................. 23
2.3.
Các dạng thức nhân vật cơ bản trong tiểu thuyết Những đứa trẻ
chết già của Nguyễn Bình Phương ....................................................... 26
2.3.1. Nhân vật con người tha hoá, con người dục vọng ............................... 26
2.3.2. Nhân vật ma quái ................................................................................. 28
2.3.3. Nhân vật dị biệt, biến hình, hư ảo ......................................................... 33
2.3.4. Nhân vật đám đông .............................................................................. 41
2.3.5. Nhân vật mang tính biểu tượng............................................................ 43
CHƢƠNG 3. NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRONG
TIỂU THUYẾT NHỮNG ĐỨA TRẺ CHẾT GIÀ CỦA NGUYỄN
BÌNH PHƢƠNG...................................................................................... 46
3.1.
Ngôn ngữ nhân vật ................................................................................ 46
mỗi nhà văn, nhưng quan niệm về sự hiện hữu quan trọng của nhân vật trong tiểu
thuyết là một điều đã được khẳng định.
1
Trong quan niệm của khoa nghiên cứu văn học, nhân vật là linh hồn, là yếu
tố không thể thiếu trong tiểu thuyết, ở nhân vật có thể tìm thấy “bộ mặt con
người”, hay nói cách khác nhân vật là chiếc cầu nối giữa “cuộc đời thực” với
“cuộc đời có vẻ thực” trong tiểu thuyết. Qua thế giới nhân vật, người đọc sẽ tìm
thấy những vấn đề nhân sinh mà tác giả muốn gửi gắm, muốn sẻ chia. Vì vậy mà
thế giới nhân vật trong tiểu thuyết là một vấn đề mà khi nghiên cứu về tiểu
thuyết không thể không đề cập tới.
Tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương có những cách tân mạnh mẽ về tư duy
tiểu thuyết, là một thế giới nghệ thuật cần được nghiên cứu, tìm hiểu. Một trong
những điểm đáng lưu ý, góp phần “giải mã” tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương là
thế giới nhân vật. Trong quá trình hiện đại hoá tiểu thuyết, bên cạnh các tác giả
như Lê Lựu, Ma Văn Kháng, Tạ Duy Anh, Chu Lai, Hồ Anh Thái, Nguyễn Việt
Hà, Võ Thị Hảo, Dương Hướng,… tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương đã gây ấn
tượng trong lòng độc giả bởi lối viết, cách kết cấu và đặc biệt là lối xây dựng
nhân vật. Vẫn được xây dựng bằng những phương thức chung, nhân vật tiểu
thuyết Nguyễn Bình Phương luôn có mối liên hệ với cuộc đời, vẫn là hình bóng
của con người. Những nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương có sức
lôi cuốn riêng xứng đáng trở thành một đối tượng khảo sát và nghiên cứu. Tiếp
cận tiểu thuyết Những đứa trẻ chết già, tác giả khoá luận nhận thấy sự trăn trở và
ý thức cách tân mãnh liệt của nhà văn thể hiện đậm nét trong cách chọn lựa và
xây dựng hệ thống nhân vật. Nhân vật là tụ điểm phản ánh rõ lối đi riêng của
Nguyễn Bình Phương trên hành trình làm mới thể loại tiểu thuyết và khám phá,
tái hiện những “ẩn mật bản ngã” trong chiều sâu tâm hồn con người.
Vì những lí do nêu trên, có thể khẳng định: việc nghiên cứu đề tài “Thế giới
kì ảo đối với việc xây dựng các nhân vật trong tiểu thuyết Những đứa trẻ chết
già của Nguyễn Bình Phương.
