Đánh giá công tác đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn từ năm 2009 đến nay - Pdf 29

Ngành Quản lý Đất đai SVTH: Đỗ Quang Thảo
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đất đai là tài sản quốc gia vô cùng quý giá, tư liệu sản xuất đặc biệt, thành phần
quan trọng của môi trường sống và là địa bàn phân bố của các khu dân cư, xây dựng các
công trình kinh tế - văn hóa - xã hội và an ninh quốc phòng. Đất đai có những tính chất
đặc trưng khiến nó không giống bất kỳ một tư liệu sản xuất nào. Đất đai có giới hạn về số
lượng và có vị trí cố định trong không gian, không thể thay đổi được theo ý chủ quan của
con người. Đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp đất đai là tư liệu không thể thay thế được.
Hiện nay nền kinh tế nước ta đang chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, sản xuất nông nghiệp, gắn liền với sản xuất hàng hóa. Điều này
cho thấy tầm ảnh hưởng của đất đai là vô cùng quan trọng đối với sự phát triển kinh tế đất
nước.
Tuy nhiên hiện nay đang nảy sinh ra một vấn đề là con người đang sử dụng đất bất
hợp lý, không tuân thủ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất làm ảnh hưởng đến nguồn tài
nguyên quốc gia vô cùng quý giá này, ảnh hưởng đến môi trường sinh thái. Để hạn chế
vấn đề trên, Điều 1, Luật đất đai 2013 quy định: “Nhà nước đại diện chủ sở hữu toàn dân
về đất đai và thống nhất quản lý về đất đai, chế độ quản lý và sử dụng đất đai, quyền và
nghĩa vụ của người sử dụng đất đối với đất đai thuộc lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam”.
Để Nhà nước quản lý chặt chẽ và nắm chắc nguồn tài nguyên đất đai, Điều 22 Luật
đất đai năm 2013 đã quy định 15 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai nhằm mục đích
đảm bảo cho việc sử dụng đất hợp lý, tiết kiệm, đạt hiệu quả bảo vệ đất, bảo vệ môi
trường. Để thực hiện tốt công tác quản lý Nhà nước về đất đai, một vấn đề không thể
thiếu được đó là Đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Làm tốt công
tác này sẽ giúp cho Nhà nước có cơ sở quản lý chặt chẽ toàn bộ đất đai theo pháp luật,
xác định mối quan hệ pháp lý đầy đủ giữa Nhà nước và người sử dụng đất, tạo điều kiện
cho việc sử dụng đất đai một cách đầy đủ và hợp lý, đạt hiệu quả cao nhất. Từ thực tế và
tầm quan trọng của việc đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, được sự
phân công của Khoa Quản lý đất đai và Bất động sản - Trường ĐH Nông Lâm TP. Hồ
Chí Minh, sự hướng dẫn của cô Nguyễn Ngọc Hạnh – Giáo viên Bộ môn Quy hoạch, sự
cho phép của Phòng Quản lý đất đai – Sở Tài nguyên và Môi Trường tỉnh Quảng Ngãi,

Đất đai là tài nguyên đặc biệt và vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là tư liệu sản
xuất cơ bản và cần thiết nhất của tất cả mọi quá trình sản xuất, là thành phần quan trọng
hàng đầu của môi trường sống. Nó tham gia vào tất cả các hoạt động của đời sống kinh tế
- xã hội, là địa bàn phân bố dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc
phòng.
Trong giai đoạn hiện nay, khi đất nước đang tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại
hoá và mở cửa hội nhập thì đất đai vẫn giữ một vị trí then chốt trong các ngành. Đồng
thời, đất đai là nguồn lực cơ bản quan trọng nhất góp phần cho sự phát triển đất nước.
- Phân loại đất đai
Điều 10, Luật đất đai 2013 quy định: căn cứ vào mục đích sử dụng đất, đất đai
được chia thành 3 nhóm chính:
+ Nhóm đất nông nghiệp
+ Nhóm đất phi nông nghiệp
+ Nhóm đất chưa sử dụng
I.1.1.2. Đăng ký đất đai
Đăng ký đất đai là thủ tục hành chính thiết lập hồ sơ địa chính đầy đủ và cấp giấy
chứng nhận cho người sử dụng đất hợp pháp nhằm xác lập mối quan hệ pháp lý đầy đủ
giữa Nhà nước với người sử dụng đất, làm cơ sở để Nhà nước quản lý chặt chẽ đất đai
theo pháp luật và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người sử dụng đất. Theo quy mô và mức
độ phức tạp của công việc để đăng ký đất trong từng thời kỳ, được chia thành hai giai
đoạn:
Giai đoạn 1: đăng ký đất đai ban đầu được tổ chức thực hiện lần đầu trên phạm vi
cả nước để thiết lập hệ thống hồ sơ địa chính ban đầu cho toàn bộ đất đai và cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho tất cả các chủ sử dụng đủ điều kiện.
Giai đoạn 2: đăng ký biến động đất đai thực hiện ở những địa phương đã hoàn
thành đăng ký đất ban đầu cho mọi trường hợp có nhu cầu thay đổi nội dung của hồ sơ địa
chính đã thiết lập.
- 3 -
Ngành Quản lý Đất đai SVTH: Đỗ Quang Thảo
I.1.1.3. Hồ sơ địa chính

