vận dụng kiến thức liên môn giải quyết tình huống bảo vệ môi trường nước ở hà nội - Pdf 29

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ NỘI
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUẬN LONG BIÊN
TRƯỜNG THCS ÁI MỘ
Địa chỉ: Số 34 ngõ 289 đường Ngọc Lâm- Phường Ngọc Lâm
Quận Long Biên- Hà Nội
Điện thoại: 0975751236
Email:
Tên tình huống:
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG NƯỚC Ở HÀ NỘI
Môn học chính được vận dụng để giải quyết tình huống: Sinh học
Các môn học tích hợp: Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý, Giáo dục công dân,
Hóa học, Công nghệ.
Thông tin nhóm học sinh:
1. Họ và tên: Dương Thị Minh Phương
Ngày sinh: 26/11/2000 Lớp: 9B
2. Họ và tên: Nguyễn Thị Mỹ Anh
Ngày sinh: 28/6/2000 Lớp: 9B
1
1. Tên tình huống:
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG NƯỚC Ở HÀ NỘI
Ngày nay, vấn đề bảo vệ môi trường ở Việt Nam đã trở nên cấp thiết hơn
bao giờ hết. Đặc biệt, việc bảo vệ môi trường nước ở Thủ đô Hà Nội là rất quan
trọng.Thế nhưng ai trong chúng ta cũng thấy một thực trạng đáng buồn là môi
trường nước ở Hà Nội đang bị ô nhiễm nặng nề. Điều này không chỉ ảnh hưởng
đến mỹ quan của thủ đô mà còn ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người
dân và rộng hơn là ảnh hưởng tới thành phần tự nhiên của Trái Đất.
2. Mục tiêu giải quyết tình huống
Vận dụng kiến thức liên môn để:
a) Về kiến thức:
- Hiểu biết vai trò của nước trong cuộc sống của con người.
- Biết được nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nước ở Hà Nội.

2
* Về văn học:
- Đọc hiểu văn bản “Thông tin về ngày trái đất năm 2000”. (Ngữ văn 8)
- Thông thạo cách làm bài văn nghị luận về một vấn đề xã hội. (Ngữ văn 9)
* Về giáo dục công dân:
- Những phẩm chất đạo đức của con người
-Ý thức bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên
- Các điều luật về bảo vệ môi trường
* Về môn Công nghệ
- Những tác động của con người làm ô nhiễm nguồn nước ( Bài “Thuốc trừ sâu,
thuốc bảo vệ thực vật – Công nghệ 7)
* Giáo dục nếp sống thanh lịch văn minh của người Hà Nội
- Ứng xử với thiên nhiên và môi trường xung quanh (Lớp 8)
4. Giải pháp giải quyết tình huống
- Viết bài phân tích về tác hại của việc làm ô nhiễm nguồn nước đối với tự
nhiên và sức khỏe con người
- Sưu tầm tranh ảnh có nội dung liên quan.
5. Thuyết minh tiến trình giải quyết tình huống
* Tóm tắt quá trình thực hiện:
+ Xác định các ý chính
+ Tìm hiểu ở địa phương
+ Trao đổi với bạn bè, thầy cô.
+ Viết bài.
* Tư liệu sử dụng:
Sách giáo khoa Ngữ văn, sinh học, hóa học, giáo dục công dân từ lớp 6 đến lớp
9, tài liệu giáo dục nếp sống văn minh thanh lịch của người Hà Nội.
* Ứng dụng công nghệ thông tin:
Phần mềm tìm kiếm google, báo mạng…
* Bước 1: Xác định các ý chính:
- Vai trò của nước đối với tự nhiên và đời sống con người

nướng đi, cả bao tải vỏ ngô cũng vứt xuống đấy.
- Vâng ạ, cháu hiểu rồi ạ, cháu cảm ơn bác!