Một số bài viết khác đưa ra nhận định chung hoặc tìm hiểu những nét độc
đáo ở các phương diện khác nhau (hiện thực, ý thức, vô thức, giấc mơ, tâm linh,
bản năng,…) trong từng tiểu thuyết cụ thể của Nguyễn Bình Phương như:
3
Đoàn Cầm Thi: “Người đàn bà nằm từ “Thiếu nữ ngủ ngày”, đọc “Người đi
vắng” của Nguyễn Bình Phương” [24]
Hoàng Nguyên Vũ: “Lối đi riêng của Nguyễn Bình Phương” [25]
Thuỵ Khê: “Khuynh hướng hiện thực huyền ảo trong tiểu thuyết Những
đứa trẻ chết già” [9].
Đây là nguồn tư liệu tham khảo quý giá để tác giả khoá luận có thêm cơ sở
triển khai các thủ pháp xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết Những đứa trẻ chết
già của Nguyễn Bình Phương.
Gần đây, tác giả Phùng Gia Thế trong các bài viết về văn học đương đại
[xem 20, 21, 22, 23] đã có sự quan tâm đáng kể đến tiểu thuyết Nguyễn Bình
Phương. Đặc biệt, trong các bài “Cảm quan đời sống và những cách tân nghệ
thuật trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương” [20] và “Những dấu ấn hậu hiện
đại trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương” [22], tác giả đã có nhận xét ban đầu
về nhân vật tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương: “Nhân vật trong tiểu thuyết
Nguyễn Bình Phương là một đám đông những con người hao hụt nhân tính, méo
mó, đầy bản năng dục vong, nhiều thói tật, bệnh hoạn. Họ miên man trong cõi
sống mà không có lấy một điểm tựa. Họ không có thủ lĩnh, sống trong sợ hãi, cô
đơn và đáng thương”, “ngụp lặn miên man giữa hai bờ ảo thực, vật lộn đau đớn
kiếp làm người” [22; 70], “tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương tràn ngập sự ám ảnh
khủng hoảng niềm tin, sự đổ vỡ của những trật tự xã hội và gia đình, sự tha hoá,
tối tăm của con người, sự đánh mất bản ngã, phương hướng, sự lạc lõng bơ vơ
triển khai khoá luận với đề tài “Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Những đứa
trẻ chết già của Nguyễn Bình Phương”.
3. Mục tiêu, nhiệm vụ của khoá luận
3.1. Khoá luận hướng tới tìm ra những điểm độc đáo, nổi bật trong cách
tiếp cận con người, những dạng thức nhân vật tiêu biểu và những biện pháp nghệ
thuật chủ đạo trong xây dựng nhân vật của tiểu thuyết Những đứa trẻ chết già
của Nguyễn Bình Phương, nhằm khẳng định giá trị của tác phẩm, tài năng
5
của nhà văn.
3.2. Nhiệm vụ của khoá luận:
3.2.1. Học tập và nắm vững lí luận về nhân vật văn học nói chung, nhân
vật tiểu thuyết nói riêng, chỉ ra những nét nổi bật về nhân vật trong tiểu thuyết
Việt Nam thời kì đổi mới.
3.2.2. Chỉ ra được những điểm mới trong việc tiếp cận, cách khai thác
nhân vật, nắm được những dạng thức nhân vật cơ bản trong tiểu thuyết Những
đứa trẻ chết già của Nguyễn Bình Phương và phân tích được nét độc đáo cũng
như hiệu quả của các biện pháp nghệ thuật xây dựng nhân vật mà Nguyễn Bình
Phương đã sử dụng trong tập truyện này.
4. Giới hạn của đề tài
Với đề tài đã chọn, tác giả khoá luận sẽ tiến hành tìm hiểu thế giới nhân vật
và nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết Những đứa trẻ chết già của
Nguyễn Bình Phương.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài “Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết
Những đứa trẻ chết già của Nguyễn Bình Phương”, tác giả khoá luận đã vận
dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản như:
5.1. Phương pháp phân tích đối tượng theo quan điểm hệ thống
PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NHÂN VẬT VĂN HỌC
1.1.
