MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU............................................................................................................
Chương 1: Một số vấn đề chung về quy trình nhập khẩu......................................
1. Giới thiệu quy trình nhập khẩu..................................................................................
1.1. Khái niệm nhập khẩu..............................................................................................
1.2. Quy trình nhập khẩu...............................................................................................
1.3. Các bước tiến hành trong quy trình nhập khẩu......................................................
1.3.1 Nghiên cứu thị trường..........................................................................................
1.3.2 Công tác chuẩn bị ký kết hợp đồng....................................................................14
1.3.3 Đàm phán ký kết hợp đồng................................................................................15
1.3.4 Ký kết hợp đồng.................................................................................................18
1.3.5 Thực hiện hợp đồng...........................................................................................25
2. Các yếu tố đánh giá quy trình nhập khẩu................................................................31
2.1. Bảo đảm thuận lợi cho hoạt động nhập khẩu.......................................................31
2.2. Bảo đảm hiệu quả.................................................................................................32
2.3. Yêu cầu gắn quy trình nhập khẩu với nhu cầu và đáp ứng kịp thời nhu cầu của
doanh nghiệp...............................................................................................................33
2.4. Tổng thời gian thực hiện quy trình.......................................................................33
2.5. Phối hợp các bước trong quy trình.......................................................................34
2.6. Mức độ hoàn thành mỗi bước trong quy trình......................................................35
3. Các yếu tố ảnh hưởng quy trình nhập khẩu.............................................................36
3.1. Ảnh hưởng của chính sách pháp luật và các cơ quan Nhà nước..........................36
3.2. Ảnh hưởng của hệ thống thông tin.......................................................................37
3.3. Ảnh hưởng tổ chức quy trình làm việc.................................................................37
3.4. Ảnh hưởng do mối quan hệ bạn hàng..................................................................38
3.5. Ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái và tỷ suất ngoại tệ hàng nhập khẩu.....................39
3.6. Ảnh hưởng từ sự biến động thị trường trong và ngoài nước................................39
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chương 2: Thực trạng quy trình nhập khẩu sách báo của công ty Xunhasaba
.....................................................................................................................................40
Website: Email : Tel : 0918.775.368
5. Các yếu tố ảnh hưởng quy trình nhập khẩu của Xunhasaba...................................64
5.1. Các nhân tố văn hóa xã hội, thị hiếu tiêu dùng....................................................64
5.2. Các nhân tố về chính sách của Nhà nước và luật pháp........................................65
5.3. Nhu cầu khách hàng và trình độ dân trí................................................................66
5.4. Ảnh hưởng do mối quan hệ bạn hàng..................................................................67
5.5. Ảnh hưởng tổ chức quy trình làm việc.................................................................68
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quy trình nhập khẩu sách báo của công ty
Xunhasaba.................................................................................................................69
1. Mục tiêu, phương hướng phát triển của Công ty Xunhasaba
trong những năm tới....................................................................................................69
1.1. Chiến lược kinh doanh của Công ty Xunhasaba..................................................70
1.2. Mở rộng kinh doanh phát triển thị trường............................................................70
1.3. Tổ chức quản lý và chuyên môn nghiệp vụ..........................................................72
2. Một số giải pháp cơ bản hoàn thiện quy trình nhập khẩu sách báo của
Công ty Xunhasaba.....................................................................................................74
2.1. Cơ sở đưa ra giải pháp..........................................................................................74
2.2. Một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện quy trình nhập khẩu tại Công ty
xuất nhập khẩu sách báo Xunhasaba...........................................................................75
Kết luận..................................................................................................................86
Tài liệu tham khảo.................................................................................................87
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
PHẦN MỞ ĐẦU
Trong quá trình hội nhập nền kinh tế thế giới của chúng ta ngày nay, đất
nước ta đã thu được nhiều thành quả to lớn về chính trị, ngoại giao, kinh tế, văn
hoá, xã hội. Đó là những cơ sở cho sự phát triển bền vững của đất nước ta để vững
bước trong một thiên niên kỷ mới.
