ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
o0o
VƢƠNG ĐÌNH THẮNG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN YÊN MINH,
TỈNH HÀ GIANG HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH Hà Nội – 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
o0o
hiện luận văn này đã đƣợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã
đƣợc chỉ rõ nguồn gốc.
LỜI CẢM ƠN
Trƣớc hết với tất cả sự biết ơn sâu sắc nhất, tôi xin cảm ơn PGS.TS Vũ
Anh Dũng, Thầy đã hƣớng dẫn và giúp tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin gửi tới các Thầy giáo, Cô giáo trƣờng Đại học Kinh tế- Đại học
Quốc gia Hà Nội và các Thầy giáo, Cô giáo khoa Kinh tế chính trị đã tham gia
quá trình giảng dạy trong khóa học vừa qua lời cảm ơn chân thành nhất.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới tác giả của các tài liệu đã sử dụng trong quá
trình giảng dạy của nhà trƣờng, sách báo, tài liệu, các trang Web, Internet mà
1.3.1. Kinh nghiệm xây dựng NTM tại một số địa phương trong nước 27
1.3.2. Bài học rút ra cho quá trình xây dựng nông thôn mới tại huyện
Yên Minh, tỉnh Hà Giang 34
CHƢƠNG 2: CÁC PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 36
2.1. Phƣơng pháp luận của đề tài xây dựng Nông thôn mới ở huyện Yên
Minh, tỉnh Hà Giang 36
2.1.1. Phương pháp duy vật biện chứng 36
2.1.2. Phương pháp duy vật lịch sử 37
2.2. Các phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể của đề tài xây dựng Nông thôn mới ở
huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang 37
2.2.1. Phương pháp trừu tượng hóa khoa học 37
2.2.2. Phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp 39
2.2.3. Phương pháp logic - lịch sử 40
2.2.4. Phương pháp thu thập, xử lý và phân tích dữ liệu thứ cấp 42
2.2.5. Phương pháp thống kê 43
2.2.6. Phương pháp so sánh 44
Chƣơng 3: THỰC TRẠNG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN
YÊN MINH HIỆN NAY 45
3.1. Khái quát chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Yên Minh
ảnh hƣởng đến chƣơng trình xây dựng nông thôn mới 45
3.1.1. Điều kiện tự nhiên huyện Yên Minh 45
3.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội huyện Yên Minh 50
3.2. Phân tích thực trạng xây dựng nông thôn mới tại huyện Yên Minh giai
đoạn 2011 - 2014 53
3.2.1. Chủ chương, chính sách về xây dựng NTM của chính quyền và
Đảng bộ, UBND huyện Yên Minh. 53
3.2.2. Những kết quả đạt được trong xây dựng nông thôn mới tại huyện
Yên Minh giai đoạn 2011 -2014 56
3.2.3. Những hạn chế và vấn đề đặt ra cần giải quyết trong xây dựng
nông thôn mới tại huyện Yên Minh 66
i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT
Từ viết tắt
Nguyên nghĩa
1
NTM
Nông thôn mới
2
UBND
Ủy ban nhân dân
3
VH-TT-DL
Văn hóa - thể thao - du lịch
4
THCS
Trung học cơ sở
5
HTX
Hợp tác xã
6
XDNTM
Xây dựng nông thôn mới
7
CNH
Công nghiệp hóa
8
HĐH
Hiện đại hóa
đang và sẽ là mối quan tâm hàng đầu, có vai trò quyết định đối với việc ổn
định kinh tế - xã hội đất nƣớc. Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ
XI của Đảng đã xác định mục tiêu xây dựng nông thôn mới là: “Xây dựng
nông thôn mới ngày càng giàu đẹp, dân chủ, công bằng, văn minh, có cơ cấu
kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất phù hợp, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phát
triển ngày càng hiện đại”. Thực hiện đƣờng lối của Đảng, trong thời gian qua,
phong trào xây dựng nông thôn mới đã diễn ra sôi nổi ở khắp các địa phƣơng
trên cả nƣớc nói chung và ở huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang một huyện
nghèo vùng núi cao thuộc diện đặc biệt khó khăn của cả nƣớc nói riêng.
