Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Ngô Mai Liên K33A – Ngữ Văn
5
MỞ ĐẦU
1.
Tầm quan trọng của đề tài
1.1. Cái phi lí là một thuật ngữ quan trọng của văn học và phê bình văn
học đương đại, nhằm chỉ tình trạng con người thoát li niềm tin nguyên thủy và
cơ sở tư duy siêu hình, sống cô đơn, vô nghĩa trong cái thế giới xa lạ hiện
hữu. Văn học phi lí là loại hình văn học độc đáo, ra đời trong giai đoạn xã hội
phương Tây rơi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng những năm đầu thế kỉ
XX. Văn học phi lí tuy phần lớn sử dụng phương pháp của chủ nghĩa biểu
hiện và chủ nghĩa hiện thực nhưng cơ sở triết học của nó là chủ nghĩa hiện
sinh, cho rằng con người bắt đầu từ hư vô và kết cục hư vô, cả cuộc đời là
một tồn tại khổ đau và phi lí. Văn học phi lí do đó cũng mang hình thức nghệ
thuật đầy mới lạ, khác hẳn với truyền thống quen thuộc.
Văn học nghệ thuật là địa hạt của sự sáng tạo. Từ sự quan sát đời sống
của văn học đương đại có thể thấy chưa bao giờ cá tính sáng tạo của nhà văn
và sự độc đáo, mới lạ của tác phẩm lại được đề cao như trong giai đoạn này.
Những đợt sóng cách tân, đổi mới diễn ra không có điểm dừng khiến
cho những sáng tạo, thể nghiệm của nhà văn luôn bị đặt trước nguy cơ “cũ
đi”, bị phủ nhận trong một sớm một chiều. Thậm chí, mỗi nhà văn cũng phải
luôn làm mới mình qua từng tác phẩm, như Aragông từng quan niệm: “Tôi
viết ra chỉ để nói ngược lại chính tôi”.
thuyết Thiên sứ. Qua đó, có thể khẳng định, cùng với sự xuất hiện của
Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh,… Phạm Thị Hoài đã đưa văn học đổi mới tiến
tới cao trào, tạo nên một bước ngoặt trong tiến trình văn học dân tộc.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Phạm Thị Hoài là một nhà văn không còn xa lạ với bạn đọc Việt Nam,
dù bà là một gương mặt xuất hiện chưa lâu trên văn đàn. Sáng tác đầu tay của
Phạm Thị Hoài là truyện ngắn Năm ngày trình làng năm 1986 trên báo Văn
nghệ. Tiếp đó là truyện Hành trình của những con số ra mắt độc giả tháng 10
Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Ngô Mai Liên K33A – Ngữ Văn
7
-1987 cũng trên báo Văn nghệ. Đến nay Phạm Thị Hoài đã in hai tập truyện
ngắn (Mê lộ - 1989, Man Nương - 1995); hai tiểu thuyết (Thiên sứ - 1988,
Marie Sến - 1996). Ngoài ra, bà còn viết một số tiểu luận văn học.
Các bài viết về tác phẩm của Phạm Thị Hoài nói chung và Thiên sứ nói
riêng chưa nhiều, chủ yếu là những bài được đăng tải trên các báo, tạp chí,
các website văn học. Trong cuốn Văn học phi lí, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn
Dân có chỉ ra một số ảnh hưởng của văn học phi lí phương Tây đối với sáng
tác của Phạm Thị Hoài và Nguyễn Việt Hà. Đó là nét tương đồng trong việc
phản ánh tình trạng tha hóa của con người. Tác giả viết: “Có một sự giống
nhau khá rõ về tình trạng tha hóa của nhân vật giữa Phạm Thị Hoài với Kafka
và Camus(…). Meursault, nhân vật chính trong Kẻ xa lạ của Camus là nhân
vật văn học hiện đại đầu tiên khước từ lối sống bầy đàn. Ở Phạm Thị Hoài
cũng có một thái độ khước từ như vậy.” [8 - tr.111].