Một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng của chúng ta là “ Từ nay đến
BÁO CỦA CÔNG TY XUNHSABA
Hoạt động kinh doanh nhập khẩu sách báo tại công ty Xunhasaba trong cơ
chế thị trường hiện nay rất đa dạng và phức tạp. Do khả năng nghiên cứu cũng
nhiều hạn chế, thời gian lại ngắn, bằng những kiến thức, lý luận cũng rất giới hạn,
khi tiến hành nghiên cứu đề tài này, em tin chắc rằng chuyên đề không thể tránh
khỏi những thiếu sót. Em rất mong được các thày cô giáo trong khoa Kinh tế và
Kinh doanh Quốc tế trường Đại học Kinh tế quốc dân cũng như các anh chị đồng
nghiệp trong công ty Xunhasaba chỉ bảo để bản chuyên đề được hoàn thiện hơn
nữa.
Nhân đây, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới thầy giáo TS Mai Thế
Cường cũng như các cán bộ công ty Xunhasaba đã nhiệt tình giúp đỡ động viên em
để hoàn thành bản chuyên đề này.
Mục đích nghiên cứu đề tài:Từ thực trạng quy trình nhập khẩu sách báo
của công ty Xunhasaba, phân tích, đánh giá, tìm ra các yếu tố ảnh hưởng tác động
lên quy trình nhập khẩu từ đó đề xuất các giải pháp cải thiện quy trình nhập khẩu
của công ty.
Đối tượng nghiên cứu: Chuyên đề này tập trung nghiên cứu hoàn thiện quy
trình nhập khẩu sách báo của Xunhasaba.
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Phạm vi nghiên cứu:
Thời gian: Nghiên cứu quy trình nhập khẩu sách báo công ty Xunhasaba từ 2002
đến nay.
Không gian: Thị trường nhập khẩu xuất bản phẩm Việt Nam
Nội dung: Các vấn đề liên quan đến quy trình nhập khẩu sách báo.
Phương pháp nghiên cứu:
Các phương pháp nghiên cứu tôi đã sử dụng để thực hiện chuyên đề này:
+Thông tin, số liệu được thu thập từ các tài liệu sẵn có trong công ty, các nguồn tài
liệu về công ty và các vấn đề liên quan từ các nguồn trên Internet, các website có uy
tín, các bài báo và tài liệu đã được xuất bản liên quan đến công ty. Các tư liệu này
Quy trình nhập khẩu là một quá trình bao gồm các bước cần được thực hiện
để mua hàng hóa và dịch vụ từ quốc gia này sang quốc gia khác, Quy trình nhập
khẩu gồm nhiều bước thực hiện, mỗi bước là một mắt xích trong quy trình, đòi hòi
mỗi mắt xích phải hoàn thành đúng đắn và hiệu quả vì sức mạnh của một quy trình
nằm ở mắt xích yếu nhất của quy trình đó.
Nhập khẩu là một hoạt động quan trọng của thương mại Quốc tế, nó có tác
động trực tiếp và quyết định tới sản xuất, đời sống của mỗi Quốc gia. Nhập khẩu
cho phép khai thác tiềm năng thế mạnh của các nước trên thế giới, bổ sung những
hàng hoá mà trong nước không sản xuất được, sản xuất không đáp ứng được nhu
cầu hoặc thay thế hàng hoá mà trong nước có thể sản xuất được nhưng không hiệu
quả, làm cho thị trường hàng hoá trong nước phong phú về chủng loại, quy cách và
đáp ứng tốt hơn nhu cầu tiêu dùng của xã hội. Với tính bổ sung và thay thế, nếu
nhập khẩu được thực hiện tốt sẽ tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế trong
nước.
