-
5
RỐI LOẠN ĐIỆN GIẢI TRONG HỘI CHỨNG THẬN HƯ
Lê Văn An
Trường Đại học Y khoa, Đại học Huế
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Rối loạn điện giải trong hội chứng thận hư (HCTH) là thường gặp và luôn
ở mức rối loạn cao. Rối loạn nước và điện giải trong hội chứng thận hư ngày
càng được hiểu rõ hơn và có thể gây nên nhiều biểu hiện phức tạp trong điều trị
cũng như tham gia vào các biến chứng khác. Rối loạn nước và điện giải là hậu
quả của mất protein qua nước tiểu, đồng thời vừa do rối loạn hệ thống nội tiết. Vì
vậy, trong hội chứng thận hư tình trạng phù trên lâm sàng càng nhiều thì khả
năng rối loạn điện giải càng cao.
Song việc quan tâm đến tình trạng rối loạn điện giải trong điều trị hội
chứng thận hư chưa được đề cập nhiều, trong khi đó, vấn đề rối loạn là ngày càng
được khẳng định rõ ràng. Xuất phát từ vấn đề nêu trên chúng tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài này nhằm mục đích:
Tìm hiểu sự thay đổi điện giải và mối liên quan giữa rối loạn điện giải và
các biểu hiện lâm sàng ở hội chứng thận hư.
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
-
6
2.1. Đối tượng:
Chúng tôi chọn ngẫu nhiên những bệnh nhân HCTH, nhập viện tại khoa
nội thận từ tháng 2/1999 đến tháng 2 năm 2001. Tuổi từ 16 trở lên được chẩn
đoán HCTH dựa theo tiêu chuẩn của Đặng Văn Chung [1].
Tiêu chuẩn loại trừ: loại bỏ những bệnh nhân HCTH có kèm theo một
Bảng 2: Kết quả số lượng nước tiểu của nhóm nghiên cứu
Nước tiểu (ml/24h) < 100 100 - 500 > 500
Số lượng 2 14 24
Tỷ lệ % 5 35 60
Nước tiểu trung bình 710 337 ml/24h, có 2 trường hợp nước tiểu <100 ml/24h.
3.3. Biểu hiện rối loạn điện giải trên lâm sàng.
Bảng 3: Các biểu hiện rối loạn điện giải trên lâm sàng
Biểu hiện Phù Co rút tay
chân
Mệt mỏi
Số lượng 40 12 28
Tỷ lê % 100,00 30,00 70,00
100% bệnh nhân biểu hiện phù, đa số là phù toàn.
30% có biểu hiện chuột rút hoặc có biểu hiện tê chân tay
-
9
70% trường hợp có biểu hiện mệt mỏi, chậm chạp hoặc nhức đầu và buồn
nôn.
3.4. Protid máu:
Bảng 4: Kết quả protid máu của nhóm nghiên cứu
Protid máu (gam/l) > 60 40 - 60 < 40
Số lượng 0 18 22
Tỷ lệ (%) 0 45 55
Trung bình: 41,5 7,2 g/l, cao nhất 59 g/l và thấp nhất 27 g/l
3.4. Rối loạn điện giải.:
Bảng 5: Kết quả điện giải trong hội chứng thận hư
hiện tượng phù gây nên. Trong những trường hợp HCTH càng phù nhiều thì hiện
tượng rối loạn điện giải càng cao, đặc biệt là giảm natri máu. Sự giảm natri máu
chủ yếu là do hiện tượng pha loãng. Trong HCTH Na
+
, Cl
-
, Ca
++
là giảm, còn K
+
thường thì không thay đổi hoặc là giảm, nhưng có thể tăng trong trường hợp khi
có giảm chức năng thận. Trong nước tiểu đều cho thấy cả Na
+
và K
+
đều giảm
nhưng Na
+
giảm nhiều hơn K
+
. Giảm canxi máu toàn bộ trong HCTH được ghi
nhận do mất protein ra nước tiểu cũng như giảm hấp thu canxi ở ruột. Người ta
thấy có hiện tượng tăng đáp ứng của hormon cận giáp trong thận hư và có sự
-
11
giảm nồng độ của 25(OH)D
3
; 1,25(OH)
2
6. KếT LUậN
Qua nghiên cứu về rối loạn điện giải ở bệnh nhân bị hội chứng thận hư
chúng tôi xin đưa ra một số kết luận sau:
- Về lâm sàng: 100% bệnh nhân đều có phù và tiểu ít.
-
12
- 100% bệnh nhân đều có biểu hiện về rối loạn điện giải trên lâm sàng
như: cơ thể mệt mỏi, chậm chạp, chán ăn buồn nôn hoặc co rút chân tay.
- Về xét nghiệm: 100% bệnh nhân có nồng độ Na
+
và 95% Ca
++
máu thấp.
- Biểu hiện lâm sàng phù càng nhiều thì rối loạn điện giải càng cao.
Vì vậy, trong quá trình điều trị hội chứng thận hư, ngoài sử dụng các
thuốc điều trị theo cơ chế bệnh sinh chúng ta cần quan tâm đến vấn đề rối loạn
điện giải, nhất là những trường hợp có rối loạn điện giải cao.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đặng Văn Chung. Bệnh học nội khoa, Nhà xuất bản Y học, (1976)
12
2. Barjon - P. Syndrome Néphrotique. Néphrologie (1991) 287 - 305.
3. William G. Couser. Glomerular disorders. Cecil textbook of
medicine W.B. Sanders company. Philadelphia (1988) 582 - 602.
4. Robert H. Heptinstall, M.D. The nephrotic syndrome. Pathology of
the kidney (1999) 650 - 654.
-
13
TÓM TẮT