1
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới thầy giáo Th.s Đỗ
Xuân Đức, người đã hướng dẫn, giúp đỡ tận tình cho tôi trong quá trình thực
hiện và hoàn chỉnh đề tài này.
Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu và tập thể giáo viên
các trường Tiểu học: Trường Tiểu học Xuân Hòa, Trường Tiểu học Trưng
Nhị và Trường Tiểu học Lưu Qúy An đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi
cho tôi trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu và hoàn thành đề tài.
Do thời gian và trình độ nhận thức còn hạn chế nên không thể tránh khỏi
những thiếu sót nhất định. Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của
các thầy cô giáo và các bạn sinh viên để đề tài được hoàn chỉnh hơn.
2
1.3. Một số vấn đề về dạy học môn Đạo đức lớp 4.
1.3.1. Mục tiêu môn Đạo đức lớp 4
1.3.2. Nội dung dạy học môn Đạo đức lớp 4
1.3.3. Phương pháp và hình thức tổ chức dạy học
môn Đạo đức lớp 4
Chương 2: Thực trạng dạy học môn Đạo đức lớp 4
ở một số trường Tiểu học khu vực Thị xã Phúc Yên
2.1. Thực trạng về trình độ đội ngũ giáo viên.
2.2. Thực trạng nhận thức của giáo viên về tầm quan trọng
của việc dạy học môn Đạo đức cho học sinh các trường Tiểu học
4
khu vực Thị xã Phúc Yên.
2.3. Thực trạng dạy học môn Đạo đức lớp 4 ở một số trường Tiểu học
khu vực Thị xã Phúc Yên.
2.3.1. Thực trạng thực hiện các nguyên tắc dạy học.
2.3.2. Thực trạng thực hiện mục tiêu dạy học.
2.3.3. Thực trạng đảm bảo nội dụng dạy học.
2.3.4. Thực trạng sử dụng các phương pháp dạy học.
2.3.5. Thực trạng sử dụng các hình thức tổ chức dạy học.
2.3.6. Thực trạng sử dụng các phương tiện dạy học.
Chương 3: Nguyên nhân của thực trạng và một số biện pháp
nâng cao chất lượng dạy học môn Đạo đức lớp 4
ở một số trường Tiểu học khu vực Thị xã Phúc Yên.
3.1. Nguyên nhân của thực trạng.
3.2. Những giải pháp cần thiết để nâng cao chất lượng
dạy học môn Đạo đức.
3.2.1. Nâng cao chất lượng đội ngũ và cán bộ quản lý.
3.2.2. Nâng cao trình độ hiểu biết và năng lực của mỗi giáo viên.
3.2.3. Đầu tư kinh phí cho các hoạt động giáo dục.
tiễn đều khẳng định rằng, những dấu ấn của trường Tiểu học có một ảnh
hưởng sâu sắc đến cả cuộc đời học sinh. Chính vì vậy việc giáo dục đạo đức
phải được coi trọng và tiến hành ngay từ bậc Tiểu học và môn Đạo đức là một
trong những môn học bắt buộc. Đây là môn học cơ bản trang bị cho học sinh
6
các chuẩn mực đạo đức, lối sống lành mạnh và cách sống có lý tưởng. Từ đó
các em biết cách vận dụng các hành vi, chuẩn mực đạo đức đó vào cuộc sống.
Mục tiêu của môn Đạo đức ở Tiểu học nói chung và ở lớp 4 nói riêng là
giúp cho học sinh có những hiểu biết cơ bản, hình thành chuẩn mực hành vi
đạo đức phù hợp với lứa tuổi và pháp luật. Đồng thời nắm bắt được ý nghĩa
của việc thực hiện những chuẩn mực hành vi đạo đức đó. Qua đó, từng bước
hình thành cho học sinh kĩ năng nhận xét, đánh giá hành vi của bản thân và
những người xung quanh, lựa chọn và thực hiện các chuẩn mực hành vi đạo
đức trong những tình huống cụ thể của cuộc sống.
Trong những năm qua, cùng với việc đổi mới phương pháp dạy học các
môn học thì môn Đạo đức cũng được các nhà trường và giáo viên chú trọng
nhiều hơn. Tuy nhiên vẫn còn nhiều ý kiến xem đây là môn học phụ cho nên
nhiều giáo viên vẫn chưa chú ý tìm tòi sáng tạo và đổi mới khi soạn giáo án
cũng như quá trình giảng dạy trên lớp.