Nhập khẩu là chiếc cầu nối thông suốt nền kinh tế trong nước với nền kinh
tế thế giới, tạo điều kiện cho phân công lao động và hợp tác quốc tế, phát huy lợi
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thế so sánh của mỗi quốc gia trên cơ sở chuyên môn hoá sản xuất. Nhập khẩu tạo
điều kiện mở mang dân trí, tiếp cận nền công nghiệp hiện đại của các nước phát
triển, tiếp thu tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ trên thế giới và áp dụng nó vào
sản xuất nhằm hiện đại hoá nền kinh tế đất nước, tạo ra một năng lực sản xuất mới,
tiết kiệm được chi phí sản xuất và thời gian lao động.
Thông qua nhập khẩu, khả năng sản xuất và tiêu dùng của đất nước được
nâng lên, nhu cầu thị trường trong nước được đáp ứng. Đồng thời nhập khẩu tạo ra
một động lực cho sản xuất trong nước phát triển bằng sự cạnh tranh giữa hàng nội
và hàng ngoại. Để tồn tại các nhà sản xuất trong nước phải vươn lên, nâng cao chất
lượng sản phẩm và dịch vụ phục vụ khách hàng. Sự cạnh tranh sẽ loại bỏ các đơn
vị kinh doanh kém hiệu quả, đưa sản xuất trong nước đi lên vững vàng.
Hoạt động nhập khẩu được khẳng định cùng với sự phát triển của nền kinh
tiêu dùng, khả năng mở rộng sản xuất, giá cả và xu hướng biến động của nó. Những
điều đó phải trở thành nếp thường xuyên trong tư duy các nhà kinh doanh nhập
khẩu để nắm bắt được những cơ hội trong kinh doanh thương mại quốc tế.
1.3.1 Nghiên cứu thị trường:
Nghiên cứu thị trường là một việc làm cần thiết đầu tiên đối với bất kỳ một
doanh nghiệp nào muốn tham gia vào thương mại Quốc tế. Theo nghĩa rộng nghiên
cứu thị trường là quá trình điều tra để tìm triển vọng bán hàng cho một hàng hoá
hay một nhóm hàng hoá cụ thể và phương pháp thực hiện mục tiêu đó. Nghiên cứu
thị trường trong kinh doanh thương mại Quốc tế bao gồm một loạt các thủ tục và kỹ
thuật được đưa ra nhằm giúp cho các nhà kinh doanh có đầy đủ thông tin cần thiết
để đưa ra những quyết định chính xác về marketing. Đó là cả một quá trình tìm
kiếm khách quan có hệ thống và sự phân tích thông tin. Ngoài việc nắm vững tình
hình trong nước và đường lối chính sách luật pháp của các quốc gia có liên quan
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
đến hoạt động ngoại thương, doanh nghiệp còn phải nhận biết mặt hàng nhập khẩu
và nắm vững thị trường ngoài nước.
10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
a. Nghiên cứu thị trường trong nước
Nghiên cứu thị trường trong nước nhằm chọn mặt hàng kinh doanh có lợi
nhất, kết hợp với việc nghiên cứu thị trường ngoài nước nó sẽ giúp các nhà kinh
doanh XNK trả lời hai câu hỏi chính: Nhập khẩu mặt hàng gì và xuất khẩu mặt hàng
gì là có lợi nhất. Muốn thực hiện được thì các nhà XNK phải làm rõ các câu hỏi sau:
- Nhu cầu hàng hoá trong nước; mặt hàng gì là cần nhất và có xu hướng là sẽ có
một lượng cầu lớn nhất? Nếu kỹ hơn thì cả về quy cách, chủng loại, mẫu mã,
bao bì ... Càng có nhiều thông tin chi tiết về các yêu cầu này thì càng có lợi cho
các nhà kinh doanh xác định đúng chiến lược kinh doanh của mình. Tình hình
mặt hàng đó như thế nào? Mặt hàng đó đang ở giai đoạn nào của chu kỳ sống?
khả năng tài chính và tình hình tài chính, thậm chí cả về tình hình tài chính, tình
hình kinh doanh của họ, uy tín của họ trong kinh doanh, thậm chí cả thái độ
chính trị của họ nữa.
c. Nghiên cứu dung lượng thị trường
Dung lượng thị trường là khối lượng hàng hoá được giao dịch trên một
phạm vi thị trường nhất định trong một thời gian nhất định (thường là một năm).