Trong bài “Những dấu hiệu của chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học
Việt Nam qua sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài” [15], nhà
sống, để tồn tại, con người không thể không tìm cho mình một chiếc phao bảo
hiểm an toàn, đồng thời triệt tiêu những cá tính, nhất là những góc cạnh có
thể đâm thủng chiếc phao sinh mạng ấy.” [19 - tr.257].
Mai Hải Oanh trong chuyên luận “Những cách tân nghệ thuật trong
tiểu thuyết Việt Nam đương đại” (Nhà xuất bản Hội nhà văn, năm 2009) đã
chỉ ra nhiều sáng tạo của Phạm Thị Hoài thể hiện trong việc xây dựng cốt
truyện phân mảnh, kết cấu lắp ghép, giọng điệu giễu nhại và nghệ thuật xây
dựng nhân vật với thủ pháp huyền thoại hóa trong tiểu thuyết Thiên sứ. Tác
giả đã có nhiều khám phá tinh tế và sắc sảo. Tuy nhiên, tác giả vẫn chưa có sự
so sánh với văn học phi lí, bởi lẽ đó không phải mục đích chính của cuốn
chuyên luận.
Có thể thấy, các bài viết của các tác giả trên là những bài nghiên cứu
đầu tiên về các sáng tác của Phạm Thị Hoài, trong đó có tác phẩm Thiên sứ.
Nhìn chung các tác giả này chủ yếu tập trung vào phân tích, đánh giá một số
cách tân, đổi mới theo hướng hiện đại và hậu hiện đại trong tác phẩm, mà
chưa đi sâu vào việc nghiên cứu bình diện cái phi lí trong tác phẩm này. Vì
Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Ngô Mai Liên K33A – Ngữ Văn
9
thế, chúng tôi mạnh dạn triển khai nghiên cứu đề tài khóa luận “Dấu ấn cái
phi lí của văn học phương Tây trong tiểu thuyết Thiên sứ của Phạm Thị
Hoài” – một hướng nghiên cứu mới về tác phẩm dưới sự chỉ dẫn của lí thuyết
văn học so sánh ứng dụng.
3. Mục tiêu, nhiệm vụ của khóa luận
3.1. Mục tiêu của khóa luận
Khóa luận hướng đến mục tiêu tìm ra những dấu ấn, ảnh hưởng của văn học
5.2. Phương pháp phân tích đối tượng theo quan điểm hệ thống
5.3. Phương pháp phân tích tác phẩm và phân tích nhân vật
6. Đóng góp của khóa luận
6.1. Khái quát những nét cơ bản về quá trình hình thành và phát triển của
văn học phi lí. Trình bày một số ảnh hưởng cơ bản của văn học phi lí đối với
tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới.
6.2. Chỉ ra và phân tích những mặt cách tân sáng tạo của Phạm Thị Hoài
trong Thiên sứ, trên cơ sở so sánh và đối chiếu với sáng tác của Camus,
Kafka, Ionesco, …
7. Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của
khóa luận gồm có hai chương. Cụ thể là:
Chương 1: Khái quát về văn học phi lí và một số ảnh hưởng của văn
học phi lí đối với tiểu thuyết Việt Nam.
Chương 2: Dấu ấn cái phi lí của văn học phương Tây trong tiểu thuyết
Thiên sứ của Phạm Thị Hoài. NỘI DUNG
Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Ngô Mai Liên K33A – Ngữ Văn
11
Chương 1
Ngô Mai Liên K33A – Ngữ Văn
12
nhận thức cái riêng để chống lại việc nhận thức cái chung mà lí trí muốn
hướng tới. Họ đặt cái thực tiễn trước mắt, cái khả năng trực giác bột phát đối
lập với sự nhận thức thông qua tư duy, thông qua khái niệm và nhiều khi họ
đem cái quan điểm bi quan thay thế cho quan điểm lạc quan của chủ nghĩa
duy lí đối với một trật tự có hệ thống của thế giới và của sự tồn tại.