Sau thời gian 3 năm thực hiện chƣơng trình xây dựng nông thôn mới
ở huyện Yên Minh đến nay 100% các xã trên địa bàn huyện đã phê duyệt
xong đề án xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-2015. Bộ mặt nông
thôn tại huyện Yên Minh đã có nhiều đổi mới, tạo sự chuyển biến mạnh về
nhận thức, ý thức của ngƣời dân trong việc thực hiện tiêu chí xây dựng
nông thôn mới, vai trò chủ thể của cộng đồng cƣ dân nông thôn đã đƣợc
nâng lên, góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện.
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt đã đạt đƣợc, quá trình xây dựng nông thôn
mới trên địa bàn huyện Yên Minh cũng đang gặp không ít những khó khăn,
thách thức, ảnh hƣởng đến tiến độ hoàn thành mục tiêu chƣơng trình xây
dựng nông thôn mới theo đúng lộ trình của tỉnh. Vấn đề này cần sớm đƣợc
phân tích, làm rõ và có các giải pháp thúc đẩy phù hợp.
2
Trƣớc yêu cầu của thực tiễn xây dựng nông thôn mới tại huyện Yên
Minh, tỉnh Hà Giang hiện nay, với mong muốn góp phần nhỏ bé của mình
để chƣơng trình xây dựng nông thôn mới ở huyện Yên Minh, tỉnh Hà
Giang nhanh chóng về đích, tôi chọn đề tài: “Xây dựng nông thôn mới ở
huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang hiện nay” làm luận văn Thạc sĩ, chuyên
ngành Quản lý kinh tế .
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
- Chương 4: Giải pháp thúc đẩy xây dựng nông thôn mới ở huyện Yên Minh
4
CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÂY
DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN CẤP HUYỆN
1.1. Nông thôn và vai trò của nông thôn
1.1.1. Nông thôn
Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cƣ dân, trong đó có nhiều nông
dân. Tập hợp cƣ dân này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa - xã hội và
môi trƣờng trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hƣởng của các tổ
chức khác. Khái niệm “nông thôn” thƣờng đồng nghĩa với làng, xóm, thôn. Theo
các tài liệu nghiên cứu, “làng” là từ nôm, là tiếng nói dân dã, ngôn ngữ đời sống
trong dân gian ăn sâu vào trong tâm lý, ý thức của ngƣời Việt. Nó gợi ra môi
trƣờng kinh tế sản xuất với nghề trồng lúa nƣớc cổ truyền - không gian sinh tồn;
đồng thời là không gian xã hội và cảnh quan văn hoá xây đắp nên nền tảng tinh
thần, tạo thành lối sống, cốt cách và bản lĩnh của ngƣời Việt.
Nông thôn có đặc điểm cơ bản khác với thành thị trên các mặt chủ yếu sau:
- Cƣ dân nông thôn chủ yếu là nông dân và làm nghề nông. Đây là địa
bàn hoạt động chủ yếu của các ngành sản xuất nông, lâm, ngƣ nghiệp và các
ngành nghề sản xuất kinh doanh, dịch vụ phi nông nghiệp. Trong các làng xã
truyền thống, sản xuất nông nghiệp chiếm vị trí chủ chốt và là nguồn sinh kế
chính của đại bộ phận nông dân. Cùng với sự phát triển và tiến bộ của đất
nƣớc, đặc điểm này có sự thay đổi. Các vùng nông thôn trong tƣơng lai sẽ
không phải chủ yếu có các nông dân sinh sống và làm nông nghiệp, thay vào
đó là các cƣ dân cƣ trú và tiến hành nhiều hoạt động kinh tế khác nhau, gồm
cả sản xuất nông nghiệp, sản xuất công nghiệp và thƣơng mại dịch vụ. Theo
đó, tỷ trọng lao động và GDP của các ngành kinh tế ở nông thôn cũng thay
đổi theo hƣớng gia tăng cho công nghiệp và dịch vụ.
- Nông thôn thể hiện tính chất đa dạng về điều kiện tự nhiên, môi
thôn sẽ góp phần đáp ứng nhu cầu lƣơng thực và thực phẩm tiêu dùng cho toàn
xã hội và nâng cao năng lực xuất khẩu các mặt hàng này cho quốc gia.