Khái niệm nhân vật văn học
1.1.1. Phương diện từ ngữ, thuật ngữ
Thuật ngữ “nhân vật” xuất hiện rất sớm (tiếng Hy Lạp: persona, tiếng Anh:
personage, tiếng Nga: personaj). Hơn 2000 năm trước đây, trong tiếng Hy Lạp
cổ, “persona” vốn mang ý nghĩa “cái mặt nạ” – một dụng cụ biểu diễn của diễn
viên. Nhưng sau đó nó trở thành thuật ngữ để chỉ nhân vật văn học.
Đôi khi, nhân vật văn học còn được người ta gọi bằng các thuật ngữ khác
như: “vai” (actor) và “tính cách” (character). Tuy nhiên, các thuật ngữ này lại có
nội hàm hẹp hơn so với “nhân vật” (persona).
Thuật ngữ “vai” chủ yếu nhấn mạnh đến tính chất hành động của cá nhân,
thích hợp với loại “nhân vật hành động”. Còn thuật ngữ “tính cách” lại thiên về
chỉ những nhân vật có tính cách. Trong thực tế sáng tác, không phải nhân vật nào
cũng hành động, đặc biệt là những nhân vật thiên về “suy tư”, và cũng không
phải nhân vật nào cũng có tính cách rõ rệt. Từ đó có thể thấy các thuật ngữ “vai”,
“tính cách” không bao quát được hết những biểu hiện khác nhau của các loại
nhân vật trong sáng tác văn học.
“Nhân vật” là thuật ngữ có nội hàm phong phú, đủ khả năng khái quát
những hiện tượng phổ biến của tác phẩm văn học ở mọi bình diện và mọi cấp độ.
Như vậy, thuật ngữ “nhân vật” là đúng đắn và đầy đủ nhất.
1.1.2. Một số quan niệm trong nghiên cứu phê bình về nhân vật văn học
Đã có khá nhiều những quan điểm khác nhau về nhân vật văn học trong
giới nghiên cứu, phê bình. Chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát một số quan niệm về
1.1.2.3.
Định nghĩa về nhân vật trong Từ điển thuật ngữ văn học do
nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng
chủ biên.
9
Về cơ bản, cách định nghĩa của Từ điển thuật ngữ văn học giống với định
nghĩa trong cuốn giáo trình Lí luận văn học do Phương Lựu chủ biên. “Nhân vật
văn học có thể có tên riêng (Tấm, Cám, chị Dậu, anh Pha…) cũng có thể không
có tên riêng… Nhân vật văn học là một đơn vị nghệ thuật đầy tính ước lệ, không
thể đồng nhất nó với con người có thật trong đời sống” [6; 202].
Có thể thấy, tính đến thời điểm này, nhân vật văn học là một khái niệm có
tính ổn định tương đối trong nghiên cứu lí luận văn học. Mặc dù trước nay giới
nghiên cứu trong nước đã đưa ra những quan niệm cụ thể về nhân vật văn học
trên cơ sở tìm hiểu những nét nổi bật về nhân vật, song tựu trung lại, có thể rút ra
một cách hiểu phổ biến về vấn đề này như sau:
Nhân vật văn học là một đối tượng được miêu tả một cách tập trung đến
mức có sức sống riêng nào đó ở bên trong theo nhiệm vụ nghệ thuật mà tác giả
trao cho nó.
Như vậy, với cách hiểu này, khái niệm nhân vật không bị bó hẹp trong
phạm vi “con người” mà được mở rộng thành đối tượng với những đặc tính hết
sức phong phú và đa dạng của nó. Ở đây, đối tượng được miêu tả có thể là con
người nhưng cũng có thể là đồ vật, loài vật, thiên nhiên, thần thánh hoặc cũng có
khi là một hiện tượng nổi bật nào đó trong đời sống… Nhưng tất cả chúng đều
được đặt trong mối quan hệ với con người.