* Bước 3: Trao đổi với bạn bè, thầy cô.
* Bước 4: Từ những ý kiến của thầy cô, bạn bè kết hợp với kiến thức liên môn
và những thông tin thu thập được để viết bài phân tích.
4
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG NƯỚC Ở HÀ NỘI
I. Vai trò của nước đối với tự nhiên và đời sống con người
1. Thành phần, sự phân bố và trạng thái tồn tại của nước
Nước là một hợp chất hóa học của ôxi và hiđrô, có công thức hóa học là H
2
O.
Tỉ lệ hóa hợp giữa hiđrô và ôxi về thể tích là 2:1, về khối lượng là 1:8.
Cấu tạo phân tử nước
Nước là một chất rất quan trọng trong nhiều ngành khoa học và trong đời
sống. 70% diện tích của Trái Đất được nước che phủ nhưng chỉ 0,3% tổng
lượng nước trên Trái Đất nằm trong các nguồn có thể khai thác dùng làm
nước uống.
Nước
Nước có thể tồn tại ở ba trạng thái cơ bản: rắn (băng), lỏng (nước) và khí
(hơi nước). Khi chuyển từ trạng thái này sang trạng thái khác, năng lượng
hay tiềm nhiệt bị hấp thụ hoặc tỏa ra.
Các trạng thái tồn tại của nước
5
Hơn 70% diện tích của Trái Đất được bao phủ bởi nước. Lượng nước trên Trái
Đất có vào khoảng 1,38 tỉ km³. Trong đó 97,4% là nước mặn trong các đại
dương trên thế giới, phần còn lại, 2,6%, là nước ngọt, tồn tại chủ yếu dưới dạng
băng tuyết đóng ở hai cực và trên các ngọn núi, chỉ có 0,3% nước trên toàn thế
giới (hay 3,6 triệu km³) là có thể sử dụng làm nước uống.

3. Vai trò của nước trong tự nhiên
Cuộc sống trên Trái Đất bắt nguồn từ trong nước. Tất cả các sự sống trên Trái
Đất đều phụ thuộc vào nước và vòng tuần hoàn nước.
Nước có ảnh hưởng quyết định đến khí hậu và là nguyên nhân tạo ra thời tiết.
Năng lượng mặt trời sưởi ấm không đồng đều các đại dương đã tạo nên các
dòng hải lưu trên toàn cầu. Dòng hải lưu Gulf Stream vận chuyển nước ấm từ
vùng Vịnh Mexico đến Bắc Đại Tây Dương làm ảnh hưởng đến khí hậu của vài
vùng châu Âu.
Vòng tuần hoàn của nước trong tự nhiên
7
4. Vai trò của nước đối với hoạt động kinh tế
Nước được sử dụng trong công nghiệp từ lâu như là nguồn nhiên liệu (cối
xay nước, máy hơi nước, nhà máy thủy điện), như là chất trao đổi nhiệt. Ở
Việt Nam, có nhiều nhà máy thủy điện lớn như thủy điện Hòa Bình, thủy
điện Sơn La, thủy điện Y-a-li,…
Nhà máy thủy điện Hòa Bình
Nhà máy thủy điện Sơn La
II. Thực trạng môi trường nước ở Hà Nội
* Theo báo cáo của Sở tài nguyên môi trường và nhà đất Hà Nội:
+ Theo báo cáo năm 2005 thì mỗi ngày cư dân và các nhà máy công
nghiệp và tiểu thủ công nghiệp tại Hà Nội thải ra 300.000 tấn nước thải, mỗi
năm thải ra các sông, hồ khoảng 3.600 tấn hữu cơ, 317 tấn dầu mỡ, hàng chục
tấn kim loại nặng, các chất dung môi và các chất kim loại khác.
+ Dự báo đến năm 2010 tại Hà Nội mỗi ngày cư dân vì thế các nhà máy công
nghiệp và tiểu thủ công nghiệp sẽ thải ra môi trường nước khoảng 510.000 m3
chất thải/ngày.
- Nước thải của Hà Nội chủ yếu được thải vào một số sông - hồ chính như: Hồ
Tây, Hồ Bảy Mẫu, Hồ Thủ Lệ, Sông Tô Lịch, Sông Kim Ngưu bốc mùi hôi
8
thối và rất khó chịu ảnh hưởng đến sinh hoạt của con người, đặc biệt là những cá