- Thứ hai, với số dân chiếm đa số sống bằng nông nghiệp, khu vực
nông thôn thực sự là nguồn nhân lực dồi dào cho khu vực thành thị. Sự thâm
nhập của lao động vào thành thị cũng nhƣ sự gia tăng dân số đều đặn ở các
vùng thành thị là không đủ để đáp ứng nhu cầu lâu dài của phát triển kinh tế
quốc gia. Nếu việc di chuyển nhân công ra khỏi nông nghiệp sang các ngành
khác bị hạn chế thì sự tăng trƣởng sẽ bị ảnh hƣởng và việc phát triển kinh tế
sẽ phiến diện. Vì vậy, phát triển bền vững nông thôn sẽ góp phần làm ổn định
kinh tế của quốc gia.
- Thứ ba, nông thôn là thị trƣờng quan trọng để tiêu thụ sản phẩm của
khu vực thành thị hiện đại. Trƣớc hết nông thôn là địa bàn quan trọng tiêu thụ
các sản phẩm của công nghiệp. Nếu thị trƣờng rộng lớn ở nông thôn đƣợc
khai thông, thu nhập ngƣời dân nông thôn đƣợc nâng cao, sức mua của ngƣời
dân tăng lên, công nghiệp có điều kiện thuận lợi để tiêu thụ sản phẩm sản xuất
của toàn ngành không chỉ hàng tiêu dùng mà cả các yếu tố đầu vào của nông
nghiệp. Phát triển nông thôn sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển công nghiệp
và những ngành sản xuất khác trên phạm vi toàn xã hội. Năm 2010, xuất khẩu
nông sản của Việt Nam đạt hơn 19 tỷ USD. Và ngành nông, lâm nghiệp và
thủy sản vẫn tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế với hơn 20%
GDP và 28% kim ngạch xuất khẩu cả nƣớc trong năm 2010.
- Thứ tư, nông thôn có rất nhiều dân tộc khác nhau sinh sống, bao gồm
nhiều tầng lớp, nhiều thành phần khác nhau. Mỗi sự biến động dù tích cực hay
tiêu cực đều ảnh hƣởng mạnh mẽ đến tình hình kinh tế, chính trị, xã hội và an
ninh quốc phòng của đất nƣớc. Do đó, sự phát triển và ổn định nông thôn sẽ
góp phần quan trọng trong việc đảm bảo ổn định tình hình của đất nƣớc.
7
- Thứ năm, nông thôn chiếm đại đa số nguồn tài nguyên, đất đai,
khoáng sản, động thực vật, rừng, biển, nên sự phát triển bền vững nông thôn
có ảnh hƣởng to lớn đến việc bảo vệ môi trƣờng sinh thái, việc khai thác sử
xâm lƣợc và thống nhất Tổ quốc.
Sau ngày thống nhất đất nƣớc, quá trình xây dựng nông thôn mới tiếp
tục đƣợc duy trì và phát huy mạnh mẽ trong thời kỳ đổi mới.Tại Đại hội Đại
biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, Đảng ta xác định mục tiêu xây dựng nông
thôn mới là: ”Xây dựng nông thôn mới ngày càng giàu đẹp, dân chủ, công
bằng, văn minh, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất phù hợp, kết cấu
hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển ngày càng hiện đại”
Quán triệt Nghị quyết Đại hội X, Hội nghị Trung Ƣơng lần thứ bảy
(khóa X) ra Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 5 tháng 8 năm 2008 đã nêu một
cách toàn diện quan điểm của Đảng ta về xây dựng nông thôn mới. Nghị
quyết khẳng định nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vai trò to lớn, có vị trí
quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nƣớc. Chính vì
vậy các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải đƣợc giải quyết đồng
bộ, gắn với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Nông nghiệp,
nông thôn nƣớc ta còn là khu vực giàu tiềm năng cần khai thác một cách có
hiệu quả. Phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống vật chất,
tinh thần của nông dân phải dựa trên cơ chế kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã
hội chủ nghĩa, phù hợp với điều kiện của từng vùng, từng lĩnh vực, để giải
phóng và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực. Giải quyết vấn đề nông nghiệp,
nông dân, nông thôn không phải chỉ là nhiệm vụ của nông dân, ở khu vực
nông thôn mà là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Xây dựng
nông thôn mới là xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại ở nông
9
thôn; xây dựng cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn
nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch;
Xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nhân - nông dân - trí
thức vững mạnh; Không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân
cƣ nông thôn, hài hoà giữa các vùng, tạo sự chuyển biến nhanh hơn ở các
vùng còn nhiều khó khăn; nông dân đƣợc đào tạo có trình độ sản xuất ngang
bằng với các nƣớc tiên tiến trong khu vực và đủ bản lĩnh chính trị, đóng vai
hội của đất nƣớc. Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng đã nêu rõ phƣơng
hƣớng, nhiệm vụ của xây dựng nông thôn mới đến năm 2020 là: Tiếp tục triển
khai chƣơng trình xây dựng nông thôn mới phù hợp với đặc điểm từng vùng
theo các bƣớc đi cụ thể, vững chắc trong từng giai đoạn, giữ gìn và phát huy
nét văn hóa bản sắc của nông thôn Việt Nam.