Những quan niệm về nhân vật văn học như trên là những chỉ dẫn cho chúng
tôi trong quá trình tìm hiểu về nhân vật văn học nói chung và nhân vật trong tiểu
1.3.
Vài nét về nhân vật tiểu thuyết và nhân vật trong tiểu thuyết
Việt Nam thời kì đổi mới
1.3.1.
Nhân vật tiểu thuyết
Tiểu thuyết là thể loại có sức bao chứa dung lượng hiện thực rộng lớn, có
khả năng phản ánh hiện thực một cách toàn vẹn từ nhiều chiều kích khác nhau.
Nhân vật tiểu thuyết, vì thế, cũng được xây dựng theo những cách riêng nhằm
11
đáp ứng đến mức cao nhất yêu cầu nhận thức hiện thực theo chiều rộng và chiều
sâu của thể loại này.
M. Bakhtin – tác giả của công trình nghiên cứu nổi tiếng “Lí luận và thi
pháp tiểu thuyết”, đã dành nhiều công sức để tìm hiểu về đặc trưng của tiểu
thuyết trên nhiều bình diện, trong đó có nhân vật. Những nhận định của
M.Bakhtin về đặc trưng nhân vật tiểu thuyết rất xác đáng, có giá trị lí luận cao
và còn nguyên tính thời sự. Theo nhà nghiên cứu, nhân vật tiểu thuyết cần phải
được phân biệt với nhân vật sử thi, nhân vật kịch, nhân vật truyện trung đại ở
những đặc trưng cơ bản sau:
Trước hết, nhân vật tiểu thuyết được thể hiện trong thì hiện tại chưa hoàn
thành, trong quá trình biến đổi, trưởng thành và chịu mọi tác động của đời sống.
Do đó, nhân vật tiểu thuyết sẽ là những “con người nếm trải”, những “con người
chưa hoàn kết” [4; 290] và phải tự làm ra chính mình bằng hành động của mình.
Trong khi đó, nhân vật trong các thể loại kia lại được thể hiện trong thì quá khứ,
thật mà hoàn toàn có thể là một con người tưởng tượng, một “cái tôi thử
nghiệm” [8; 109]. Song điều đó không có nghĩa là nhà văn xa rời thực tế mà vẫn
phải bám sát các vấn đề đời sống trong quá trình xây dựng nhân vật. Trên cơ sở
một “chủ nghĩa hiện thực toàn vẹn”, “chủ nghĩa hiện thực theo nghĩa cao nhất”
[4; 295], nhà văn khám phá và miêu tả toàn bộ chiều sâu của tâm hồn con người,
nhìn thấy chiều sâu ấy ở ngoài mình, ở tâm hồn những người khác qua trải
nghiệm và qua thử nghiệm.
Những đặc trưng trên đây của nhân vật tiểu thuyết được đúc kết từ thực tiễn
sáng tác tiểu thuyết từ trước đến nay và sẽ quay lại để soi sáng, làm cho chúng ta
hiểu sâu hơn về những sáng tác tiểu thuyết đương đại.