Sang giai đoạn chủ nghĩa hiện sinh, khái niệm triết học về cái phi lí có
một bước phát triển đặc biệt. Chủ nghĩa hiện sinh tạo ra giữa lí tính và thực tại
một vực sâu ngăn cách không thể vượt qua.
1.1.1.2. Khái niệm phi lí trong văn học
Nếu trong triết học có quan niệm cho rằng cái phi lí là con đẻ của tính
bất khả thi của lí tính thì qua thực tiễn sáng tác của mình, các nhà văn vẫn cố
gắng nhận thức cái phi lí. Iônexcô – nhà viết kịch nổi tiếng, một đại diện tiêu
biểu của văn học phi lí cho rằng: “Cái phi lí là sự tồn tại vô nghĩa của con
người, là sự suy giảm giá trị của mọi lí tưởng của con người, thường nhận
thấy được trong thế giới hiện đại.” [dẫn theo 8 – tr.22].
Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Dân cho rằng: “Khái niệm phi lí trong
văn học được dùng để chỉ loại hình văn học phi lí có nhiệm vụ nhận thức và
mô tả cái hiện thực vô nghĩa, phi lôgic, phi lí tính, trái với năng lực nhận thức
của con người.” [8 – tr.23]. Văn học phi lí là văn học phản ánh những hiện
tượng và sự việc trái với sự phát triển của tư duy lôgic thông thường, hoặc nói
đúng hơn là trái với lôgic nhân văn tiến bộ của loài người.
Như vậy, chúng ta có thể kết luận rằng mặc dù khái niệm phi lí nói
chung đã xuất hiện từ thời xa xưa nhưng khái niệm phi lí hiện đại mới chỉ
xuất hiện từ nửa đầu thế kỉ XIX với chủ nghĩa phi lí tính và sau đó là chủ
nghĩa hiện sinh và nó chỉ được thể hiện thành một loại hình văn học rõ rệt từ
đầu thế kỉ XX với người mở đường là Franz Kafka. Do đó, nói đến văn học
Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
trào phản nghệ thuật có gốc gác từ cuối thế kỉ XIX, được nở rộ ở đầu thế kỉ
XX và kéo dài tới những năm 50, 60 của thế kỉ XX. Trong phong trào phản
nghệ thuật có phản hội họa, phản sân khấu, phản thơ, phản tiểu thuyết,… và
Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Ngô Mai Liên K33A – Ngữ Văn
14
có cả văn học phi lí. Các nhà văn học phi lí không chỉ mô tả cái phi lí mà
quan trọng hơn là họ còn hành động để chống lại cái phi lí đó.
1.1.2.2. Quá trình phát triển và một số đại diện tiểu biểu của văn học phi lí
Văn học phi lí có những biểu hiện nghệ thuật khác nhau theo từng thời
điểm lịch sử, chủ yếu là trên hai loại thể tự sự và kịch. Trên mỗi chặng đường
phát triển lại có những đại diện tiêu biểu.
Văn học phi lí là một loại hình văn học được hình thành rõ rệt từ đầu
thế kỉ XX với người mở đường là Franz Kafka – nhà văn Tiệp Khắc gốc Do
Thái. Tuy nhiên, trước Kafka, Đôtxtôiepxki (1821 – 1881) cũng từng nói đến
cái phi lí thông qua nhân vật Ivan Karamazov: “Thế giới được dựa trên những
điều phi lí và không biết chuyện gì sẽ xảy ra nếu không có những điều phi lí
đó” (Anh em Karamazov) [dẫn theo 8 - tr.27]. Nhưng bản thân Đôtxtôiepxki
không khai thác đề tài cái phi lí. Phải đến Kafka thì văn học phi lí mới thực sự
ra đời.
Franz Kafka (1883 – 1924) sinh tại Praha (thủ đô của Tiệp Khắc) mất
tại thủ đô Viên của Áo do mắc bệnh lao phổi. Ông từ trần ở độ tuổi đang chín
muồi của tài năng. Ông để lại cho di sản văn học thế giới một số lượng sáng
tác không nhiều nhưng đó lại là một tài sản vô giá của văn học nhân loại.