Thực hiện đƣờng lối của Đảng, trong thời gian qua, phong trào xây
dựng nông thôn mới đã diễn ra sôi nổi ở khắp các địa phƣơng trên cả nƣớc,
thu hút sự tham gia của cả cộng đồng, phát huy đƣợc sức mạnh của xã hội.
Quá trình xây dựng nông thôn mới đã đạt đƣợc thành tựu khá toàn diện. Kết
cấu hạ tầng kinh tế - xã hội cơ bản đảm bảo, tạo sự thuận lợi trong giao lƣu
buôn bán và phát triển sản xuất; Kinh tế nông thôn chuyển dịch theo hƣớng
tăng công nghiệp, dịch vụ, ngành nghề, đã xuất hiện nhiều mô hình kinh tế có
hiệu quả gắn với xây dựng nông thôn mới, nâng cao thu nhập và đời sống vật
chất tinh thần cho ngƣời dân; Hệ thống chính trị ở nông thôn đƣợc củng cố và
tăng cƣờng; Dân chủ cơ sở đƣợc phát huy; An ninh chính trị, trật tự an toàn
xã hội đƣợc giữ vững; Vị thế của giai cấp nông dân ngày càng đƣợc nâng cao.
Những thành tựu đó đã góp phần thay đổi toàn diện bộ mặt nông thôn, tạo cơ
sở vững chắc nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân.
11
Xây dựng nông thôn mới đƣợc xác định là nhiệm vụ của cả hệ thống
chính trị và toàn xã hội trong giai đoạn hiện nay ở nƣớc ta, chính vì vậy nó
phải có hệ thống lý luận soi đƣờng. Quan điểm của Đảng ta về xây dựng nông
thôn mới là sự vận dụng sáng tạo lý luận của Chủ nghĩa Mác Lênin vào thực
tiễn ở nƣớc ta trong giai đoạn hiện nay, hƣớng đến thực hiện mục tiêu cách
mạng xã hội chủ nghĩa, từng bƣớc xóa bỏ sự khác biệt giữa thành thị và nông
thôn, giữa lao động chân tay và lao động trí óc, để đi đến kết quả cuối cùng là
giai cấp công nhân, nông dân và trí thức sẽ trở thành những ngƣời lao động
của xã hội cộng sản chủ nghĩa.
Thực tiễn cũng cho thấy, những xã hội tiến bộ bao giờ cũng chú ý tới
việc thu hẹp khoảng cách sự phát triển giữa thành thị và nông thôn, phát
sở vật chất và diện mạo đời sống vật chất và văn hóa, qua đó thu hẹp khoảng
cách giữa nông thôn và thành thị. Đây là một quá trình lâu dài và liên tục, là
một trong những nội dung trọng tâm cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo trong
đƣờng lối, chủ trƣơng phát triển đất nƣớc và của các địa phƣơng trong giai
đoạn trƣớc mắt cũng nhƣ lâu dài.