Sông Tô Lịch- rác ngập tràn
Một góc chân cầu Long Biên giáp bờ sông
Một góc công viên chỗ thoát nước thải
10
Vớt rác làm sạch môi trường (vớt bao giờ cho hết?)
II. Nguyên nhân làm ô nhiễm nguồn nước
1. Nước thải
a) Nước thải sinh hoạt
Nước thải sinh hoạt (domestic wastewater): là nước thải phát sinh từ các hộ gia
đình, bệnh viện, khách sạn, cơ quan trường học chứa các chất thải trong quá
trình sinh hoạt, vệ sinh của con người. Thành phần cơ bản của nước thải sinh
hoạt là các chất hữu cơ dễ bị phân hủy sinh học (cacbohydrat, protein, dầu mỡ),
chất dinh dưỡng (photpho, nitơ), chất rắn và vi trùng. Tùy theo mức sống và lối
sống mà lượng nước thải cũng như tải lượng các chất có trong nước thải của
mỗi người trong một ngày là khác nhau. Vì vậy, mức sống càng cao thì lượng
nước thải và tải lượng thải càng cao. Ngoài ra, việc vứt rác bừa bãi ra các sông,
hồ gây ảnh hưởng đến nguồn nước.
Một nhánh sông Hồng đen ngòm vì nước thải
Trong nghiên cứu được đăng tải trên Nature, tuần báo khoa học quốc tế, các nhà
khoa học đã tiến hành hàng loạt các xét nghiệm xung quanh làng Vạn Phúc nằm
sát sông Hồng cách Hà Nội khoảng 10 cây số. Các nhà thủy học muốn tìm hiểu
tại sao nồng độ thạch tín ở đây, vốn đo từ nước lấy từ các giếng nhà ở độ sâu
11
khoảng 40 mét, tại sao lại cao như vậy. Tại các hộ dân ở phía Tây làng, các
giếng nhà có nồng độ thạch tín chưa đến 10 microgram (1 microgram tương
đương một phần triệu gram) trong một lít nước – tức là thấp hơn nhiều so với
ngưỡng cho phép của Tổ chức Y tế Thế giới. Nhưng ở phía Đông làng, nồng độ
thạch tín cao hơn từ 10 đến 50 lần.
Theo các nhà khoa học thì ở làng Vạn Phúc có hai tầng ngậm nước: một tầng là
đất có từ khoảng 5.000 năm trước có độ nhiễm thạch tín cao nằm đè lên một

Ví dụ: nước thải của các xí nghiệp chế biến thực phẩm thường chứa lượng lớn
các chất hữu cơ; nước thải của các xí nghiệp thuộc da ngoài các chất hữu cơ còn
có các kim loại nặng, sulfua,
Hầu hết các kim loại nặng đều có độc tính cao đối với con người và các động vật
khác. Chì (Pb): chì có trong nước thải của các cơ sở sản xuất pin, acqui, luyện
kim, hóa dầu. Chì có khả năng tích lũy trong cơ thể, gây độc thần kinh, gây chết
nếu bị nhiễm độc nặng. Chì cũng rất độc đối với động vật thủy sinh. Các hợp
chất chì hữu cơ độc gấp 10 – 100 lần so với chì vô cơ đối với các loại cá. Nhiều
loại nước thải công nghiệp có chứa thủy ngân ở dạng muối vô cơ của Hg(I),
Hg(II) hoặc các hợp chất hữu cơ chứa thủy ngân.
Nước thải công nghiệp chưa qua xử lí đổ thẳng ra sông Hồng
Xử lí nước thải là quá trình loại bỏ chất ô nhiễm ra khỏi nước thải. Bao gồm các
quá trình vật lý, hóa học, và sinh học để loại bỏ các chất ô nhiễm có chất thải
dạng lỏng an toàn với môi trường (hoặc xử lý nước thải) và chất thải rắn (hoặc
13
xử lý bùn) phù hợp để xử lý hoặc tái sử dụng (thường là phân bón cho nông
nghiệp). So với sự ô nhiễm do rác rưởi, sự ô nhiễm do hóa chất còn kinh khủng
hơn nhiều. Rác rưởi sau khi được vi sinh vật phân hủy, sẽ hết nguy hiểm. Nhưng
đa số các loại hóa chất không tự tiêu hủy trong môi trường tự nhiên, mà còn mãi
trong nước, do vậy chỉ cần một lượng rất nhỏ thôi cũng đủ gây ra hậu quả ghê
gớm. Vậy thì thử hỏi, hàng tấn hóa chất chứa trong nước thải công nghiệp đang
tàn phá sông hồ đến chừng nào?
Không chỉ vậy, nguồn nước còn bị ô nhiễm ngay từ trong vòng tuần hoàn.
Nước mưa rơi xuống đất, chảy ra sông và được ngăn giữ lại ở các đập nước hay
dẫn vào hồ chứa để phục vụ cho sản xuất, cung cấp nước uống và sinh hoạt. Vậy
nếu nước mưa bị nhiễm bẩn, hay chính xác hơn là những đám mây và hơi nước
trong không khí bị ô nhiễm thì nguồn nước đương nhiên cũng bị nhiễm bẩn
theo. Thế nhưng, chính con người lại đang làm ô nhiễm chính nguồn nước uống
của mình bằng khí thải công nghiệp độc hại và khói của hàng tỉ phương tiện
giao thông trên thế giới. Hãy thử tưởng tượng xem từng hạt nước bạn uống hàng

