Báo cáo nghiên cứu
khoa học:
"Điểm nhìn văn hoá
trong tiểu thuyết lịch
sử của Nguyễn Xuân
Khánh"
trờng Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVIIi, số 1b-2009 57
Điểm nhìn văn hoá trong tiểu thuyết lịch sử
của Nguyễn Xuân Khánh
Ngô Thị Quỳnh Nga
(a)
Tóm tắt. Khai thác lịch sử từ điểm nhìn văn hoá dân tộc là một hớng tìm tòi
mới, đem lại thành công cho nhiều nhà văn viết về đề tài lịch sử sau năm 1975, đặc
biệt là nhà văn Nguyễn Xuân Khánh. Bài viết góp phần chỉ ra hớng vận động của
thể loại tiểu thuyết lịch sử Việt Nam, sự nỗ lực sáng tạo và những đóng góp của
Nguyễn Xuân Khánh cũng nh các nhà văn sau 1975 cho thể loại tiểu thuyết lịch sử
Xuân Khánh nhìn nhận, đánh giá dựa
trên bối cảnh rộng của văn hoá Việt trở
nên sống động và đầy sức thuyết phục.
2. Trớc năm 1975, tiểu thuyết lịch
sử thờng quan tâm khai thác các sự
kiện, biến cố lịch sử nhằm dựng lại
không khí hào hùng của một thời, mang
đến cho ngời đọc niềm tự hào, tự tôn
về truyền thống dân tộc. Các nhà văn
thời kì này thờng nhìn lịch sử dới góc
độ của một sử gia. Các tác giả Nguyễn
Tử Siêu, Nguyễn Triệu Luật, Phan
Trần Chúc, Nguyễn Huy Tởng đều
cố gắng mô phỏng một cách chân thực
những bức tranh lịch sử hào hùng của
dân tộc theo quan điểm chính sử. Trong
những bức tranh ấy có cả những cảnh
sắc thiên nhiên, cuộc sống con ngời,
nhng chỉ nhằm để nói lên tinh thần
cộng đồng, dân tộc. Bởi vậy, đó là bức
tranh đơn điệu, một chiều, chỉ ghi lại
đợc những sự cố và những xác chết
biên niên u lì [1]. Viết tiểu thuyết lịch
sử, Nguyễn Xuân Khánh không chỉ
dựng lại không khí lịch sử từ những
biến cố, sự kiện lớn lao mà chú ý soi rọi
lịch sử từ nhiều góc nhìn, đặc biệt là góc
nhìn văn hoá. Ông đã thể hiện trong tác
phẩm của mình một vốn hiểu biết sâu
rộng về văn hoá, đa ngời đọc sống lại
hai bên đờng. [3, tr. 17 ]. Hội thề Đốn
Sơn - một ngày lễ lớn ở Tây Đô cũng
đợc miêu tả bằng cái nhìn cận cảnh:
Tây Đô tng bừng náo nhiệt. Suốt dọc
đờng lát đá từ cửa Nam đến núi Đún
đợc cắm đầy những lá cờ ngũ sắc. Chót
vót trên đỉnh Đốn Sơn treo một lá cờ
trên thêu hai chữ Đại Việt rất to, lá cờ
đậu hình vuông nhiều màu [3, tr. 785].
Tiểu thuyết Mẫu thợng ngàn lại hấp
dẫn ngời đọc bởi không gian văn hoá
nhiều màu sắc, thấm đẫm không khí
huyền thoại. Ngời đọc nh đợc sống
lại khung cảnh làng quê Bắc Bộ những
năm cuối thế kỉ XIX với những lễ hội
thần bí nh hội Kẻ Đình, hội rớc ông
Đùng, bà Đà. Đặc biệt có những lễ hội
từ xa xa, nay không còn nữa đã đợc
tác giả miêu tả lại bằng những nét rất
riêng, đẹp nh những trang cổ tích và
đầy tính nhân văn nh lễ hội trải ổ
cho phép trai gái yêu nhau dù cha
cới xin đợc phép tạo một cái ổ thơm
tho, êm ái cho cuộc yêu đơng của mình,
trong một hang đá hay một vòm cây nào
đó ở trong rừng, cạnh núi Đùng [4, tr.
725]. Những lễ hội này đã phản ánh sự
phong phú trong đời sống tinh thần của
ngời dân Việt Nam.
Mỗi địa danh trong tác phẩm đều là
du Bắc Bộ nh sở thích pha trà bằng
nớc ma hứng mo cau (Hồ Quý Ly),
đặc sản chè Hồng Mai (Mẫu thợng
ngàn). Đặc biệt, thú chơi hoa mai với
bữa tiệc Đại Mai đã trở thành một nét
văn hoá độc đáo.