GCN (số seri) gồm 02 chữ cái tiếng Việt và 06 chữ số, được in màu đen; dấu nổi của Bộ
Tài nguyên và Môi trường;
b) Trang 2 in chữ màu đen gồm mục “II. Thửa đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với
đất”, trong đó có các thông tin về thửa đất, nhà ở, công trình xây dựng khác, rừng sản xuất là
rừng trồng, cây lâu năm và ghi chú; ngày tháng năm ký GCN và cơ quan ký cấp GCN; số
vào sổ cấp GCN;
c) Trang 3 in chữ màu đen gồm mục “III. Sơ đồ thửa đất, nhà ở và tài sản khác gắn
liền với đất” và mục “IV. Những thay đổi sau khi cấp Giấy chứng nhận”;
- 4 -
Ngành Quản lý Đất đai SVTH: Đỗ Quang Thảo
d) Trang 4 in chữ màu đen gồm nội dung tiếp theo của mục “IV. Những thay đổi
sau khi cấp Giấy chứng nhận”; nội dung lưu ý đối với người được cấp GCN; mã vạch;
đ) Trang bổ sung GCN in chữ màu đen gồm dòng chữ “Trang bổ sung Giấy chứng
nhận”; số hiệu thửa đất; số phát hành GCN; số vào sổ cấp GCN và mục “IV. Những thay
đổi sau khi cấp Giấy chứng nhận” như trang 4 của Giấy chứng nhận;
e) Nội dung của GCN quy định tại các Điểm a, b, c, d và đ Khoản này do Văn phòng
đăng ký đất đai hoặc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai hoặc Văn phòng đăng ký
QSDĐ (đối với nơi chưa thành lập Văn phòng đăng ký đất đai) tự in, viết khi chuẩn bị hồ
sơ trình cơ quan có thẩm quyền cấp GCN hoặc xác nhận thay đổi vào GCN đã cấp.
- Nguyên tắc cấp GCN được quy định tại Điều 98, Luật đất đai 2013 như sau:
1. GCN được cấp theo từng thửa đất. Trường hợp người sử dụng đất đang sử dụng
nhiều thửa đất nông nghiệp tại cùng một xã, phường, thị trấn mà có yêu cầu thì được cấp
một GCN chung cho các thửa đất đó.
2. Thửa đất có nhiều người chung QSDĐ, nhiều người sở hữu chung nhà ở, tài sản
khác gắn liền với đất thì GCN phải ghi đầy đủ tên của những người có chung QSDĐ,
người sở hữu chung nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất và cấp cho mỗi người 01 GCN;
trường hợp các chủ sử dụng, chủ sở hữu có yêu cầu thì cấp chung một GCN và trao cho
người đại diện.
3. Người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất được nhận
GCN sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật.

cùng cấp cấp GCN.
2. Ủy ban nhân dân cấp huyện cấp GCN cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân
cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở gắn liền với QSDĐ ở tại
Việt Nam.
3. Đối với những trường hợp đã được cấp GCN, Giấy chứng nhận QSHNO, Giấy
chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng mà thực hiện các quyền của người sử dụng
đất, chủ sở hữu TSGL hoặc cấp đổi, cấp lại GCN, Giấy chứng nhận QSHNO, Giấy chứng
nhận quyền sở hữu công trình xây dựng thì do cơ quan tài nguyên và môi trường thực
hiện theo quy định của Chính phủ.
- Sự cần thiết phải cấp GCN
Đối với nước ta, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý.
Nhà nước giao cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử (sau đây gọi tắt là HGĐ-CN)
dụng ổn định lâu dài và mọi người sử dụng đất đều phải tiến hành đăng ký QSDĐ. Đây là
một yêu cầu bắt buộc phải thực hiện đối với mọi đối tượng sử dụng đất trong các trường
hợp như: đang sử dụng đất chưa đăng ký, mới được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, thay
đổi mục đích sử dụng đất, chuyển QSDĐ hoặc thay đổi những nội dung QSDĐ đã đăng
ký.
Thực hiện việc đăng ký và cấp giấy chứng nhận bởi vì:
+ GCN là cơ sở để bảo vệ chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai.
+ GCN là điều kiện đảm bảo Nhà nước quản lý chặt chẽ toàn bộ quỹ đất trong
phạm vi lãnh thổ, đảm bảo cho đất đai được sử dụng đầy đủ, hợp lý, tiết kiệm và có hiệu
quả cao nhất.
+ GCN đảm bảo cơ sở pháp lý trong quá trình giao dịch trên thị trường, góp
phần hình thành và mở rộng thị trường bất động sản.
+ Cấp GCN là một nội dung quan trọng có quan hệ hữu cơ với các nội dung,
nhiệm vụ khác của quản lý Nhà nước về đất đai.
- 6 -
Ngành Quản lý Đất đai SVTH: Đỗ Quang Thảo
I.1.2 Cơ sở pháp lý
I.1.2.1 Văn bản pháp luật Nhà nước