Cadimi(Cd): các vi sinh vật gây hại trong phân bón gồm: Ecoli, Coliform là
những loại vi sinh vật gây nên các bệnh đường ruột rất nguy hiểm.
Ô nhiễm nước do thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hoá học
Một trong những tác động tiêu cực của ô nhiễm thuốc bảo vệ thực vật và phân
bón là ô nhiễm nước, có tình trạng sau khi phun thuốc trừ sâu bệnh hoặc cỏ dại,
người nông dân rửa bình bơm và đổ thuốc thừa ở bất cứ nơi nào mà không chú ý
15
đảm bảo an toàn tới nguồn nước; bao bì, chai lọ chứa hoá chất độc hại được
người dân vứt bỏ quanh nhà, quanh mương máng Điều đó đã làm ảnh hưởng
trực tiếp tới nguồn nước sinh hoạt hàng ngày và là tiền đề phát sinh các loại
bệnh tật mà người nông dân không thể nhận thấy ngay được.
Do tập quán và thói quen của người dân đã trực tiếp gây ảnh hưởng xấu tới môi
trường sống, đó cũng là nguyên nhân trực tiếp phát sinh và làm gia tăng bệnh
tật tại các vùng nông thôn, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa trên
địa bàn của tỉnh như các bệnh về đường ruột, đau mắt, viêm đường hô hấp, bệnh
ung thư đối với nhiều người dân nông thôn.
Bên cạnh đó phải kể đến chăn nuôi, vốn là một ngành rất quen thuộc,
bởi vì đã có từ rất lâu trên thế giới. Ban đầu chỉ ở quy mô gia đình nhằm đảm
bảo nguồn thực phẩm động vật hoặc sức kéo cho hộ hay nhóm gia đình nhỏ.
Nhưng hiện nay ngành chăn nuôi đã phát triển ở mức độ sản xuất hàng hoá với
quy mô ngày càng lớn nhằm cung cấp một số lượng lớn thực phẩm động vật cho
nhu cầu sử dụng ngày càng cao của con người. Các tiến bộ khoa học liên tục
được áp dụng nhằm tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn. Tuy nhiên từ quá
trình chăn nuôi tập trung cao độ này đã nảy sinh vấn đề ô nhiễm nguồn nước.
Khó khăn trong việc thu gom, tồn trữ và xử lý các chất thải chăn nuôi là những
vấn đề đầu tiên gắn liền với chăn nuôi tập trung.
Nước thải chưa qua xử lý từ các cơ sở chăn nuôi heo làm ô nhiễm sông
Theo chi cục Bảo vệ môi trường, nguồn nước thải từ chăn nuôi của các hộ
dân dù đã được hoặc chưa được xử lý qua hầm biogas cũng là một trong những
nguyên nhân gây ô nhiễm tầng nước ngầm tại khu vực. Một chuyên viên phòng