Xét về mặt trào lưu, Kafka không hề đại diện cho một trào lưu nào song
người ta nhận thấy sự gần gũi của ông với chủ nghĩa biểu hiện đầu thế kỉ XX:
những tầng áp mái của các tòa nhà xa lạ mà chẳng bao giờ thấy hé mở một tia
hi vọng được gặp các vị quan tòa.
Chính anh chàng họa sĩ Titôreli đã nói: “Thực vậy, các quan tòa cấp
dưới, như các quan tòa chỗ bạn bè tôi, không có quyền tuyên bố tha hẳn; cái
quyền ấy thuộc về tòa án tối cao mà cả ông anh cả tôi, cả những người khác
nữa không ai với tới được. Những chuyện diễn ra trên đó, chúng ta chẳng biết
tí gì, và xin nói thêm, chúng ta chẳng muốn biết” [8 – tr.37]. Mọi người
không được biết và cũng không bắt buộc phải tin. Ông linh mục đã khẳng
định như vậy sau khi kể cho Josef K. nghe câu chuyện về anh chàng gác cửa
pháp luật: “Người ta không bắt buộc phải tin là đúng tất cả những điều hắn
nói, chỉ cần xem chúng là tất yếu, thế là được” [8 – tr.219]. Câu chuyện về
Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Ngô Mai Liên K33A – Ngữ Văn
16
anh chàng gác cửa pháp luật chính là sự đúc kết hoạt động của bộ máy quyền
lực của Vụ án, còn bác nông dân chờ đợi trước cửa pháp luật chính là hình
ảnh đúc kết về Josef K.
Pháp luật ngay từ đầu đã tỏ ra là một nhân vật phi lí vô hình và bất khả
tri, một loại nhân vật vắng mặt rất đặc trưng cho sáng tác của Kafka. Loại
nhân vật này thuộc thể giới bí hiểm, thế giới bất khả tương giao với con người
bình thường. Trong khi Josef K. không chịu được cái không khí ngột ngạt của
thế giới tòa án, thì, vì đã quen với cái không khí của thế giới ấy rồi, nên các
nhân viên của thế giới xa lạ đó lại không chấp nhận được cái không khí trong
lành của thế giới đời thường, chỉ cần mở cửa tiếp xúc với thế giới bên ngoài
vài phút là họ có nguy cơ bị ngất xỉu, như thể họ là những con người từ hành
tinh khác hay thậm chí có thể nói họ giống như những con cá nhốt trong bể
khác giống như những con đường tiệm cận với một vòng tròn bí ẩn, mất hút
trong sương mù. Đó là lâu đài, còn những người dân sống trong ngôi làng
dưới quyền cai trị của lâu đài thì cũng như là một thế giới xa lạ. K. càng tìm
hiểu thì càng lạc vào mê cung của một thế giới phi lí không thể nào hiểu nổi
và tồn tại ngoài ý muốn con người. Và cũng thật phi lí, càng lạc sâu vào thế
giới mê cung đó thì K. càng trở nên tha hóa, xa lạ với thế giới chẳng khác gì
chính bản thân tác giả của họ. Ở Kafka, cái phi lí là một đối tượng nhận thức
khách quan. Nhưng không phải đơn thuần là một hiện tượng xã hội mà nó có
liên quan và thậm chí chi phối vận mệnh của con người. Con người muốn tồn
tại phải luôn luôn đấu tranh để loại trừ nó. Vì thế mà Kafka đã xây dựng nên
thế giới huyền thoại để mô tả cái phi lí – đó là những thế giới không có địa
danh. Cái thành phố của Josef K. không có tên tuổi, tòa lâu đài và ngôi làng –
nơi anh nhân viên trắc địa K. được mời đến làm việc chỉ là một địa chỉ vô
danh. Cái phi lí của Kafka là những tấn bi kịch của con người hiện tồn trong
thế giới đương thời. Do đó mà kéo theo tâm trạng lo âu, sự lo lắng trước cuộc
sống đời thường. Kafka lo cho đồng loại, lo cho những con người bình
thường ở xung quanh ta. Đây là một trong những yếu tố làm cho văn học của
Kafka có ý nghĩa nhân đạo sâu sắc.
Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Ngô Mai Liên K33A – Ngữ Văn
18
Trong Vụ án, Lâu đài, cái phi lí đã hiển hiện thành một nhân vật chính
trong văn học hiện đại. Kafka thực sự trở thành người đầu tiên mở đường cho
văn học phi lí. Ở Kafka, cái phi lí là một thực thể tồn tại khách quan mà nhà
văn tuyệt vọng tìm hiểu suốt cuộc đời. Tiếp sau ông, Camus sẽ đóng góp cho
sự phát triển của văn học phi lí trên một bình diện khác: Bình diện chủ quan
khát vọng hạnh phúc chính đáng có một cái hố thẳm ngăn cách.
Làm một công việc vô ích và vô hi vọng như thế mà Xiziphơ vẫn làm.
Đó là điều phi lí. Xiziphơ suy tư việc anh làm chỉ có thế, anh phải lấy nó làm
vui. Anh ta thấy cái thế giới chật hẹp của anh ta là có ý nghĩa. Mỗi hạt bụi làm
nên hòn đá và trái núi đầy bóng tối kia phải là một thế giới đầy hấp dẫn với
anh ta. Việc làm tuy nhọc nhằn nhưng lại là một niềm vui. Hạnh phúc và cái
phi lí là hai đứa con cùng một mẹ. Cuộc đời vui sướng của Xiziphơ là ở chỗ
số phận của anh thuộc về chính anh khi tưởng chừng như anh ta hoàn toàn lệ
thuộc vào thần linh. Xiziphơ thách thức thần linh, khinh nhờn các thần linh,
yêu sự sống, ghét cái chết, Xiziphơ ham mê chính cuộc sống ấy. Camus viết:
“Thôi tôi cứ để cho Xixiphơ ở dưới chân núi! Ông vẫn sẽ luôn luôn tìm thấy
được tảng đá của mình. Nhưng Xixiphơ dạy cho ta tính trung thực cao thượng
có khả năng phủ nhận thần linh và nâng cao đá tảng. Cả ông ta cũng cho rằng
mọi cái đều tốt đẹp. Đối với ông, cái thế giới này từ nay không còn có chủ
nhân này chẳng tỏ ra cằn cỗi cũng chẳng tỏ ra tầm phào. Mỗi một viên đá,
mỗi một ánh sáng lấp lánh của quả núi ngập đầy bóng đêm ấy, tất cả đều làm
thành một thế giới chỉ dành riêng cho ông. Bản thân cuộc vật lộn để vần tảng
đá lên đỉnh núi cũng đủ làm viên mãn một trái tim con người. Cần phải hình
dung Xixiphơ là người hạnh phúc.” [8 – tr.261]
Ngoài di sản tiểu thuyết, Camus còn để lại một số vở kịch mang âm
hưởng phi lí. Kịch của ông dù mang tư tưởng phi lí nhưng nó không giống với
kịch phi lí sau này. Vì về mặt nghệ thuật, nó vẫn là loại kịch truyền thống, chỉ
có nội dung của nó là nằm trong mạch tư tưởng phi lí của nhà văn mà thôi. Nó
không sử dụng các thủ pháp huyền thoại và nghịch dị như các tác giả kịch phi
lí khác. Có thể nói kịch của Camus chỉ là một loại văn xuôi diễn giải về sự phi
Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Ngô Mai Liên K33A – Ngữ Văn
Ngô Mai Liên K33A – Ngữ Văn
21
mới để tiếp cận cái phi lí. Đó là thủ pháp nghịch dị, sử dụng yếu tố huyền
thoại, phá hủy ngôn ngữ.