trường quy định về thống kê, kiểm kê đất đai và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất.
- Thông tư 30/2014/TT-BTNMT ngày 02/06/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi
trường quy định về hồ sơ địa chính.
- Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg ngày 22/06/2007 của Thủ tướng Chính phủ ban
hành Quy chế thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tại cơ quan hành chính
Nhà nước ở địa phương.
- 7 -
Ngành Quản lý Đất đai SVTH: Đỗ Quang Thảo
I.1.2.2 Các văn bản pháp luật địa phương
- Quyết định số 14/2010/QĐ-UBND của tỉnh Quảng Ngãi, ban hành ngày 18 tháng
06 năm 2010 quy định về trình tự, thủ tục lập hồ sơ thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất,
chuyển mục đích sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
ở và tài sản gắn liền với đất trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.
- Quyết định số 29/2013/QĐ-UBND của tỉnh Quảng Ngãi, ban hành ngày
04/07/2013 về việc sửa đổi, bổ sung quyết định số 14/2010/QĐ-UBND nhằm phù hợp với
Nghị Định 43/2014/NĐ-CP hướng dẫn thi hành luật đất đai 2013.
- Quyết định 291/2009/QĐ-UBND của tỉnh Quảng Ngãi, ban hành ngày
15/07/2009 về bộ thủ tục hành chính thực hiện tại cấp huyện trên địa bàn tỉnh.
- Đề án một cửa huyện Bình Sơn ngày 07/08/2014 về hoạt động liên quan đến lĩnh
vực đất đai trên địa bàn huyện Bình Sơn.
I.1.3 Cơ sở thực tiễn
Sơ lược về công tác đăng ký đất đai và cấp GCN tại Việt Nam qua các thời kỳ
I.1.3.1. Giai đoạn trước năm 1988
Trước năm 1988, trên lãnh thổ miền Nam tồn tại 2 chế độ: Chế độ quản thủ điền
địa và Tân chế độ điền thổ theo Sắc lệnh 1925. Ở miền Bắc, Nhà nước chưa có một văn
bản nào làm cơ sở cho công tác quản lý đất đai, chủ yếu là điều tra nhanh về đất để giúp
Nhà nước quản lý chặt chẽ phục vụ xây dựng kế hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp.
Ngày 10/11/1980, Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị 299/TTg. Việc triển khai Chỉ thị
kéo dài từ năm 1981 đến cuối năm 1988 mới thực hiện được khoảng 6.500 xã, kết quả đạt
được còn rất hạn chế, việc cấp GCN chưa được thực hiện.

hệ thống pháp luật đất đai ở nước ta ngày càng hoàn thiện.
I.1.3.5. Giai đoạn từ ngày 01/07/2014 đến nay:
Xuất phát từ những khuyết điểm, thiếu sót, những nội dung còn thiếu của Luật đất
đai 2003, Quốc hội Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ban hành Luật đất
đai 2013 ngày 29/11/2013 nhằm giải quyết những khó khăn, vướng mắt và những hạn chế
đó.
Đến nay, công tác đăng ký, cấp GCN được thực hiện dựa vào Luật đất đai 2013,
Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết thi hành
một số điều của Luật đất đai 2013, Thông tư 23/2014/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và
Môi trường quy định về GCN, Thông tư 24/2014/TT-BTNMT quy định về hồ sơ địa
chính, Thông tư 25/2014/TT-BTNMT quy định về bản đồ địa chính, Thông tư
28/2014/TT-BTNMT quy định về thống kê, kiểm kê đất đai và lập bản đồ hiện trạng sử
dụng đất, Thông tư 30/2014/TT-BTNMT quy định về hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển
mục đích sử dụng về đất
- 9 -
Ngành Quản lý Đất đai SVTH: Đỗ Quang Thảo
I.2. Khái quát địa bàn nghiên cứu:
I.2.1. Điều kiện tự nhiên
I.2.1.1. Vị trí địa lý
Bình Sơn là huyện thuộc vùng đồng bằng ven biển, nằm ở phía Bắc tỉnh Quảng
Ngãi, có tọa độ địa lý từ 15
0
11 đến 15
0
25 vĩ độ Bắc và từ 108
0
34 đến 108
0
56 kinh độ
Đông.

