Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan phân môn luyện từ và câu lớp 4 - Pdf 29

1 Họ và tên: TRẦN THỊ YẾN NGA
Lớp: A
Khoá: 33
Tên đề tài: “
XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM
KHÁCH QUAN PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU LỚP 4”

GV hướng dẫn:

TH.S LÊ THỊ LAN ANH 2Lời cảm ơn
Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu khóa luận này tôi không khỏi lúng
túng và bỡ ngỡ. Nhưng dưới sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của ThS. Lê Thị Lan
Anh, tôi đã từng bước tiến hành và hoàn thành khóa luận với đề tài “Xây dựng hệ
thống bài tập trắc nghiệm khách quan phân môn Luyện từ và câu lớp 4”.
Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô Lê Thị Lan Anh và các
thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Tiểu học đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn

TV
: Giáo viên
: Học sinh
: Luyện từ và câu
: Sách giáo khoa
: Sách giáo viên
: Trắc nghiệm khách quan
: Tiếng Việt 5

Mục lục

Trang
MỞ ĐẦU 5
Lí do chọn đề tài 8
Lịch sử vấn đề 11
Mục đích nghiên cứu đề tài 11
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài 11
Các nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 11
Giả thuyết khoa học 11
Các phương pháp nghiên cứu 11
NỘI DUNG 12
Chương 1. Cơ sở lí luận 12
Cơ sở giáo dục 12
Cơ sở tâm lí 13
Vài nét về trắc nghiệm khách quan 15
Vài nét về dạy học phân môn Luyện từ và câu môn Tiếng Việt 4 30
Chương trình phân môn Luyện từ và câu lớp 4 33

người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành,
lòng say mê học tập và ý chí vươn lên” (Chương 1, điều 5).
Do đó, ở tất cả các ngành nghề hiện nay đều có sự đổi mới để phù hợp
với yêu cầu của sự phát triển xã hội. Trong xu thế đó, sự đổi mới về phương
pháp dạy học đang được coi là vấn đề cấp thiết, mang tính chất thời đại, thu
hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, các nhà quản lý giáo dục cũng như
các giáo viên trực tiếp đứng lớp. Đổi mới phương pháp dạy học tức là phải
biết kết hợp hài hòa, vận dụng linh hoạt các ưu điểm của phương pháp dạy
học trong từng tình huống cụ thể nhất là việc kết hợp phương pháp dạy,
phương háp dạy học truyền thống và hiện đại.
7

Giáo dục tiểu học là bậc học nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Mục tiêu của giáo dục tiểu học là “giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu
cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các
kĩ năng cơ bản, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ
nghĩa, bước đầu xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học
sinh tiếp tục học trung học cơ sở” (theo Điều 23 Luật Giáo dục – 1998). Vậy
giáo dục tiểu học đã trang bị những cơ sở ban đầu quan trọng nhất của người
công dân, người lao động tương lai. Đó là những con người phát triển toàn diện
có trí thức, có tay nghề, có năng lực thực hành tự chủ, sáng tạo.
Cùng với các môn học khác, môn Tiếng Việt là một môn học trung
tâm, quan trọng, chiếm nhiều thời lượng và nó có tính tích hợp cao. Môn
Tiếng Việt ở trường tiểu học nhằm mục tiêu hình thành và phát triển ở học
sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao
tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi từ đó góp phần rèn luyện các
thao tác tư duy. Môn Tiếng Việt còn cung cấp cho học sinh những kiến thức
sơ giản về Tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con
người, về văn hóa, văn học của Việt Nam và nước ngoài để từ đó bồi dưỡng
tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp

miền nên cần có sự biên soạn theo cách nghĩ riêng của người sử dụng.
Vì những lí do trên, chúng tôi đã quyết định chọn đề tài: “Xây dựng hệ
thống bài tập trắc nghiệm khách quan phân môn Luyện từ và câu lớp 4.” 9