Như vậy, văn học phi lí một loại hình văn học độc đáo của thế kỉ XX
với người mở đường tài ba là Kafka. Văn học phi lí tiếp tục phát triển lên một
đỉnh cao mới gắn với tên tuổi của Camus. Đây là hai nhà văn trụ cột của văn
xuôi phi lí. Khi văn xuôi phi lí phát triển đến đỉnh cao thì loại hình văn học
phi lí chuyển sang một địa hạt mới – địa hạt của kịch phi lí và sân khấu. Đại
diện xuất sắc nhất là hai nhà viết kịch Iônexcô và Bêcket. Sau hai đại diện
tiêu biểu này, một số tác giả khác cũng có đóng góp ít nhiều cho kịch phi lí:
Max Frisch (nhà văn Thụy Sĩ , 1911 -1991), Adamov, Harold Pinter (nhà soạn
kịch người Anh)… Tuy nhiên đến giai đoạn này thì văn học phi lí gần như
lắng lại, chỉ còn vang vọng những dư âm.
1.1.2.3. Đóng góp của văn học phi lí đối với văn học nhân loại
1.1.2.3.1. Đóng góp về nhận thức
Đầu thế kỉ XX, do ảnh hưởng của những cuộc khủng hoảng xã hội
gay gắt và ảnh hưởng của chủ nghĩa phi lí tính, vấn đề có tồn tại hay không
tồn tại cái phi lí trong đời sống đã trở thành một câu hỏi được nhiều người
quan tâm. Do đó, cái phi lí đã trở thành một đối tượng nhận thức chủ yếu của
các nhà văn. Một số nhà văn đã trở thành nhà triết học và tư tưởng của họ thể
hiện qua các sáng tác đã đóng góp giá trị nhận thức cho triết học về cái phi lí.
Có quan niệm cho rằng những gì tồn tại trái với những qui tắc lôgic thông
thường đều bị coi là cái phi lí. Nhưng thực tế cho thấy cái phi lí có một tính
chất rất tương đối, vì không thể có các qui tắc lôgic chung cho mọi lĩnh vực,
mà mỗi lĩnh vực lại có một lôgic riêng của nó. Do đó, một vật tỏ ra là phi lí
giải quyết vấn đề. Đây chính là sự tiến bộ vượt bậc của ông so với Kafka.
Camus cũng là trường hợp điển hình văn học của chủ nghĩa hiện sinh. Ở ông,
cái phi lí được lĩnh hội sâu sắc trong ý thức chủ quan của con người. Trong
quan điểm của chủ nghĩa hiện sinh, sự tồn tại (hay là cái hiện sinh) không còn
là một thực tại khách quan, độc lập với ý thức, mà nó gắn liền rất chặt chẽ với
tính chủ quan, với ý thức và phương thức tồn tại của con người. Trong khi đó,
ở Kafka cái phi lí vẫn nằm ngoài ý thức con người. Chính vì vậy mà Kafka
Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Ngô Mai Liên K33A – Ngữ Văn
23
chỉ là người mở đường cho văn học hiện sinh về việc khai thác mảng đề tài
phi lí chứ ông không phải là nhà văn hiện simh chủ nghĩa như có người quan
niệm. Tính khách quan của Kafka và tính chủ quan của chủ nghĩa hiện sinh là
hai yếu tố căn bản để ta phân biệt Kafka với chủ nghĩa hiện sinh. Như vậy có
thể thấy rằng trong văn học hiện sinh chủ nghĩa có văn học phi lí, nhưng văn
học phi lí không phải chỉ là văn học hiện sinh chủ nghĩa. Tức là văn học phi lí
và văn học hiện sinh chủ nghĩa có một sự chồng lấn lên nhau chứ không trùng
khít với nhau.
Cái phi lí trong văn học phương Tây dù là của Kafka hay của Camus
đều không phải là cái phi lí siêu hình mà nó có nguồn gốc trong thực tế cuộc
sống của xã hội phương Tây. Đây chính là nguồn gốc và cũng là đối tượng
nhận thức của văn học phi lí.