nhchinhbinhson.jpg" \* MERGEFORMATINET
(Nguồn: binhson.quangngai.gov.vn)
Hình 1: Bản đồ hành chính huyện Bình Sơn
Vị trí địa lý huyện Bình Sơn thuận lợi phát triển kinh tế biển, mở rộng hợp tác phát
triển nhiều lĩnh vực, cơ hội lớn để trao đổi nguồn lao động, vừa góp phần giải quyết việc
làm. Nhưng đây cũng là nơi chịu thiệt hại nhiều về kinh tế và con người vì phải thường
xuyên gánh chịu thiên tai.
I.2.1.2. Diện tích tự nhiên:
Diện tích tự nhiên toàn huyện 46.760,19 ha, chiếm 9,07% tổng diện tích tự nhiên
của tỉnh Quảng Ngãi. Trên lãnh thổ huyện có Khu kinh tế Dung Quất với diện tích 103
km
2
(khoảng 22,1% diện tích toàn huyện), đang quy hoạch mở rộng lên đến 45.300 ha,
tương đương với 453 km
2
.
I.2.1.3. Địa hình , địa mạo :
Quảng Ngãi là tỉnh thuộc duyên hải Trung Trung Bộ, địa hình có tính chuyển tiếp
từ đồng bằng ven biển ở phía đông đến địa hình miền núi cao ở phía tây. Miền núi chiếm
khoảng 3/4 diện tích tự nhiên toàn tỉnh, đồng bằng nhỏ hẹp chiếm 1/4 diện tích tự nhiên.
- 11 -
Ngành Quản lý Đất đai SVTH: Đỗ Quang Thảo
Do đó, Quảng Ngãi nói chung và huyện Bình Sơn nói riêng có địa hình khá phức tạp, nằm
ở ven biển, có cả vùng đồng bằng và miền núi.
Bình Sơn có một địa hình đa dạng có thể phân chia làm ba vùng, mỗi vùng có đặc
điểm thổ nhưỡng khác nhau: vùng trung du bán sơn địa, vùng châu thổ và vùng đồi thấp.
I.2.1.4. Khí hậu,thời tiết
Mang đặc thù của khí hậu nhiệt đới gió mùa duyên hải Nam Trung Bộ với yếu tố
địa hình sườn Đông Trường Sơn chi phối, đặc điểm khí hậu của huyện được thể hiện rõ
theo 2 mùa: mùa khô từ tháng 2 đến tháng 7 và mùa mưa từ tháng 8 đến tháng 1 năm sau.

STT Nhóm đất Đặc điểm
1 Đất cát biển
Được tạo thành từ các trầm tích sông, biển các
sản phẩm dốc tụ, tích lũy từ sự phá hủy của các đá
giàu thạch anh. Kém phì nhiêu nên chỉ có khả năng
trồng một số cây hoa màu và lâm nghiệp.
2 Đất mặn
Được hình thành do phù sa sông lắng đọng trong
môi trường nước mặn, nước lợ hoặc bị nhiễm mặn do
nước ngập mặn, ngập thủy triều. Nhóm đất này chủ
yếu chỉ sử dụng vào việc nuôi trồng thủy sản.
3 Đất phù sa
Được tạo thành chủ yếu do quá trình lắng đọng
phù sa của các sông. Nhóm đất này rất phù hợp với
cây trồng lương thực như lúa, bắp, khoai và các loại
hoa màu như đậu, rau.
4 Đất đỏ vàng
Chủ yếu trên địa bàn huyện được hình thành do
quá trình phong hóa mạnh, tích lũy sắt nhôm tương
đối và sự rửa trôi của các chất kim loại kiềm thổ,
nhóm đất này sử dụng chủ yếu vào việc trồng lúa và
cây công nghiệp ngắn ngày.
5 Đất xám
Chủ yếu được tạo thành ở chân đồi hoặc nơi địa
bàn cao và dốc. Tiềm năng của loại đất này chỉ sử
dụng trồng các loại cây công nghiệp ngắn ngày.
(Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Bình Sơn)
 Tài nguyên nước
Nước phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân trong huyện được lấy từ 2
nguồn:

Bình Hải
3 Điều kiện khai thác Thuận lợi Thuận lợi
(Nguồn: Khai thác và lưu trữ - Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Bình Sơn)
 Tài nguyên biển và ven biển
Là 1 trong 6 huyện của tỉnh có biển, bờ biển tuy không dài (54 Km) nhưng lại có
ưu thế vượt trội so với một số huyện ven biển khác. Với nhiều chủng loại thủy sản phong
phú (trên 160 loại cá, tôm, mực các loại), sản lượng đánh bắt hàng năm khoảng 18.000 -
20.000 tấn hải sản. Ngoài ra, Bình Sơn có 2 sông và 1 đầm tiếp giáp với biển tạo nguồn
nước mặn, lợ thích hợp cho phát triển nuôi trồng thủy sản, hiện tại đã khai thác khoảng
200 ha với sản lượng 200 - 300 tấn tôm, cá hàng năm.
 Tài nguyên rừng
Diện tích đất lâm nghiệp có 12.276,78 ha, độ che phủ 21,2%. Rừng tự nhiên chỉ
còn lại trên các dãy núi cao, ranh giới giữa Bình Sơn và tỉnh Quảng Nam, huyện Trà
Bồng (xã Bình An, Bình Khương) với thành phần loài cây phong phú, đa dạng (cây lá
rộng, tre nứa).
 Tài nguyên du lịch
Bình Sơn tuy là huyện không có nhiều thắng cảnh đẹp nổi tiếng nhưng có nhiều
bãi tắm rất lý tưởng, trong đó đáng kể nhất là bãi Khe Hai, An Cường - An Sen (Bình
Phú), Thác Bà (Bình Minh), và một số di tích lịch sử như địa đạo Đám Toái, chiến tích
Vạn Tường Một số thắng cảnh đẹp như Bàn Chân Khổng lồ, mũi Ba Làng An có khả
năng phát triển du lịch để phục vụ cho du khách, cán bộ, công nhân viên chứccủa Khu
Kinh tế Dung Quất và nhân dân trong vùng.
- 14 -
Ngành Quản lý Đất đai SVTH: Đỗ Quang Thảo
I.2.2. Điều kiện Kinh tế - Xã hội
I.2.2.1. Lĩnh vực kinh tế
 Phát triển Nông, Lâm, Ngư nghiệp
Theo kế hoạch số 44/KH-UBND của UBND huyện Bình Sơn, phấn đấu giá trị sản
xuất của ngành nông, lâm, ngư nghiệp 5 năm 2011-2015 tăng bình quân 5%/năm. Đến
năm 2015, giá trị sản xuất ngành nông lâm ngư nghiệp đạt trên 881 tỷ đồng, chiếm tỷ

 Các chỉ tiêu kinh tế
Theo kế hoạch số 44/KH-UBND của UBND huyện Bình Sơn ban hành về kế
hoạch phát triển kinh tế - xã hội, phấn đấu tổng giá trị sản xuất đến năm 2015 đạt khoảng
4.372 tỷ đồng (giá cố định năm 1994); tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân nhiệm kỳ đạt
từ 16 - 17%/năm. Cụ thể:
- Cơ cấu kinh tế đến năm 2015:
+ Nông - lâm - ngư nghiệp: từ 20 - 21%.
+ Công nghiệp và xây dựng: từ 36 - 37%.
+ Thương mại - dịch vụ: từ 42 - 43%.
Biểu đồ 1: Cơ cấu kinh tế đến năm 2015
(Nguồn: http://binhson.gov.vn)
- Tốc độ tăng trưởng bình quân giá trị sản xuất các ngành kinh tế chủ yếu:
+ Ngành nông - lâm - ngư nghiệp: khoảng 5%/năm.
+ Ngành công nghiệp và xây dựng: 23 - 24%/năm.
+ Ngành thương mại - dịch vụ: 19 - 20%/năm.
I.2.2.2. Lĩnh vực Văn hóa - Xã hội
 Giáo dục và đào tạo
Phát triển giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa và giáo dục toàn diện.
Không ngừng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, trong đó, tỷ lệ lao động qua đào tạo
nghề đạt 45%. Nâng cao hiệu quả đào tạo nghề, gắn đào tạo với tạo việc làm và bố trí sử
dụng lao động, tạo ra sự liên kết giữa các cơ sở đào tạo nghề và đơn vị sử dụng lao động.
Mục tiêu đến năm 2015 có: 15% trường Mầm non, 60% trường Tiểu học, 60%
trường Trung học cơ sở, 50% trường Trung học phổ thông đạt chuẩn quốc gia.
- 16 -
Ngành Quản lý Đất đai SVTH: Đỗ Quang Thảo
Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; chú trọng giáo dục mầm non; củng cố và
duy trì kết quả phổ cập giáo dục trung học cơ sở, triển khai thực hiện phổ cập bậc trung
học phổ thông. Xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và đội ngũ nhà giáo có đạo đức
tốt, bảo đảm cả số lượng và chất lượng.
 Lao động, việc làm