ở
bữa tiệc này cả hai
phe đối lập đều đến dự ngời ta nghĩ
nhờ chén rợu sẽ tìm thấy một điều gì
đó. Nhng rốt cuộc chẳng ai thấy điều
gì khác lạ cả, ngoài một điều mà mọi
ngời đều cảm nhận: chủ nhân là ngời
tinh tế, niềm nở, và rợu lão mai quả
thật ngon, quả thật độc đáo [3, tr.
315]. Vẻ đẹp văn hoá Việt ẩn trong cả
những nét đẹp bình dị, thôn dã của
những hồ hoa sen, hoa súng hay trong
nét vẽ trên chiếc chậu đồng hoa mai
trờng Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVIIi, số 1b-2009 59
Với sự công phu, tỉ mỉ trong việc su
tầm những cứ liệu về văn hoá, Nguyễn
Xuân Khánh đã làm cho mỗi trang văn
Trùng Quang tâm sử của Phan Bội
Châu đều mang vẻ đẹp hùng tráng đầy
nghĩa khí Bên cạnh đó, các nhân vật
gian hùng đợc đánh giá theo quan
điểm chính sử. Đó phải là con ngời xấu
xa, tàn bạo. Trong tác phẩm Cái hột
mận, Lan Khai tố cáo tội ác tàn bạo
của tên vua Ngọa Triều hành hạ nhà
s. Trong Đêm hội Long Trì Nguyễn
Huy Tởng đã dùng bút pháp h cấu,
phóng đại tính cách dâm đãng của
Đặng Mậu Lân để thể hiện thái độ căm
ghét cao độ của mình Nhà văn vô tình
đã biến những nhân vật này thành
những hình nộm lịch sử, là những con
ngời đã hoàn tất ở thì quá khứ. Với
cách nhìn đó, tiểu thuyết lịch sử nớc ta
trong thời gian dài đã tạo nên một hệ
thống nhân vật đơn tuyến, không tránh
khỏi những đánh giá phiến diện, một
chiều về quá khứ. Sau 1975, đặc biệt là
sau đổi mới, nhận thức của con ngời về
lịch sử đã có những bớc tiến, đòi hỏi
văn xuôi viết về đề tài lịch sử cũng cần
có sự thay đổi. Khắc phục nhợc điểm
của văn học truyền thống, Nguyễn
Xuân Khánh đã đặt nhân vật trong
điểm nhìn bao quát hơn - trong bối cảnh
rộng của văn hoá Việt, để thấy hành
động của họ có ý nghĩa gì đối với sự
60
dẫm chân tại chỗ bao giờ cũng cần có
đổi mới, cải cách. Vào giai đoạn cuối
Trần, yêu cầu đổi mới lại càng bức thiết
hơn. Nhà Trần từng đem lại cho đất
nớc những năm thanh bình, thịnh
vợng, những chiến thắng hiển hách,
nhng đến giai đoạn cuối, triều chính
rối ren, nhân dân đói khổ, lầm than,
loạn lạc liên miên, giặc bên ngoài quấy
nhiễu. Trong lúc ấy, những ngời tâm
đức đã không đa ra đợc kế sách gì để
vực đất nớc ra khỏi hoàn cảnh khó
khăn. Trần Nguyên Đán, cụ S Tề, đạo
sĩ Thanh H chọn lối sống gắn bó với cỏ
cây, suối rừng, xa rời chính sự. Những
ngời tài năng nh Trần Khát Chân lại
bị t tởng trung quân níu kéo, không
thể thoát ra để làm cuộc cách mạng.
Còn phần đông nhân dân thì thân phận
nhỏ bé không có lối thoát nào khác.
Nghe Hồ Quý Ly nói đến việc cần chỉnh
đốn, thay đổi đất nớc, Nghệ Tôn hiểu
nhng Ông không muốn làm, ông sợ
nhiễu sự. Ông muốn mọi việc cứ đợc
giải quyết theo nề nếp tổ tông [3, tr.
127]. Trong hoàn cảnh đất nớc mục
sáng. Ông đã nhận đợc sự hởng ứng
của ngời con trai Hán Thơng, Nguyễn
Cẩn và của cả vua Nghệ Tôn. Nhng
ông cũng bị phản đối kịch liệt bởi trong
sách Minh Đạo ông đã phê phán Khổng
Tử ở sự kém minh mẫn [3, tr. 478];
Chu, Trình là những con ngời viển
vông, không nghĩ đến việc đời [3, tr.