Tóm lại, cái phi lí thực sự có tồn tại trong đời sống con người. Đến giai
đoạn khủng hoảng của xã hội thì nó bộc lộ rõ ràng nhất, tác động trước hết
đến văn học và các nhà văn là người phát ngôn. Đây chính là đóng góp về mặt
nhận thức của văn học phi lí.
nhân vật vắng mặt. Trong thử gửi người bạn gái Milena, Kafka đã viết: “Anh
luôn cố gắng tìm cách thông báo cái không thể thông báo, lí giải cái không
thể lí giải” [dẫn theo 8 - tr.90]. Trong Vụ án, đại diện pháp luật là những nhân
vật hoàn toàn vắng mặt, nhưng dưới ngòi bút của tác giả, chúng hiện ra mờ ảo
như một bóng ma bao trùm lên toàn bộ tác phẩm, chi phối lối sống của các
nhân vật.
Cùng với thủ pháp mô tả nhân vật vắng mặt là môtip mê cung. Nhân
vật trong tác phẩm thường tồn tại trong một mê cung phức tạp, luẩn quẩn,
không xác định đích cần tới. Đoc Vụ án, ta thấy hiện lên một thế giới mê cung
với những dãy hành lang dẫn đến căn phòng xử án vô hình.
Để mô tả cái vô hình, Kafka còn dùng thủ pháp huyền thoại hóa.
Không gian, thời gian đều là những yếu tố phi xác định. Sự việc trong Vụ án,
Lâu đài diễn ra tại một nơi không có địa danh và trong một thời gian không
xác định. Thủ pháp huyền thoại hóa còn được thể hiện ở đặc điểm nhân vật
trong tác phẩm là nhân vật vô danh – những nhân vật không tên. Trong sáng
Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Ngô Mai Liên K33A – Ngữ Văn
25
tác của Kafka, những cái tên Josef K. hay K. chỉ là những chữ cái phi xác
định và tác giả cũng chỉ dùng một chữ cái viết tắt cho cả hai nhân vật.
Vì thế, không gian mà sự việc diễn ra thường là không gian vô danh,
mang tính sơ lược khép kín, phù hợp với tâm trạng tù túng, cách li của con
người khỏi cộng đồng.
Ở Camus, thủ pháp nổi bật là thủ pháp hành vi luận lạnh lùng. Thủ
pháp này làm bộc lộ một thái độ bàng quan, xa lánh cuộc đời tẻ nhạt, vô vị và
phi lí. Ngoài ra, Camus chỉ để nhân vật thể hiện qua hành vi chứ không được
nhưng nó vẫn có những ảnh hưởng nhất định đến văn đàn thế giới nói chung
và tiểu thuyết Việt Nam nói riêng. Chúng ta có thể thấy bóng dáng của văn
học phi lí xuất hiện khá nhiều trong các tiểu thuyết Việt Nam đương đại
chẳng hạn như trong tiểu thuyết của Tạ Duy Anh, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn
Bình Phương và tất nhiên là ở Phạm Thị Hoài,… Việc tiếp thu tinh hoa văn
học phi lí vào sáng tác của các nhà văn nói trên bắt nguồn từ nhiều nguyên
nhân khác nhau.
Đầu tiên là do những đổi thay trong cấu trúc xã hội Việt Nam đặc biệt
là từ sau năm 1986. Đây là thời kì đất nước ta đang trong giai đoạn quá độ lên
chủ nghĩa xã hội, còn rất nhiều khó khăn và thử thách. Chiến tranh lùi vào quá
khứ, con người bắt tay xây dựng một cuộc sống mới. Chúng ta có thời gian để
nhận ra những mất mát quá lớn đằng sau những chiến công vang dội của một
thời huy hoàng vừa mới trôi qua. Con người cũng dần thấy được bao nỗi đau
mới trong thời bình. Đó là sự cô đơn, tha hóa, cạn kiệt tình yêu thương, cạn
kiệt cảm xúc trước đời sống thực dụng, chạy theo tiền tài và danh vọng hư vô.