Kiểm soát chặt chẽ, tiến tới giảm dần các tệ nạn xã hội như ma túy, mại dâm…
Kiềm chế tội phạm, ngăn chặn có hiệu quả tai nạn giao thông.
- 17 -
Ngành Quản lý Đất đai SVTH: Đỗ Quang Thảo
I.2.3 Đánh giá chung
 Ưu điểm
Với điều kiện là huyện thuộc vùng đồng bằng ven biển nhưng qua kết quả thực
hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong những năm qua chúng ta cũng đã nhận thấy
rằng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của huyện đã làm thay đổi bộ mặt nông thôn và
thực sự đã đi vào lòng dân, đem lại lợi ích thiết thực cho nhân dân.
- Cơ sở hạ tầng tương đối đầy đủ, những năm gần đây phát triển mạnh .
- Đời sống nhân dân ngày càng nâng cao.
- Tình hình an ninh-chính trị-trật tự an ninh xã hội được giữ vững.
- Trình độ dân trí ngày càng được nâng cao.
- Điều kiện thông tin liên lạc ngày càng được đáp ứng đầy đủ.
 Hạn chế
- Phát triển các ngành, và chuyển đổi nghề nghiệp vẫn còn chậm .
- Ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất không đồng đều.
- Bộ máy chính quyền cơ sở một số nơi còn yếu kém.
Như vậy, với thực trạng phát triển kinh tế - xã hội những năm gần đây cũng như dự
báo phát triển trong tương lai, trong khi quỹ đất của huyện lại có hạn thì áp lực đối với đất
đai huyện Bình Sơn đã và càng gay gắt hơn (nhất là ở khu vực thị trấn, các tụ điểm kinh
tế phát triển và đặt biệt là cáckhu vực dự kiến sẽ xây dựng các công trình quốc gia như:
Khu công nghiệp Dung Quất, khu đô thị mới Vạn Tường ). Dẫn đến sự thay đổi trên
phạm vi rộng lớn và sâu sắc tình trạng sử dụng đất đai của huyện hiện nay.
I.3 Nội dung nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, quy trình thực hiện:
 Nội dung nghiên cứu
- Tình hình quản lý Nhà nước về đất đai và hiện trạng sử dụng đất trên địa bàn
huyện Bình Sơn.
- Quy trình đăng ký, cấp GCN trên địa bàn huyện Bình Sơn

II.1. Đánh giá công tác quản lý Nhà nước về đất đai và hiện trạng sử dụng đất
trên địa bàn huyện Bình Sơn
II.1.1. Tình hình quản lý Nhà nước về đất đai
II.1.1.1. Việc ban hành các văn bản pháp luật về quản lý, sử dụng đất và tổ
chức thực hiện các văn bản đó
- Giai đoạn 2009 – 01/07/2014: áp dụng hệ thống luật đất đai 2003 cùng các Nghị
định chính phủ đi kèm như Nghị định 88/2009/NĐ-CP, Nghị định 181/2004/NĐ-CP cùng
các thông tư thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành, Quyết định số 14/2010/QĐ-
UBND, Quyết định số 291/2009/QĐ-UBND của UBND tỉnh Quảng Ngãi.
- Giai đoạn từ 01/07/2014 đến nay: áp dụng hệ thống luật đất đai 2013, Nghị định
43/2009/NĐ-CP và các Thông tư của Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành như Thông
tư 23/2014/TT-BTNMT, Thông tư 24/2014/TT-BTNMT…Mới đây nhất là việc ban hành
quyết định số 29/2013/QĐ-UBND để sửa đổi, bổ sung quyết định số 14/2010/QĐ-UBND.
Tuy nhiên, UBND tỉnh Quảng Ngãi đến nay chưa ban hành văn bản cụ thể nên việc thực
hiện pháp luật về quản lý và sử dụng đất vẫn áp dụng chung theo Nghị định 43/2014/NĐ-
CP và đề án một cửa huyện Bình Sơn ngày 7/8/2014.
II.1.1.2. Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính,
lập bản đồ hành chính
Việc quản lý địa giới hành chính và các đơn vị trực thuộc được xác định bởi hồ sơ
địa giới hành chính 364, tỷ lệ 1/50.000. Hồ sơ địa giới hành chính được xây dựng và
thành lập theo chỉ thị 364/CT-HĐBT của thủ tướng chính phủ.
Hiện tại hồ sơ địa giới hành chính của các đơn vị xã, thị trấn trong Huyện đã được
thống nhất rõ ràng và được xác định bằng các yếu tố địa vật cố định hoặc các mốc giới
chuyển lên vẽ bản đồ.
Để có thể quản lý đất đai được một cách chặt chẽ và mang lại hiệu quả cao, cần
phải có đầy đủ về hồ sơ phục vụ cho công tác quản lý. Huyện Bình Sơn những năm gần
đây đã có đầu tư về thời gian cũng như về kinh phí cho việc lập và quản lý các loại hồ sơ
địa chính, là tài liệu không thể thiếu được nhằm phục vụ cho công tác quản lý đất đai.
II.1.1.3. Công tác đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng
- Bản đồ là loại tài liệu quan trọng nhất, loại bản đồ phục vụ cụ thể nhất cho công tác