thải từ ngâm, tẩy trắng bột, cùng với nước thải trong chăn nuôi và sinh hoạt
hằng ngày đều chảy trực tiếp vào hệ thống cống rãnh của địa phương, rồi đổ
xuống dòng sông Nhuệ. Hai xã Phú Diễn và Thượng Cát của huyện Từ Liêm có
nghề sản xuất đậu phụ và tình trạng nước thải từ sản xuất đậu phụ đến nước thải
từ các chuồng lợn cũng đổ ra hệ thống cống chung của xã bốc mùi hôi và ô
nhiễm môi trường.
Người dân xã Văn Võ, huyện Chương Mỹ, khốn khổ vì môi trường ô nhiễm
do nguồn nước từ các làng nghề chưa qua xử lý xả xuống sông Đáy.
18
Trẻ em vô tư chơi đùa ở bãi rác phế thải bột nhôm mà không biết
sự độc hại tới chết người của nó.

2. Rác thải
a) Rác thải sinh hoạt
Ở Hà Nội, việc ô nhiễm môi trường nước ngày càng đặc biệt nghiêm trọng. Ở
đây, mật độ dân cư khá cao nên nguồn nước thải sinh hoạt hàng ngày rất lớn.
Hơn nữa ý thức của người dân cũng chưa được nâng cao, họ cho rằng cứ xả rác,
xả nước thẳng ra sông là sông sẽ cuốn trôi ra biển. Họ cho rằng nguồn nước là
vô tận nên các con sông lớn không bao giờ bị ô nhiễm. Chính vì thế, những ngày
rằm, mồng một, Tết ông Công, ông Táo người ta đua nhau vứt chân hương, hoặc
những đồ thờ cúng ra sông cho mát mẻ.
Chiếc bàn thờ bị quăng ra giữa sông đoạn cầu Long Biên
19
Con kênh rác
Trên đây là hình ảnh của một đoạn con sông Nhuệ, đoạn chảy huyện Phú
Xuyên, thành phố Hà Nội hiện nay đang bị ô nhiễm nặng nề. Mới đây, Trung
tâm Quan trắc phân tích tài nguyên môi trường - Sở Tài Nguyên và Môi trường
Hà Nội đã phát hiện trong nước nhiều thành phần gây ô nhiễm ở khu vực sông
Nhuệ - sông Đáy. Đáng lưu ý là chất Amoni có nồng độ 21 mg/l-N vượt 210 lần;
COD cao hơn 1,5 lần giới hạn cho phép; BOD cao hơn 8,7; ôxy hòa tan ở mức

nhiễm do một lượng lớn chất thải công nghiệp và sinh hoạt gây nên, còn nguồn
nước ngầm bị nhiễm các chất hữu cơ khó phân hủy.
21
1. Đối với con người
a) Nước ô nhiễm d o kim loại nặng
Các kim loại nặng có trong nước là cần thiết cho sinh vật và con người vì
chúng là những nguyên tố vi lượng mà sinh vật cần tuy nhiên với hàm
lượng cao nó lại là nguyên nhân gây độc cho con người, gây ra nhiều bệnh hiểm
nghèo như ung thư, đột biến. Đặc biệt đau lòng hơn là nó là nguyên nhân gây
nên những làng ung thư như ở Thạch Thất, Đan Phượng (Hà Nội). Các ion kim
loại được phát hiện là hợp chất kìm hãm ezyme mạnh. Chúng tác dụng lên phôi
tử như nhóm –SCH3 và SH trong methionin và xystein. Các kim loại nặng có
tính độc cao như chì (Pb), thủy ngân (Hg), Asen (As)…
Asen ( còn gọi là thạch tín) gây ra ba tác động chính tới sức khỏe con người là:
làm đông keo protein, kết hợp với asen(III) và phá hủy quá trình phốt-pho hóa.
Các biểu hiện của nhiễm độc asen đó là: gây ho, tức ngực và khó thở, mất thăng
bằng, đau đầu, nôn mửa, đau bụng, đau cơ (thể cấp tính). Nếu nhiễm xảy ra
thường xuyên thì ảnh hưởng đến da như đau, sưng tấy da, vệt trắng lên móng
tay…
- Asen và các hợp chất của nó tác dụng lên sunfuahydryl (-SH) và các men phá
vỡ quá trình photphoryl hóa, kết hợp với co-enzyme ngăn cản quá trình sinh
năng lượng. Asen có khả năng gây ung thư biểu mô da, phế quản, phổi, xoang…
- Asen vô cơ có hóa trị III có thể làm sơ cứng ở gan bàn chân, ung thư da. Asen
vô cơ có thể để lại ảnh hưởng kinh niên với hệ thần kinh ngoại biên, một vài
nghiên cứu đã chỉ ra asen vô cơ còn tác động lên cơ chế hoạt động của AND.
Asen gây nhiều tác hại cho sức khỏe con người
- Bệnh sạm da, mất sắc tố da, làm cứng da, và rối loạn tuần hoàn ngoại biên là
các triệu chứng do tiếp xúc thường xuyên với asen. Ung thư da và nhiều ung thư
nội tạng cũng do vậy. Các bệnh như tim mạch cũng được phát hiện có liên quan
đến thức ăn, nước uống có asen và do tiếp xúc với asen. Trong nghiên cứu số