Con người đánh mất bản thân mình, chỉ còn là những cái máy vô cảm. Trước
hiện thực xã hội ấy, nhà văn với cái nhìn tinh tế, trái tim nhạy cảm đã có
những cảm quan mới về sự thay đổi trong bề sâu của đời sống con người.
Nguồn cảm hứng ngợi ca, hào hùng mang đậm tính sử thi của một thời chiến
tranh oanh liệt đã được thay thế bằng những cảm hứng mới đậm chất đời
thường. Đó là nỗi lo âu về cuộc sống quá nhiều sự xô bồ, hỗn loạn; những giá
trị tinh thần dần dần bị bào mòn; lối sống công nghiệp với nhiều mặt tiêu
Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Ngô Mai Liên K33A – Ngữ Văn
27
cực… Nhà văn cảm nhận thấy sự lo âu, nỗi cô đơn, khắc khoải đè nặng lên
Ngô Mai Liên K33A – Ngữ Văn
28
sáng tạo, vận dụng linh hoạt chính là một hướng đi độc đáo nhằm vươn tới
chân trời văn học mới của các nhà văn đương đại. Đến với những dư âm của
văn học phi lí, các văn sĩ có thể thả sức mình trong những tìm tòi, cách tân rất
mới mẻ trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật.
Với những lí do đó, văn học phi lí đã để lại nhiều dấu ấn trong tiểu
thuyết Việt Nam đương đại như một lẽ tự nhiên.
Đọc Thiên thần sám hối của Tạ Duy Anh, chúng ta cũng bắt gặp bóng
dáng của văn học phi lí, đặc biệt là trên phương diện nghệ thuật. Tiểu thuyết
này đã sử dụng thành công các yếu tố huyền thoại để biểu đạt cái nhìn của
nhà văn về thế giới hiện đại. Tác giả đã tái hiện sự bi đát của cuộc đời qua
cảm nhận của đứa trẻ chưa kịp chào đời. Chứng kiến những câu chuyện giữa
các bà mẹ với nhau, giữa những người hộ lí với những người vào viện, giữa
những bà mẹ chờ đợi đứa con ra đời và những người quyết định bỏ đi giọt
máu của mình vì nhiều lí do, đứa trẻ nhận ra sự suy kiệt và khô cạn nhân tính
không còn là một hiện tượng cá biệt mà đã trở thành một hiện tượng phổ biến.
Đứa trẻ băn khoăn không hiểu mình có nên ra đời hay ở mãi trong bụng mẹ.
Cuối cùng, cậu cũng quyết định ra đời sống chung với cái thế giới phi lí và
đáng chán kia. Tác phẩm giống như một vở kịch được tạo nên từ nhiều màn,
mỗi màn kịch là một sự kiện không theo quan hệ lôgic, nhân quả. Tất cả là
những mảnh văn bản rời rạc, phản ánh những mảnh đời sống khác nhau.
Chúng ta có thể xáo trộn những mảnh sự kiện này mà không làm ảnh hưởng
nhiều đến lôgic tác phẩm. Qua những mảnh cốt truyện đó, Tạ Duy Anh cho ta
thấy được sự tha hóa xuống cấp của con người trong xã hội hiện đại, thấy
được cái chết đau đớn của những sinh linh chưa được làm người.
Không chỉ ở Thiên thần sám hối chúng ta mới thấy bóng dáng của văn
học phi lí. Đến với Cơ hội của Chúa của Nguyễn Việt Hà, độc giả cũng thấy
hơi hướng quan điểm của văn học phi lí. Cơ hội của Chúa là cuốn tiểu thuyết
“Chuyện”; “Phụ chú”. Phần một tác giả đặt tên là “Tiểu sử” nhưng cách viết
lại hoàn toàn phi tiểu sử. Phần hai là “Chuyện” kể về chuyện con cú và
chuyện về cuộc đời Tính – một con người điên loạn sống hoàn toàn theo bản
năng. Hai mạch truyện chạy song song, độc lập, không liên quan với nhau