đích sử dụng đất; công tác đăng ký QSDĐ, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp
GCNQSDĐ
Giai đoạn từ năm 2009 đến nay, hệ thống Luật đất đai Việt Nam có sự thay đổi rõ
ràng khi bắt đầu chuyển sang áp dụng Hệ thống Luật đất đai 2013 từ ngày 01/07/2014 đến
nay. Do đó, công tác quản lý giao đất, cho thuê đất, thu hồi, chuyển mục đích sử dụng,
đều có sự thay đổi.
Công tác giao đất, cho thuê đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, thu hồi đất đã
được thực hiện theo đúng quy định của Luật đất đai, tuy nhiên do địa bàn rộng, cùng ý
thức chấp hành pháp luật của người sử dụng đất chưa cao nên tình trạng thiếu đất ở, đất
sản xuất còn nhiều. Vì vậy một số hộ nông dân tự ý xây dựng nhà ở trái phép trên đất
nông nghiệp, chuyển mục đích sử dụng từ đất lúa sang đất nuôi trồng thuỷ sản mà không
xin phép cơ quan chức năng có thẩm quyền để chuyển mục đích, khai thác rừng trái phép
để lấy gỗ, lấy đất vào sản xuất nông nghiệp.
- 21 -
Ngành Quản lý Đất đai SVTH: Đỗ Quang Thảo
Huyện Bình Sơn đã ban hành nhiều văn bản quy định về giao đất cho hộ gia đình
và cấp GCNQSDĐ cho các hộ gia đình trên địa bàn huyện. Sau khi tiến hành kê khai, xã
lập danh sách, phòng cử cán bộ đi kiểm tra hồ sơ của các đơn vị, sau đó tổng hợp và trình
UBND huyện phê duyệt quyết định việc giao đất, cấp GCNQSDĐ.
II.1.1.7. Công tác quản lý thị trường chuyển QSDĐ
Trên thực tế tại huyện, thị trường bất động sản hoạt động khá mạnh. Hàng năm, rất
nhiều HGĐ-CN thực hiện chuyển QSDĐ, trong đó có một số hộ còn mua bán bằng giấy
viết tay không qua cơ quan Nhà nước, làm cho sự quản lý sử dụng đất khó khăn. Trong
thời gian tới UBND huyện sẽ có hướng chỉ đạo về quản lý thị trường bất động sản này để
tạo điều kiện cho cơ quan chuyên môn quản lý tình hình sử dụng đất được dễ dàng.
II.1.1.8. Công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật
về đất đai và xử lý các vi phạm pháp luật về đất đai
Để việc quản lý và sử dụng đất đi vào nề nếp, đúng pháp luật, hàng năm UBND
huyện đã chỉ đạo thanh tra huyện xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra xử lý các vi phạm
liên quan đến quản lý và sử dụng đất đai. Nhìn chung công tác thanh tra kiểm tra trên địa