Cho đến nay đã có nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứu đề cập
đến vấn đề này. Tuy nhiên, thực trạng dạy học môn Đạo đức lớp 4 như thế
nào? Nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó là gì ? thì vẫn chưa có nhiều công
trình kể đến. Kế thừa những thành tựu của các công trình đã nghiên cứu nói
trên và xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của việc dạy học môn Đạo đức lớp 4 ở
Tiểu học nên tôi mạnh dạn chọn đề tài: “ Tìm hiểu thực trạng dạy học môn
Đạo đức lớp 4 ở một số trường Tiểu học khu vực Thị xã Phúc Yên” để tôi
tìm hiểu và nghiên cứu trong khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Xã hội ngày càng phát triển thì vấn đề đạo đức ngày càng được quan
6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu ở một số trường Tiểu học khu vực Thị xã Phúc Yên.
8
7. Giả thuyết khoa học
Thực trạng dạy học môn Đạo đức lớp 4 vẫn chưa đạt kết quả cao. Có
nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng, nhưng quan trọng vẫn là do trình độ
của giáo viên chưa cao, khả năng vận dụng phương pháp và tổ chức của giáo
viên còn kém.
8. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lí luận.
- Tìm hiểu thực trạng dạy học môn Đạo đức lớp 4 ở Tiểu học.
- Tìm ra những nguyên nhân của thực trạng và đưa ra những biện pháp
khắc phục thực trạng.
9. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp đọc sách.
- Phương pháp quan sát.
- Phương pháp điều tra.
- Phương pháp thực nghiệm.
- Phương pháp phân tích tổng hợp số liệu.
10. Nội dung của đề tài
Phần 1: Phần mở đầu
Phần 2: Phần nội dung
Chương 1: Một số vấn đề về đạo đức và dạy học môn Đạo đức cho học
sinh Tiểu học.
1.1. Một số vấn đề về đạo đức.
1.2. Một số vấn đề về dạy học môn Đạo đức.
1.3. Một số vấn đề về dạy học môn Đạo đức lớp 4.
Chương 2: Thực trạng dạy học môn Đạo đức lớp 4 ở một số trường Tiểu
học khu vực Thị xã Phúc Yên.
10
PHẦN 2: NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ ĐẠO ĐỨC VÀ DẠY HỌC MÔN ĐẠO
ĐỨC CHO HỌC SINH TIỂU HỌC
1.1. Một số vấn đề về đạo đức
1.1.1. Khái niệm đạo đức và giáo dục đạo đức
Đạo đức là tổ hợp những nguyên tắc, quy tắc, những tiêu chuẩn sinh
hoạt chung trong xã hội nhằm điều chỉnh ứng xử của con người trong mọi
lĩnh vực của đời sống nhằm đảm bảo cho xã hội một trật tự nhất định cần thiết
cho sự tồn tại và phát triển của nó.
Đạo đức ra đời là do nhu cầu thực tiễn cuộc sống để thực hiện chức
năng duy trì mối quan hệ giữa con người với con người và duy trì trật tự xã
hội, thông qua đó làm cho xã hội tồn tại và phát triển.
Đạo đức hình thành một cách tự phát ngay trong thực tiễn cuộc sống.
Đạo đức được duy trì bằng lương tâm và dư luận xã hội. Đạo đức xuất hiện
từ nhu cầu xã hội, duy trì trật tự xã hội và thống nhất các mâu thuẫn giữa lợi
ích chung và lợi ích riêng. Để giải quyết các mâu thuẫn đó, xã hội đề ra các
yêu cầu dưới dạng chuẩn mực giá trị, được mọi người công nhận và được
củng cố bằng sức mạnh của phong tục, tập quán, dư luận, lương tâm… Chính
vì thế mà đạo đức khác với pháp quyền là nó không dựa vào quyền lực của
nhà nước, không dựa vào luật pháp mà dựa vào sức mạnh của dư luận xã hội,
của lương tâm, của những quan niệm mang tính chất đánh giá như: Thiện –
ác, vinh – nhục… để đảm bảo trật tự xã hội.
Có thể nói, đạo đức là cái tốt, cái đúng ở bên trong con người được biểu
hiện ra bên ngoài bằng lời nói, hành vi đạo đức. Đạo đức là cái gốc bên trong
11
Đạo đức trong nhà trường Tiểu học được quy định trong chương trình giáo
dục phổ thông cấp Tiểu học.