2. Lịch sử vấn đề
2.1.Trên thế giới
Các phương pháp trắc nghiệm đo lường thành quả học tập đầu tiên được
tiến hành vào thế kỷ XVII - XVIII tại Châu Âu. Sang thế kỉ XIX đầu thể kỉ XX,
các phương pháp trắc nghiệm đo lường thành quả học tập đã được chú ý.
Năm 1904 nhà tâm lí học người Pháp - Alfred Binet trong quá trình nghiên
cứu trẻ em mắc bệnh tâm thần, đã xây dựng một số bài trắc nghiệm về trí thông
minh. Năm 1916, Lewis Terman đã dịch và soạn các bài trắc nghiệm này ra tiếng
Anh từ đó trắc nghiệm trí thông minh được gọi là trắc nghiệm Stanford - Binet.
Vào đầu thế kỷ XX, E. Thorm Dike là người đầu tiên đã dùng TNKQ
như là phương pháp "khách quan và nhanh chóng" để đo trình độ học sinh,
bắt đầu dùng với môn số học và sau đó là một số môn khác.
Trong những năm gần đây trắc nghiệm là một phương tiện có giá trị
trong giáo dục. Hiện nay trên thế giới trong các kì kiểm tra, thi tuyển một số
môn đã sử dụng trắc nghiệm khá phổ biến.
2.2. Ở Việt Nam
Trắc nghiệm khách quan được sử dụng từ rất sớm trên thế giới song ở
Việt Nam thì trắc nghiệm khách quan xuất hiện muộn hơn, cụ thể:
Ở miền nam Việt Nam, từ những năm 1960 đã có nhiều tác giả sử dụng
trắc nghiệm khách quan một số ngành khoa học (chủ yếu là tâm lí học).
Năm 1969, tác giả Dương Thiệu Tống đã đưa một số môn trắc nghiệm
khách quan và thống kê giáo dục vào giảng dạy tại lớp cao học và tiến sĩ giáo
dục học tại trường đại học Sài Gòn.

Ở nước ta, thí điểm thi tuyển sinh đại học bằng phương pháp trắc
nghiệm khách quan đã được tổ chức đầu tiên tại trường đại học Đà Lạt tháng
7 năm 1996 và đã thành công.
11

Như vậy, phương pháp trắc nghiệm khách quan đã rất phổ biến ở các
nước phát triển, trong nhiều lĩnh vực, nhiều môn học với kết quả tốt và được
đánh giá cao. Tuy nhiên, ở Việt Nam việc sử dụng phương pháp trắc nghiệm
khách quan còn rất mới mẻ và hạn chế nhất là trong các trường phổ thông. Để
học sinh phổ thông có thể làm quen dần với phương pháp trắc nghiệm khách
quan, hiện nay, Bộ giáo dục và Đào tạo đã đưa một số câu hỏi trắc nghiệm
khách quan lồng ghép với câu hỏi tự luận trong các SGK một số môn học ở
trường phổ thông trong những năm tới sẽ hoàn thành công việc này ở bậc
trung học phổ thông. Khi công việc đó thành công sẽ hứa hẹn một sự phát
triển mạnh mẽ của phương pháp trắc nghiệm khách quan ở Việt Nam.
Sử dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan để làm đề thi tốt
nghiệp trung học phổ thông và làm đề thi tuyển sinh đại học sẽ đảm bảo được
tính công bằng và độ chính xác trong thi cử. Vì vậy, bắt đầu từ năm học 2006
- 2007 Bộ giáo dục và Đào tạo có chủ trương tổ chức thi tốt nghiệp trung học
phổ thông và thi tuyển sinh đại học bằng phương pháp trắc nghiệm khách
quan đối với các môn: Vật Lí, Hoá học, Sinh học, Tiếng Anh.

Trên đây là một số nghiên cứu về trắc nghiệm khách quan. Từ những gợi
ý của người đi trước, chúng tôi triển khai nghiên cứu đề tài “Xây dựng hệ thống
bài tập trắc nghiệm khách quan trong dạy học phân môn Luyện từ và câu lớp 4”.
3. Mục đích nghiên cứu
Xây dựng được hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan phân môn
Luyện từ và câu lớp 4 góp phần hỗ trợ cho việc dạy học và kiểm tra, đánh giá
chất lượng học tập của học sinh.
12