UBND
huyện
Toà án
2011 24 12 12 20 83,33
2012 19 14 5 15 78,95
2013 25 18 7 23 92
2014 20 16 4 18 90
Tổng 88 60 28 86 97,73
(Nguồn: Phòng Tài Nguyên và Môi Trường Huyện Bình Sơn )
Qua bảng trên cho thấy, kết quả của công tác giải quyết tranh chấp đất đai trên địa
bàn huyện Bình Sơn từ năm 2011 đến tháng 9 năm 2014 là khá tốt. Tổng số đơn tranh
chấp qua 4 năm là 88 đơn, trong đó thẩm quyền giải quyết UBND huyện là 60 đơn, thẩm
quyền giải quyết của toà án là 28 đơn. Kết quả giải quyết được tổng cộng 86 đơn kể cả
đơn mới và đơn tồn đọng qua các năm với tỷ lệ giải quyết tranh chấp hàng năm đạt từ
78,95% trở lên, trong đó năm 2013 đạt tỷ lệ giải quyết tranh chấp cao nhất là 92%. Nhìn
chung số đơn tồn đọng qua các năm là rất ít. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng tồn
đọng hồ sơ tranh chấp là do chưa có cơ sở pháp lý đầy đủ về QSDĐ giữa các bên tranh
chấp.
Trong năm 2014, công tác giải quyết tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện Bình
Sơn về cơ bản tiếp tục được quan tâm, chú trọng, nhưng vẫn còn gặp nhiều khó khăn do
thiếu nguồn nhân lực, thiếu tài liệu nghiên cứu cũng như trình độ của cán bộ giải quyết
tranh chấp đất đai còn nhiều hạn chế, cần phải khắc phục những hạn chế này để có thể
giải quyết tranh chấp đất đai một cách tốt nhất, đem lại sự tin tưởng cho nhân dân.
- 23 -
Ngành Quản lý Đất đai SVTH: Đỗ Quang Thảo
II.1.2. Hiện trạng sử dụng đất huyện Bình Sơn
Theo số liệu thống kê đất đai ngày 01/01/2014, tổng diện tích đất tự nhiên của
huyện Bình Sơn năm 2013 là: 46.760,19 ha (chiếm 9.07% tổng diện tích tự nhiên của tỉnh
Quảng Ngãi). Trên địa bàn huyện hiện có 24 xã và 1 thị trấn (Thị trấn Châu Ổ).
Bảng 4: Hiện trạng sử dụng đất huyện Bình Sơn năm 2013

14.31
1.1.1.2
Đất cỏ dùng vào chăn nuôi
COC
26,07
0.06
1.1.1.3
Đất trồng cây hàng năm khác
HNK
8.818,75
18.86
1.1.2
Đất trồng cây lâu năm
CLN
6.590,85
14.10
1.2
Đất lâm nghiệp
LNP
12.169,25
26.02
1.2.1
Đất rừng sản xuất
RSX
9.461,65
20.23
1.2.2
Đất rừng phòng hộ
RPH
2.707,6

3.38
2.1.2
Đất ở đô thị
ODT
50.73
0.11
2.2
Đất chuyên dùng
CDG
4.828.83
10.33
2.2.1
Đất trụ sở cơ quan, công trình sự
CTS
39.26
0.08
2.2.2
Đất quốc phòng
CQP
52.25
0.11
2.2.3
Đất an ninh
CAN
7.86
0.02
2.2.4
Đất sản xuất, kinh doanh phi nông
CSK
1.689.53

6.93
3.1
Đất bằng chưa sử dụng
BCS
1.914.11
4.09
3.2
Đất đồi núi chưa sử dụng
DCS
1.324.95
2.83
3.3
Núi đá không có rừng cây
NCS
0.81
0.00
(Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Bình Sơn)
- 24 -
Ngành Quản lý Đất đai SVTH: Đỗ Quang Thảo
Dựa theo bảng hiện trạng sử dụng đất năm 2013 (công bố ngày 01/01/2014) của
huyện Bình Sơn, tỷ lệ giữa ba nhóm đất chính có sự chênh lệch rõ ràng và chưa hợp lý.
Trong đó, nhóm đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ lớn nhất là 73,97%; nhóm đất phi nông
nghiệp chiếm tỷ lệ 19,1%; còn lại nhóm đất chưa sử dụng chiếm 6,93%. Điều này phản
ánh đúng với cơ cấu kinh tế của huyện hiện tại, tập trung chủ yếu vào sản suất nông - lâm
– ngư nghiệp.
Theo kế hoạch số 44/KH-UBND của UBND huyện ban hành về kế hoạch phát
triển kinh tế - xã hội, huyện tập trung đẩy mạnh, phát triển kinh tế theo hướng công
nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp. Do đó, đến năm 2015, chắc chắn tỷ lệ
nhóm đất nông nghiệp sẽ giảm đi, nhóm đất phi nông nghiệp sẽ tăng lên. Bên cạnh đó, tỷ
lệ nhóm đất chưa sử dụng tuy thấp nhất trong ba nhóm nhưng vẫn còn cao; trong thời


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status