1.2. Một số vấn đề về dạy học môn Đạo đức
1.2.1. Nguyên tắc dạy học
1.2.1.1. Khái niệm
Quá trình dạy học về bản chất là quá trình nhận thức độc đáo của người
học nhằm chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng kỹ xảo. Quá trình đó luôn luôn vận
động và phát triển theo những quy luật nhất định, vì thế, muốn tổ chức, điều
khiển quá trình dạy học nhằm đạt kết quả tối ưu, người dạy và người học phải
tuân theo những luận điểm cơ bản đó chính là các nguyên tắc dạy học.
Nguyên tắc dạy học là những luận điểm cơ bản có tính quy luật, có tác
dụng chỉ đạo mọi hoạt động của giáo viên và học sinh trong quá trình dạy
học.
1.2.1.2. Hệ thống các nguyên tắc dạy học
a. Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính khoa học và tính giáo dục
Nguyên tắc này đòi hỏi người học phải nắm vững hệ thống những tri
thức khoa học cơ bản, hiện đại về các lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy.
Người học phải được tiếp xúc với một số phương pháp nghiên cứu khoa học ở
mức độ khác nhau, hình thành được thói quen suy nghĩ và làm việc một cách
khoa học, nghiêm túc. Mặt khác, trên cơ sở nhận thức họ hình thành được thế
giới quan khoa học, niềm tin, sự say mê, hứng thú trong học tập cũng như
những phẩm chất đạo đức cần thiết.
Để thực hiện tốt nguyên tắc này, trong quá trình giảng dạy, giáo viên
cần tổ chức, điều khiển người học chiếm lĩnh hệ thống những tri thức cơ bản,
hiện đại về các lĩnh vực khoa học.
Cụ thể:
- Đảm bảo tính khoa học trong dạy học môn Đạo đức: là đảm bảo dạy
đúng, đủ những tri thức khoa học được quy định trong chương trình sách giáo
13
trình cụ thể, chi tiết.
Để thực hiện nguyên tắc này, quá trình dạy học cần sử dụng phối hợp
nhiều phương tiện trực quan với tư cách là phương tiện nhận thức và các
nguồn tri thức trong khi giảng bài, trong khi tổ chức, điều khiển hoạt động
lĩnh hội tri thức mới, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, ôn tập, củng cố, hoàn thiện
quá trình dạy học….
d. Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính vững chắc của tri thức, kỹ
năng, kỹ xảo và tính mềm dẻo của tư duy
Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình dạy học người học phải tự mình
nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo để khi cần, có thể nhớ lại và vận
dụng một cách linh hoạt, sáng tạo trong các tình huống nhận thức hay hoạt
động thực tiễn khác nhau. Điều đó có nghĩa là, quá trình dạy học phải làm cho
người học hiểu vấn đề, nhớ và vận dụng vấn đề một cách chính xác, bền vững
và có hiệu quả.
e. Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính vừa sức chung và tính vừa
sức riêng trong dạy học
Nguyên tắc này đòi hỏi, trong quá trình dạy học phải lựa chọn và vận
dụng nội dung, phương pháp và hình thức dạy học nhằm thúc đẩy sự phát
triển trí tuệ của mọi thành viên trong cả lớp, đồng thời phải quan tâm tới từng
cá nhân người học, đảm bảo cho mọi người đều có thể phát triển ở mức độ tối
đa so với khả năng của mình.
Để thực hiện nguyên tắc này, trong quá trình dạy học cần được “phân
biệt hóa và cá nhân hóa” một cách hợp lý đối tượng người học và nội dung,
phương pháp dạy học phải phù hợp với trình độ nhận thức của họ. Nghệ thuật
sư phạm của người thầy giáo được thể hiện trong phương pháp phát huy cao
độ tính tích cực, độc lập, sáng tạo đối với mỗi cá nhân trong dạy học.
15
g. Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa vai trò chủ đạo của người dạy
và vai trò tự giác, tích cực, độc lập của người học trong dạy học
chuẩn mực.
+ Tác dụng: những lợi ích, điều tốt đẹp mang lại cho đối tượng, những
người xung quanh, bản thân học sinh.
+ Tác hại của việc làm trái chuẩn mực hành vi: những cái ác, điều xấu
mang lại cho đối tượng, những người xung quanh, bản thân học sinh.
- Cách thực hiện chuẩn mực đó theo các tình huống liên quan:
+ Những việc cần làm.
+ Những việc cần tránh theo chuẩn mực quy định.
1.2.2.2. Mục tiêu về kỹ năng, hành vi
Mục tiêu về kỹ năng, hành vi của môn Đạo đức là: sau khi học môn học
này, học sinh có những kỹ năng vận dụng bài học đạo đức, biết lựa chọn và
thực hiện được các hành vi phù hợp với những chuẩn mực hành vi quy định
trên cơ sở đó, các em rèn luyện được thói quen đạo đức tích cực.