hoạt động của thầy và hoạt động của trò thống nhất với nhau. Vì vậy, một mặt
phải phát huy đúng mức vai trò tự giác, tích cực, tự tổ chức, tự điều chỉnh hoạt
động nhận thức của trò. Chỉ có sự phối hợp hữu cơ và sự liên hệ qua lại chặt chẽ
giữa những tác động bên ngoài của giáo viên, biểu lộ trong việc trình bày tài liệu
chương trình và tổ chức công tác học tập của học sinh, với sự căng thẳng trí tuệ
“bên trong” của các em, mới tạo nên được cơ sở của sự học tập có kết quả.
A.Đixtervec đã viết trong tác phẩm “Hướng dẫn việc đào tạo của giáo
viên Đức: “Không thể ban cho hoặc truyền đạt đến bất kị một người nào. Sự
phát triển và sự giáo dục. Bất cứ ai muốn được phát triển và giáo dục cũng
phải phấn đấu bằng sự hoạt động của bản thân bằng sức lực của chính mình,
bằng sự cố gắng của bản thân. Anh ta chỉ có thể nhận được từ bên ngoài sự
kích thích mà thôi. Vì thế hoạt động tự lực là phương tiện và đồng thời là kết
quả của sự giáo dục.” [10;35]
Học sinh với tư cách là chủ thể nhận thức, chủ thể của hoạt động học
phải tự mình tìm ra kiến thức bằng hành động của chính mình dưới sự hướng
dẫn của thầy. Tuy nhiên tri thức do học sinh tìm ra dễ mang tính chủ quan,
phiến diện, thiếu khoa học. Vì vậy, người thầy cần tổ chức để trò được thể
hiện, trình bày sản phẩm của mình ở tập thể lớp học, trao đổi thảo luận với
bạn để tăng thêm tính khách quan khoa học trong tri thức do họ tìm ra. Trên
cơ sở ý kiến của thầy, của bạn, trò tự kiểm tra, đánh giá, sửa chữa sai sót, rút
kinh nghiệm về cách học, cách giải quyết vấn đề.
14

Để thể hiện đầy đủ vai trò chủ thể của mình khi tham gia quá trình học,
các em phải có sự hứng thú rõ rệt với tri thức thu nhận được, có ý thức trách
nhiệm với việc học của mình và phải tham gia tích cực trong suốt quá trình
học. Người học phải tự tham gia nhiệm vụ học tập bằng tất cả khả năng, tất cả
tri thức và kinh nghiệm sống mình đã tích lũy được. Như vậy, trong quá trình
dạy học hiện đại học sinh vừa là đối tượng của hoạt động dạy, vừa là chủ thể
nhận thức, nhưng chỉ khi nào học sinh thực hiện tốt vai trò chủ thể thì các em

xác định mức độ vừa sức của tài liệu học tập.
Đặc biệt các khái niệm, đặc điểm, cấu tạo…từ và câu như các khái
niệm khoa học khác đều là kết quả hoạt động nhận thức; mang tính trừu tượng
cao trong khi ở lứa tuổi học sinh tiểu học tư duy kinh nghiệm, tư duy cụ thể
vẫn chiếm ưu thế (giai đoạn lớp 1, 2, 3); tư duy trừu tượng bắt đầu phát triển
và vẫn phải dựa trên tư duy cụ thể (giai đoạn lớp 4, 5) mỗi khái niệm đều hàm
chứa một tập hợp đặc trưng. Nắm được khái niệm phải nắm được các đặc
trưng của nó với các mỗi quan hệ của nó trong hệ thống. Vì vậy, nắm khái
niệm về từ và câu là quá trình lâu dài và phức tạp đối với học sinh tiểu học, có
thể nói là việc khó đối với các em. Quá trình truyền thụ, giúp học sinh nắm
vững các vấn đề về từ và câu cũng không đơn giản. Và người giáo viên cần
dựa vào tâm lí học, sử dụng hiệu quả các kết quả nghiên cứu của tâm lí học
lứa tuổi (đặc điểm bậc tiểu học, đặc điểm quá trình nhận thức của học sinh
tiểu học những tiền đề phát triển tâm lí học sinh tiểu học, dấu hiệu bản chất và
không bản chất của các khái niệm…) trong quá trình hình thành khái niệm về
từ và câu giúp học sinh lĩnh hội các khái niệm khoa học trên cơ sở khoa học,
có như vậy mới đem lại hiệu quả dạy học như mục tiêu đề ra.
16

1.3. Vài nét về trắc nghiệm khách quan
1.3.1. Khái niệm về trắc nghiệm
a. Khái niệm trắc nghiệm
Theo từ điển Tiếng Việt : “trắc” có nghĩa là đo lường, “nghiệm” có
nghĩa là suy xét, chứng thực.
“Trắc nghiệm” theo Tiếng Anh là “thử”, “phép thử”, “sát hạch”.
Lý luận về trắc nghiệm có rất nhiều cách hiểu khác nhau trong đó có
một số cách hiểu sau:
Theo Dương Thiệu Tống: “Trắc nghiệm là một dụng cụ hay phương
thức hệ thống nhằm đo lường một mẫu các động thái để trả lời câu hỏi: thành
tích của các cá nhân như thế nào khi so sánh với những người khác hay so