chất lượng vì nguồn nước tưới bị nhiễm một số làm ảnh hưởng rất lớn đến việc
cung cấp rau sạch cho Hà Nội mỗi ngày, và cũng ảnh hưởng rất lớn tới sức khoẻ
của con người khi dùng những loại rau quả đó.
23
Mương nước thải sinh hoạt là nguồn nước tưới rau ở Từ Liêm
d) Nước bị ô nhiễm do túi nilông
Như chúng ta đã biết, việc sử dụng bao bì nilông có thể gây nguy hại đối với
môi trường bởi đặc tính không phân hủy của pla-xtíc. Hiện nay ở Việt Nam mỗi
ngày thải ra hàng triệu bao bì ni lông , một phần được thu gom, phần lớn bị vứt
bừa bãi khắp nơi công cộng, ao hồ, sông ngòi.
Theo các nhà khoa học, bao bì ni lông lẫn vào đất làm cản trở quá trình sinh
trưởng của các loài thực vật bị nó bao quanh, cản trở sự phát triển của cỏ
dẫn đến hiện tượng xói mòn ở các vùng đồi, núi. Bao bì ni lông bị vứt
xuống cống làm tắc các đường dẫn nước thải, làm tăng khả năng ngập lụt
của các đô thị về mùa mưa. Sự tắc nghẽn hệ thống cống rãnh làm cho
muỗi phát sinh, lây truyền dịch bệnh. Bao bì ni lông trôi ra biển làm chết
các sinh vật khi chúng nuốt phải. Đặc biệt bao bì ni lông màu đựng thực
phẩm làm ô nhiễm thực phẩm do chứa các kim loại như chì, ca-đi-mi gây
tác hại cho não và là nguyên nhân gây ung thư phổi. Nguy hiểm nhất là
khi các bao bì ni lông thải bị đốt, các khí độc thải ra đặc biệt là chất đi-ô-
xin (là hợp chất gồm hàng trăm các chất hóa học tồn tại bền vững trong
môi trường cũng như trong cơ thể con người, trong đó có 29 chất hóa học
đặc biệt nguy hiểm) có thể gây ngộ độc, gây ngất, khó thở, nôn ra máu,
làm ảnh hưởng đến các tuyến nội tiết, giảm khả năng miễn dịch, gây rối
loạn chức năng, gây ung thư và các dị tật bẩm sinh cho trẻ sơ sinh.
24
Dòng sông tràn ngập túi ni lông thuộc huyện Ứng Hòa
2. Đối với các sinh vật
Cá chết hàng loạt ở hồ Thiền Quang (quận Hai Bà Trưng – Hà Nội)
Tình trạng cá chết đã xuất hiện tại hồ Thiền Quang trong một tuần trở lại đây


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status