Kỹ năng, hành vi được coi là kết quả quan trọng nhất của việc dạy học
môn Đạo đức. Vì đạo đức của con người nói chung và của học sinh Tiểu học
nói riêng được đánh giá chủ yếu qua hành động, việc làm mà không phải chỉ
qua lời nói.
Những kỹ năng hành vi này thường bao gồm:
- Biết tự nhận xét hành vi của bản thân.
- Biết nhận xét, đánh giá hành vi của người khác.
- Biết xử lý những tình huống đạo đức tương tự trong cuộc sống.
- Biết thực hiện các thao tác, hành động đúng đắn theo mẫu, qua trò
chơi, hoạt cảnh,…
- Biết đánh giá những vấn đề thực tiễn liên quan đến bài Đạo đức.
- Thực hiện được những hành vi tích cực trong cuộc sống hằng ngày
của mình phù hợp với các chuẩn mực hành vi.
17
1.2.2.3. Mục tiêu về thái độ
Mục tiêu về thái độ của môn Đạo đức là: sau khi học môn học này học
Lớp 1
1 tiết / tuần x 35 tuần = 35 tiết
a, Quan hệ với bản thân
- Phấn khởi, tự hào đã trở thành học sinh lớp 1.
- Giữ gìn vệ sinh thân thể và ăn mặc, giữ gìn sách vở, đồ dùng học tập.
b, Quan hệ với người khác
- Yêu quý những người thân trong gia đình, lễ phép với ông bà, cha mẹ,
anh chị; nhường nhịn em nhỏ.
- Yêu quý thầy giáo, cô giáo, bạn bè; lễ phép, vâng lời thầy giáo, cô
giáo; đoàn kết với bạn bè.
- Mạnh dạn tự tin khi giao tiếp; biết chào hỏi, cảm ơn, tạm biệt, xin lỗi.
c, Quan hệ với công việc
- Thực hiện tốt nội quy nhà trường: đi học đều và đúng giờ, giữ trật tự
khi ra vào lớp và nghe giảng
- Đi bộ đúng quy định.
d, Quan hệ với cộng đồng, đất nước, nhân loại
- Yêu quê hương, đất nước; biết tên nước ta là Việt Nam; biết Quốc kì,
Quốc ca Việt Nam; nghiêm trang khi chào cờ.
- Yêu hòa bình, ghét chiến tranh.
e, Quan hệ với môi trường tự nhiên
- Gần gũi, yêu quý thiên nhiên.
- Biết bảo vệ các loài cây và hoa.
Lớp 2
1 tiết / tuần x 35 tuần = 35 tiết
a, Quan hệ với bản thân
19
- Sống gọn gàng, ngăn nắp, đúng giờ giấc.
- Khi có lỗi, biết xấu hổ, nhận lỗi và sửa lỗi.
b, Quan hệ với người khác
được giao.
d, Quan hệ với cộng đồng, đất nước, nhân loại
- Kính trọng, biết ơn Bác Hồ và những người có công với đất nước, với
dân tộc.
- Đoàn kết, hữu nghị với thiếu nhi quốc tế.
- Tôn trọng khách nước ngoài.
e, Quan hệ với môi trường tự nhiên
- Sử dụng tiết kiệm nước và bảo vệ nguồn nước sạch.
- Bảo vệ, chăm sóc cây trồng, vật nuôi.
Lớp 4
1 tiết / tuần x 35 tuần = 35 tiết
a, Quan hệ với bản thân
- Biết bày tỏ ý kiến về những vấn đề có liên quan đến bản thân và tập
thể.
- Trung thực trong học tập.
- Sử dụng tiết kiệm tiền của, thời giờ.
b, Quan hệ với người khác
- Hiếu thảo với ông bà, cha mẹ.
- Kính trọng, biết ơn thầy cô giáo
- Kính trọng, biết ơn người lao động.
- Lịch sự với mọi người.
c, Quan hệ với công việc
- Biết vượt khó trong học tập.
21
- Yêu lao động, sẵn sàng tham gia lao động phù hợp với lứa tuổi.
- Tích cực tham gia lao động làm sạch, đẹp trường, lớp.
- Bảo vệ các công trình công cộng.
- Tôn trọng luật giao thông.
d, Quan hệ với cộng đồng, đất nước, nhân loại
e, Quan hệ với môi trường tự nhiên
- Bảo vệ môi trường xung quanh.