Hiện nay, việc phân loại câu hỏi trắc nghiệm vẫn còn nhiều tranh cãi
nhưng theo ý kiến của tác giả Phó Đức Hoà và một số nhà nghiên cứu khoa
học khác thì câu hỏi trắc nghiệm được phân ra làm hai loại: trắc nghiệm
khách quan và trắc nghiệm tự luận.
Trắc nghiệm khách quan là bài kiểm tra trong đó nhà sư phạm đưa ra
các mệnh đề và các câu trả lời khác nhau, yêu cầu người học phải chọn đáp án
phù hợp.
Trắc nghiệm tự luận là bài kiểm tra (truyền thống). Trong đó nhà sư
phạm đưa ra một hoặc vài yêu cầu đôi khi là bài toán nhận thức và đòi hỏi
người học phải phân tích các yêu cầu hoặc giải quyết bài toán.
Phương pháp trắc nghiệm có thể được phân loại theo sơ đồ dưới đây:

18

Điền
khuyết

Ghép
đôi

Nhiều
lựa
chọn

Quan sát

Trắc nghiệm tự
luận
(Essay Tests)


khác nhau trong đó có một số ý kiến sau:
Trắc nghiệm khách quan là bài kiểm tra, trong đó nhà sư phạm đưa ra
các mệnh đề và có các câu trả lời khác nhau, yêu cầu người học phải chọn đáp
án phù hợp.
Trắc nghiệm khách quan thường bao gồm nhiều mệnh đề, câu hỏi hay
mô hình và được trả lời bằng các dấu hiệu đơn giản, hay một từ, cụm từ, đôi
khi là các con số….Trắc nghiệm khách quan mang tính quy ước vì bài trắc
nghiệm được chấm bằng cách đếm số lần học sinh trả lời đúng. Do đó hệ
thống cho điểm là khách quan và không phụ thuộc vào người chấm.
Và cũng có ý kiến cho rằng: “Trắc nghiệm khách quan là phương pháp
mà người ta dùng những bài tập ngắn có kèm theo câu trả lời để thực hiện các
mục đích xác định”.
1.3.3. Phân loại trắc nghiệm khách quan
Tùy quan điểm của mỗi tác giả có thể phân loại trắc nghiệm khách
quan theo những cách khác nhau với những tên gọi khác nhau.
Nhiều quan điểm thống nhất và đưa ra bốn loại trắc nghiệm khách quan
sau:
a. Trắc nghiệm đúng – sai
Câu trắc nghiệm đúng sai bao gồm:
- Phần 1: Là một câu hỏi hoặc một phát biểu, còn gọi là phần đề.
- Phần 2: Là phương án chọn lựa đúng – sai, phải – không phải, đồng ý –
không đồng ý.
- Yêu cầu: Chọn một trong hai phương án trả lời
Ví dụ 1:
20

Viết vào

chữ Đ trước câu chỉ đúng nghĩa của từ hiền lành :


+ Câu nên trắc nghiệm khả năng lí giải, chứ không chỉ là trắc nghiệm trí
nhớ. Càng không nên chép lại những câu trong tài lệu giảng dạy, để tránh cho
học sinh thuộc lòng sách máy móc mà không hiểu gì.
+ Câu nên hỏi những điều quan trọng, nội dung có giá trị chứ không phải là
những chi tiết vun vặt, không quan trọng.
+ Tránh những điều chưa thống nhất.
b. Trắc nghiệm nhiều lựa chọn
Trắc nghiệm nhiều lựa chọn là loại câu thông dụng nhất, còn gọi là câu
đa phương án, loại câu này gồm 2 phần là phần câu dẫn và phần câu lựa chọn:
- Phần câu dẫn là một câu hỏi hay một câu lơ lửng tạo cơ sở cho sự lựa chọn.
- Phần lựa chọn gồm nhiều phương án trả lời. Người trả lời sẽ lựa chọn một
phương án trả lời đúng hoặc đúng nhất hoặc không có liên quan gì đến trong
số các phương án cho trước. Những phương án còn lại là những phương án
gây nhiễu.
Ví dụ 2:
Khoanh tròn vào chữ cái trước câu trả lời đúng.
1. Câu sau có bao nhiêu tiếng?
Nhờ bạn giúp đỡ, lại có chí học hành, nhiều năm liền, Hanh là học sinh
tiên tiến.
A. 16 B. 17
C. 18 D. 19
- Ưu điểm:
Độ tin cậy cao, yếu tố ngẫu nhiên, mang tính đơn giản, đảm bảo độ giá
trị, có thể đo được khả năng của người học: nhớ, thông hiểu, áp dụng, phân
tích, tổng hợp,…
22