1.3.2. Nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới
Văn học Việt Nam đang bước vào thời kỳ đổi mới. Tiểu thuyết đương đại
bị chi phối mạnh mẽ bởi một kiểu cảm quan riêng. Về cơ bản, có thể xem đây là
một kiểu cảm nhận thế giới đặc biệt mang đậm dấu ấn của cơn khủng hoảng
niềm tin vào tất cả những giá trị đã từng tồn tại trước đó. Cùng với sự biến mất
13
niềm tin vào chân lí tuyệt đích, người ta nói về sự biến mất của nhân vật trong
văn học: “Nhân vật đã bị phế bỏ mà không được thay thế… Trong cuộc viễn du
sang đầu mút của đêm khuya, nhân vật đã thải bỏ dần dần tất cả những gì khiến
nó nên người, để trở thành những bóng ma vô danh mà người ta chỉ nghe được
giọng nói” [1; 75]. Những nhân vật trong “tiểu thuyết siêu mới” đã không còn là
nhân vật theo đúng nghĩa của nó. Nó chỉ là những mảnh vỡ manh mún, hay chỉ
là một suy nghĩ thoáng qua, một dòng ý thức, một sự ám ảnh… Các nhà văn thời
kỳ đổi mới không quan tâm đến cái gọi là nhân vật điển hình, tính cách điển
hình. Trung tâm hứng thú của họ là vạch ra và tái hiện một cách sinh động
những chất liệu tâm lí mới mẻ, là khám phá những gì đang diễn ra trong miền
nội tâm khuất tối, những bí mật sâu thẳm nhất của con người. Nhân vật tiểu
Thứ nhất, nếu như nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam trước 1975 (đặc
biệt là trong giai đoạn 1945 – 1975) được khai thác trong tư cách công dân đơn
phiến, được nhìn nhận đánh giá theo quan điểm chính trị thì nhân vật trong tiểu
thuyết Việt Nam đương đại được khai thác toàn diện, là con người đa trị, lưỡng
cực với các mối quan hệ vô cùng phức tạp. Nhà văn nhận diện con người đích
thực trong nhu cầu tự ý thức, với nhiều biểu hiện phong phú, đa dạng, có sự hoà
hợp giữa con người xã hội – con người tự nhiên - con người tâm linh, con người
với sự thống nhất giữa ánh sáng và bóng tối, cao cả và thấp hèn, ý thức và vô
thức, khát vọng cao cả và dục vọng tầm thường, con người cụ thể, cá biệt và con
người trong tính nhân loại phổ quát… Đặc biệt, các nhà văn chú trọng thể hiện
con người trong đời sống bản năng tự nhiên và đời sống tâm linh bí ẩn, kỳ diệu,
đầy ám ảnh.
Thứ hai, nhân vật không có số phận tròn trịa như trong tiểu thuyết truyền
thống mà bị phân mảnh, đôi khi bị phá vỡ, chỉ còn là những mảnh nhỏ của tâm
trạng, những khoảnh khắc cuộc đời ngắn ngủi, những dòng ý thức – tiềm thức –
vô thức kéo dài miên man không có điểm dừng.
Thứ ba, nhân vật không có tính cách hay số phận điển hình mà chỉ là
những con người bình thường, vô danh trong cuộc sống. Nhân vật là đủ mọi thứ
15
hạng trong xã hội.
Thứ tư, nhân vật là những cá thể đời thường, những con người đang trong
quá trình hình thành về nhân cách, được thể hiện trong tất cả các mối quan hệ xã
hội, quan hệ ứng xử, thân phận, đời sống riêng của nó, với “đầy những vết dập
xoá trên thân thể và trong tâm hồn” [ 10; 231].
Thứ năm, nghệ thuật xây dựng nhân vật tiểu thuyết có nhiều cách tân
với những thử nghiệm táo bạo, thậm chí mạo hiểm, bởi nhà văn nhận thấy
các thủ pháp truyền thống đã không còn đủ khả năng biểu hiện cái đa dạng,
Nam từ sau 1986
2.1.1. Khái niệm quan niệm nghệ thuật về con người
Theo Từ điển Tiếng Việt, “quan niệm” là cách nhận thức, đánh giá về một
vấn đề, một sự kiện nào đó. Như vậy, “quan niệm” chính là cách nhận thức, lí
giải, đánh giá về một vấn đề chứ không phải là khái niệm về vấn đề đó. Nó là
tầm hiểu biết, tầm trí tuệ, tầm đánh giá, tầm nhìn, tầm cảm của chủ thể nhận
thức.