478]. Sự phê phán của ông cha hẳn đã
hoàn toàn thỏa đáng nhng nó cho thấy
ông là ngời nhiệt tình đổi mới, thực
tâm muốn tạo nên những đột phá trong
xã hội, xây dựng đất nớc mang bản sắc
riêng, không học tập ngời xa một
cách máy móc. Văn hóa Việt phải tự tạo
ra bản sắc riêng, không thể chỉ hởng
thành quả của ngời khác. T tởng
này của ông hơn hẳn các nhà nho cùng
thời. Điều này thật đáng trân trọng.
Hình tợng Hồ Quý Ly còn đặt ra cho
ngời đọc nhiều suy nghĩ về hiện thực
đất nớc. Chúng ta cần có những ngời
tiên phong đổi mới, dám nghĩ, dám làm
nh Hồ Quý Ly để đa đất nớc thoát
khỏi những khó khăn chồng chất sau
chiến tranh. Nhng đổi mới nh thế
nào lại là vấn đề không dễ.
Với tiểu thuyết Mẫu thợng ngàn
Nguyễn Xuân Khánh đã đặt văn hoá
Việt trong một tình huống gay cấn
thực dân, lễ hội Thánh Mẫu vẫn diễn ra
tng bừng, náo nhiệt, hiên ngang nh
một sự thách thức. Sự xâm thực của lối
sống phơng Tây không làm mất đi
những phong tục, tập quán có từ ngàn
đời của ngời dân đồng bằng Bắc Bộ.
Con ngời ở đây vẫn giữ đợc cốt cách,
tâm hồn Việt. Cô Mùi vẫn không từ bỏ
niềm ham thích ngồi đồng mặc cho
chồng cô - ông chủ đồn điền Phillipe
Messmer khó chịu; cụ đồ Tiết vẫn giữ
thói quen pha trà bằng nớc ma hứng
mo cau Những ngời nh bà Tổ Cô, cụ
đồ Tiết, cô Mùi và nhân dân làng Cổ
Đình đã góp phần gìn giữ, nuôi dỡng,
tạo nên bề dày của văn hóa Việt. Đặt
văn hóa Việt trong hoàn cảnh đặc biệt,
Nguyễn Xuân Khánh đã góp phần lý
giải một cách thuyết phục những chiến
thắng vang dội của dân tộc ta trong các
cuộc chiến tranh chống đế quốc xâm
lợc. Chính nội lực văn hóa dân tộc đã
chiến thắng những vũ khí hiện đại,
chinh phục cả những ngời Pháp sang
Việt Nam với mục đích khai phá: Tôi
là thứ chiên lạc loài. Tôi đến từ xứ này.
Tôi ở lại đây. Sở dĩ thế vì tôi thấy nó
đẹp. Tôi bị cuốn hút bởi cái đẹp mê hồn
của xứ nhiệt đới. Và tôi muốn tôn vinh
cái đẹp phơng Đông ấy [4, tr. 429].
là để hiểu chính bản chất cuộc sống.
Quan sát lịch sử từ điểm nhìn văn hóa
đã tạo cho tiểu thuyết lịch sử của
Nguyễn Xuân Khánh một nét riêng,
hấp dẫn, lôi cuốn ngời đọc. Hớng khai
thác lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh
cũng là hớng đi đang đợc nhiều tác
giả lựa chọn. Chính hớng tìm tòi này
đã đem lại cho tiểu thuyết lịch sử Việt
Nam sau năm 1975 những khởi sắc
mới, chứng tỏ sự chuyển hớng đúng
đắn của các nhà văn viết về đề tài lịch
sử trong bối cảnh đổi mới văn xuôi hiện nay.
Ngô Thị Quỳnh Nga Điểm nhìn văn hoá trong tiểu thuyết , tr. 57-62 62
Tài liệu tham khảo
[1] Nam Dao, Lời ngỏ, Tiểu thuyết Gió lửa, .
[2] Phan Trần Chúc, Vua Quang Trung, NXB Văn hoá thông tin, 2000.
[3] Nguyễn Xuân Khánh, Hồ Quý Ly, NXB Phụ Nữ, Hà Nội, 2002.
[4] Nguyễn Xuân Khánh, Mẫu thợng ngàn, NXB Phụ Nữ, Hà Nội, 2006.
[5] Nguyên Ngọc, Mẫu thợng ngàn: một cuốn tiểu thuyết thật hay về văn hoá Việt,
.
[6] Phạm Hồ Thu, Mẫu thợng ngàn - Bài ca về vẻ đẹp Việt, .