- Hạn chế:
Có thể khuyến khích sự đoán mò của người học.
- Yêu cầu khi xây dựng câu hỏi:

+ Giúp HS luyện trí nhớ khi học tập.
- Hạn chế:
+ Thường dùng để kiểm tra ở mức độ biết và hiểu đơn giản.
+ Đôi khi khó đánh giá đúng nội dung câu trả lời khi HS viết sai chính tả
hoặc khi câu trắc nghiệm gợi ra nhiều hướng đáp án đúng.
+ GV thường có khuynh hướng trích nguyên văn các câu từ SGK.
+ Việc chấm bài mất nhiều thời gian.
+ Tính khách quan kém, có thể chịu tác động bởi yếu tố chủ quan của GV.
- Yêu cầu khi xây dựng câu hỏi:
+ Không nên để quá nhiều chỗ trống trong mỗi câu, nên bố trí chỗ trống ở
giữa hoặc cuối câu không nên đặt ở đầu câu.
+ Các phương án trả lời là các từ, cụm từ, các con số cho trước có thể tương
đương hoặc không tương đương với số lượng ô trống. Nếu các từ, cụm từ
không cho trước thì đó phải là các từ, cụm từ có nghĩa trong thực tế.
d. Trắc nghiệm ghép đôi
Bài tập này gồm hai phần: phần thông tin bảng truy (câu hỏi) và phần
thông tin bảng chọn (câu trả lời). Hai phần này được thiết kế thành hai cột.
Yêu cầu đặt ra là lựa chọn yếu tố tương đương hoặc có sự kết hợp của
mỗi cặp thông tin từ bảng truy và bảng chọn. Giữa các cặp ở hai bảng có mối
liên hệ trên một cơ sở đã định. Có hai hình thức: Đối chiếu hoàn toàn (số mục
ở bảng truy bằng số mục của bảng chọn), đối chiếu không hoàn toàn (số mục
ở bảng truy ít hơn số mục ở bảng chọn).
Ví dụ 4:
24

Tìm thủ đô các nước bằng cách nối?
A B
1. Trung Quốc
2. Nhật Bản
3. Đức

- TNKQ tốn ít thời gian thực hiện, đặc biệt là khâu chấm bài.
- TNKQ đảm bảo tính khách quan. Khi cho điểm trong kiểm tra truyền
thống, cùng một bài làm có thể được đánh giá khác nhau, có thể điểm số
chênh lệch khá lớn tùy thuộc vào người chấm. Chấm bài TNKQ sẽ tránh được
sai lệch và hạn chế.
- Các câu hỏi, đáp án được quy định về số lượng, nội dung và đã chuẩn hóa nên
dễ dàng sử dụng phương pháp thống kê toán học để tổng hợp và xử lý kết quả.
- TNKQ nếu được sử dụng thích hợp có thể gây hứng thú và tính tích cực
học tập cho học sinh. Là một hình thức kiểm tra, một dạng bài tập mới, so với
các hình thức kiểm tra và dạng bài tập truyền thống TNKQ có thể được nhiều
học sinh ưa thích. Việc chấm bài được nhanh gọn, học sinh có thể sớm biết
kết quả bài làm của mình, HS có thể tự đánh giá bài làm của mình và đánh giá
bài làm của nhau.
b. Hạn chế
- Các bài tập TNKQ chủ yếu rèn trí nhớ máy móc khó phát triển tư duy và
đánh giá quá trình suy nghĩ dẫn tới kết quả làm bài trắc nghiệm. Đây là nhược
điểm lớn nhất của TNKQ.
- Trắc nghiệm kiến thức không cho GV biết tư tưởng, nhiệt tình, thái độ,
hứng thú của HS với vấn đề được nêu ra.
- Khó soạn các câu hỏi, đòi hỏi nhiều thời gian và công phu, GV phải có
chuyên môn sâu sắc.

Trích đoạn Hệ thống các bài Luyện từ và câu lớp 4 Xây dựng hệ thống bài tập trắc khách quan cho một số bài trong Hệ thống bài tập mẫu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status