Về thuật ngữ “quan niệm nghệ thuật”, Từ điển thuật ngữ văn học định
nghĩa: “Quan niệm nghệ thuật là nguyên tắc cắt nghĩa thế giới và con người vốn
có của hình thức nghệ thuật, đảm bảo cho nó khả năng thể hiện đời sống với một
chiều sâu nào đó […] Quan niệm nghệ thuật thể hiện cái giới hạn tối đa trong
cách biểu hiện thế giới và con người của một hệ thống nghệ thuật thể hiện khả
năng, phạm vi, mức độ chiếm lĩnh đời sống của nó” [6; 273].
Trong cuốn Lí luận và phê bình văn học, nhà nghiên cứu Trần Đình Sử
đưa ra cách hiểu: “Quan niệm nghệ thuật là giới hạn thực tế của tư duy nghệ
thuật, nó là thể thống nhất giữa hiện thực được phản ánh và năng lực cắt nghĩa, lí
giải của con người […] Trong nghệ thuật, thế giới được “quan niệm hoá” trên cơ
sở thụ cảm cá nhân về một thế giới, ứng với một quan niệm nghệ thuật là một thế
giới nghệ thuật” [18; 99-100].
Tóm lại, quan niệm nghệ thuật là hệ thống quan điểm chỉ đạo hoạt động
sáng tạo nghệ thuật của người nghệ sĩ. Nó cung cấp một mặt bằng để trên đó
17
diễn ra sự lựa chọn, nhào nặn của người nghệ sĩ; từ đó có thể sáng tạo ra hình
tượng nghệ thuật. Vì vậy, để thấy được quan niệm nghệ thuật của người nghệ sĩ
đòi hỏi phải khám phá và nhìn sâu vào thực chất sáng tác tiểu thuyết của người
nghệ sĩ đó.
nhà văn. Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử khẳng định: “Chừng nào chưa có sự đổi
mới trong quan niệm nghệ thuật về con người thì sự tái hiện các hiện tượng khác
nhau trong đời sống chỉ có ý nghĩa mở rộng về lượng trên cùng một chiều sâu”
[1; 118]. Do đó, quan niệm nghệ thuật về con người chính là chiều sâu nhân bản
của một tác phẩm nghệ thuật, là thước đo trình độ chiếm lĩnh đời sống của người
nghệ sĩ.
Văn học nghiên cứu và thể hiện con người một cách đặc thù. Văn học
không ngừng chiếm lĩnh những biểu hiện nhiều mặt của đời sống, tính cách, cảm
xúc, số phận con người. Con người trong văn học được thể hiện thông qua sáng
tạo nghệ thuật của người nghệ sĩ, kết tinh ở hình tượng nghệ thuật. Và khi sáng
tạo ra nhân vật, bao giờ nhà văn cũng miêu tả theo cách cảm nhận của mình. Nhà
văn quan niệm về con người như thế nào thì sẽ thể hiện hình tượng nhân vật như
thế đó. Chính việc lý giải của nhà văn về số phận con người sẽ phản ánh trình độ
tư duy nghệ thuật và có cơ sở vững chắc hơn trong việc đánh giá những đóng
góp và thành tựu của họ trong dòng chảy của văn học dân tộc.
Như vậy, tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người khi nghiên cứu các
hiện tượng văn học không chỉ giúp chúng ta nhận thức được những dấu ấn độc
đáo của chủ thể sáng tạo được thể hiện trong hình tượng nghệ thuật của tác phẩm
mà còn cung cấp cho chúng ta một góc nhìn có thể lí giải một cách tương đối
đúng đắn, toàn diện về các giá trị tư tưởng, giá trị nghệ thuật của tác phẩm.
2.1.2.
Vài nét về sự vận động của quan niệm nghệ thuật về con ngƣời
trong tiểu thuyết Việt Nam từ sau 1986
Văn học Việt Nam từ sau 1986 đã có sự chuyển hướng mạnh mẽ. Văn học
nhìn nhận, phản ánh con người biện chứng hơn, tiếp cận con người ở “bề sau, bề
sâu, bề xa” chứ không phải là những biểu hiện, hành động bề ngoài. Biết bao
19