1.2.4 Một số phương pháp dạy học môn Đạo đức
1.2.4.1. Kể chuyện
Kể chuyện là phương pháp dùng lời để thuật lại truyện kể đạo đức nhằm
giúp học sinh nắm được nội dung và từ đó, rút ra bài học đạo đức cần thiết.
Truyện kể này có thể được lấy từ vở bài tập, sách giáo khoa, sách giáo
viên môn Đạo đức hoặc từ một nguồn khác ( từ các phương tiện thông tin đại
chúng như tivi, đài phát thanh, báo chí )
Phương pháp này thường được vận dụng ở tiết 1 nhằm giới thiệu cho
học sinh một biểu tượng cụ thể về chuẩn mực hành vi đạo đức theo bài học.
Do đó, nó thường được tiến hành vào đầu tiết 1 sau kiểm tra bài cũ.
Ví dụ, khi dạy bài “ Giữ lời hứa” ( Lớp 3), có thể vận dụng phương
pháp này để kể cho học sinh nghe truyện kể “ Chiếc vòng bạc” với nội dung
như sau:
Hồi ở Pác Pó, hôm Bác Hồ sắp đi công tác xa, trong số các em thường
ngày quấn quýt bên Bác, có một em bé vòi Bác mua cho một chiếc vòng bạc.
Hơn hai năm sau, Bác trở về. Mọi người mừng rỡ ra đón Bác Hồ, hỏi
thăm sức khỏe của Bác, nhưng không ai còn nhớ câu chuyện năm xưa. Riêng
Bác thì vẫn nhớ. Bác từ từ mở túi, lấy ra một cái vòng bạc mới tinh và trao
23
cho em bé – bây giờ đã là một cô bé. Cô bé và mọi người cảm động rơi nước
mắt. Bác nói với mọi người:
- Cháu nó nhờ mua tức là nó thích lắm. Mình đã hứa thì phải làm cho kì
được. Đấy là chữ tín. Cần giữ trọn lòng tin với mọi người.
Nhân vật chính của truyện kể là Bác Hồ - Bác đã thực hiện lời hứa mua
cho một em bé chiếc vòng bạc ( đây là một hành vi tích cực ). Việc làm này
của Bác được coi là một biểu tượng cụ thể về giữ lời hứa để học sinh và mọi
người noi theo.
1.2.4.4. Thảo luận nhóm
Thảo luận nhóm là phương pháp tổ chức cho học sinh trao đổi với nhau
theo từng nhóm nhỏ để đưa ra ý kiến chung của nhóm về giải quyết vấn đề
liên quan đến bài học đạo đức.
Đối với dạy học môn Đạo đức, thảo luận nhóm có thể được tổ chức ở
cả 2 tiết, khi học sinh lĩnh hội tri thức mới và cả khi học sinh thực hành. Hiện
nay phương pháp này đang được sử dụng rộng rãi trong dạy học ở Tiểu học ở
tất cả các bộ môn.
1.2.4.5. Tổ chức làm việc cá nhân
Tổ chức làm việc cá nhân là phương pháp tổ chức cho từng em học
sinh độc lập làm các bài tập đạo đức.
Phương pháp này chủ yếu nhằm giúp các em vận dụng bài học đạo đức
để làm các bài tập thực hành được nêu ra trong vở bài tập, sách giáo khoa,
phiếu học tập cá nhân Do đó, giáo viên có thể sử dụng phương pháp này để
củng cố tri thức ở cuối tiết 1 và để giúp học sinh thực hành ở tiết 2 trên cơ sở
các em đã nắm được những tri thức cơ bản về chuẩn mực hành vi. Qua đó,
giáo viên không những giúp các em củng cố được tri thức, thái độ đạo đức,
mà còn hình thành ở học sinh những kĩ năng cơ bản như tự nhận xét hành vi
25
của bản thân, nhận xét hành vi của người khác, xử lý tình huống đạo đức
tương tự trong cuộc sống
1.2.4.6. Tập luyện theo mẫu hành vi
Tập luyện theo mẫu hành vi là phương pháp tổ chức cho học sinh thực
hiện các thao tác của mẫu hành vi .
Việc hướng dẫn cho học sinh Tiểu học thực hiện các thao tác hành vi
đơn giản (ví dụ, hành vi chào hỏi, hành vi trao hay nhận vật gì đó từ người
lớn), đặc biệt ở lớp 1, là rất cần thiết. Đó là vì, nhiều khi trong cuộc sống, các
em mắc những sai sót trong hành vi của mình chỉ vì không được chỉ bảo đến
nơi đến chốn về các thao tác cụ thể của hành vi đạo đức.