Mục tiêu xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội
hiện đại; Cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông
nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; Xã
hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; Môi trƣờng sinh thái
đƣợc bảo vệ; Nâng cao sức mạnh của hệ thống chính trị dƣới sự lãnh đạo của
Đảng ở nông thôn; Xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nông
và đội ngũ trí thức, tạo nền tảng kinh tế-xã hội và chính trị vững chắc, đảm
bảo thực hiện thành công CNH,HĐH đất nƣớc theo định hƣớng XHCN. Hiểu
một cách chung nhất của mục đích xây dựng mô hình nông thôn mới là hƣớng
13
đến một nông thôn năng động, có nền sản xuất nông nghiệp hiện đại, có kết
cấu hạ tầng gần giống với đô thị.
Chính vì vậy, có thể quan niệm: Mô hình nông thôn mới là tổng thể những
đặc điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp
ứng yêu cầu mới đặt ra cho nông thôn trong điều kiện hiện nay; là kiểu nông thôn
đƣợc xây dựng mới so với mô hình nông thôn cũ, tiên tiến về mọi mặt.
Ngày 16 tháng 4 năm 2009 Thủ tƣớng Chính phủ ban hành Quyết định
số 491/QĐ-TTg về Bộ tiêu chí quốc gia về NTM gồm 19 tiêu chí: Tiêu chí về
quy hoạch và thực hiện quy hoạch; tiêu chí về giao thông; tiêu chí về thủy lợi;
tiêu chí về điện; tiêu chí trƣờng học; tiêu chí cơ sở vật chất văn hóa; tiêu chí
chợ nông thôn; tiêu chí về bƣu điện; tiêu chí về nhà ở dân cƣ; tiêu chí về y tế;
tiêu chí về văn hóa; tiêu chí về môi trƣờng; tiêu chí về hệ thống tổ chức chính
trị xã hội vững mạnh; tiêu chí về an ninh, trật tự xã hội.
Từ Bộ tiêu chí quốc gia về NTM và quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn, cho thấy NTM là nông thôn phát triển toàn diện bao gồm tất cả
(1). Quy hoạch xây dựng nông thôn mới
Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 01 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn
mới. Đến năm 2011, cơ bản phủ kín quy hoạch xây dựng nông thôn trên địa
bàn cả nƣớc làm cơ sở đầu tƣ xây dựng nông thôn mới, làm cơ sở để thực
hiện mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020.
Nội dung:
- Nội dung 1: Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển
sản xuất nông nghiệp hàng hóa, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ.
- Nội dung 2: Quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội - môi
trƣờng; phát triển các khu dân cƣ mới và chỉnh trang các khu dân cƣ hiện có
trên địa bàn xã.
15
(2). Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội
Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 2; 3; 4; 5; 6; 7; 8; 9 trong Bộ tiêu chí
quốc gia nông thôn mới.
Nội dung:
- Nội dung 1: Hoàn thiện đƣờng giao thông đến trụ sở Ủy ban nhân dân
xã và hệ thống giao thông trên địa bàn xã. Đến 2015 có 35% số xã đạt chuẩn
(các trục đƣờng xã đƣợc nhựa hóa hoặc bê tông hóa) và đến 2020 có 70% số
xã đạt chuẩn (các trục đƣờng thôn, xóm cơ bản cứng hóa).
- Nội dung 2: Hoàn thiện hệ thống các công trình đảm bảo cung cấp
điện phục vụ sinh hoạt và sản xuất trên địa bàn xã. Đến 2015 có 85% số xã
đạt tiêu chí nông thôn mới và năm 2020 là 95% số xã đạt chuẩn.
- Nội dung 3: Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ nhu cầu về
hoạt động văn hóa thể thao trên địa bàn xã. Đến 2015 có 30% số xã có nhà
văn hóa xã, thôn đạt chuẩn, đến 2020 có 75% số xã đạt chuẩn.
- Nội dung 4: Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn
hóa về y tế trên địa bàn xã. Đến 2015 có 50% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có
75% số xã đạt chuẩn.
- Nội dung 5: Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn
- Nội dung 2: Tiếp tục triển khai Chƣơng trình mục tiêu Quốc gia về
giảm nghèo.
- Nội dung 3: Thực hiện các chƣơng trình an sinh xã hội.
(5). Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở
nông thôn
Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 13 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn
mới. Đến 2015 có 65% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 75% số xã đạt chuẩn.