Đối với đơn vị kinh doanh nhập khẩu, nghiên cứu dung lượng thị trường cần xác
định khả năng cung cấp của thị trường bao gồm việc xem xét đặc điểm, tính chất,
khả năng sản xuất hàng thay thế, khả năng lựa chọn mua bán.
Dung lượng thị trường là không cố định, nó thay đổi tuỳ theo diễn biến của
thị trường do tác động của nhiều nhân tố trong những giai đoạn nhất định. Căn cứ
vào thời gian chúng ảnh hưởng đến thị trường, các nhân tố ảnh hưởng tới dung
lượng thị trường có thể chia thành 3 nhóm.
Nhóm nhân tố thứ nhất: Là nhóm các nhân tố làm cho dung lượng thị
trường biến đổi có tính chất chu kỳ. Trong nhóm này có thể kể ra các nhân tố quan
trọng như:
- Sự vận động của tình hình kinh tế của các nước trên thế giới đặc biệt là các nước
có ảnh hưởng tới việc buôn bán XNK loại hàng hoá đó, tính chất thời vụ trong
quá trình sản xuất, phân phối và lưu thông hàng hoá.
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Sự vận động của tình hình kinh tế trên thế giới đặc biệt là các nước phát triển là
nhân tố quan trọng nhất có ảnh hưởng tới tất cả các thị trường hàng hoá. Sở dĩ
như vậy là vì đây là những trung tâm kinh tế lớn, vừa là một người cung ứng
chủ chốt đối với những trang thiết bị máy móc hiện đại vừa là một khách hàng
đầy tiềm năng. Sự ảnh hưởng này có thể được nghiên cứu chỉ trong một phạm vi
khu vực. Qua sự nghiên cứu chung đó cần đi tới nghiên cứu sự vận động của các
nước giữ vai trò chủ yếu trong việc XNK những hàng hoá mà doanh nghiệp kinh
doanh đang quan tâm. Những nhân tố này rất quan trọng vì nó có khả năng ảnh
hưởng rất lớn tới xu hướng XNK hàng hoá.
d. Nghiên cứu giá cả hàng hoá trên thị trường thế giới
Nghiên cứu giá cả hàng hoá trên thị trường thế giới là một nhân tố rất quan
trọng đối với bất cứ một đơn vị nào, giá cả hàng hoá trên thị trường thế giới phản
ánh quan hệ cung cầu hàng hoá đó trên thị trường đó. Do đó vấn đề xác định đúng
đắn giá cả hàng hoá trong kinh doanh thương mại quốc tế sẽ có ý nghĩa rất quan
trọng đối với hiệu quả kinh doanh xuất nhập khẩu . Giá cả ở đây là giá cả quốc tế,
giá đó phải là giá của những giao dịch thương mại thông thường, không kèm theo
một điều kiện đặc biệt nào và thanh toán bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi được. Xu
hướng biến động giá cả của các loại hàng hoá trên thị trường thế giới rất phức tạp,
để có thể dự đoán xu hướng biến động của giá cả hàng hoá đó trên thị trường trên
thế giới đòi hỏi các doanh nghiệp phải đánh giá chính xác các nhân tố ảnh hưởng
đến xu hướng biến đổi giá cả đó.
Những nhân tố ảnh hưởng chủ yếu bao gồm:
- Nhân tố chu kỳ: Sự vận động có tính quy luật của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa
và tính thời vụ của một số hàng hoá là hai nhân tố có tính chất chu kỳ tác động
tới sự thay đổi giá cả của hàng hoá nền kinh tế biến động theo chu kỳ hết hưng
thịnh lại đến suy thoái, các chu kỳ đó cứ lặp đi lặp lại. Khi nền kinh tế hưng
thịnh thì giá cả ổn định, cung cầu đều tăng. Cung giảm cầu giảm là biểu hiện của
14
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nền kinh tế suy thoái. Đối với một số loại hàng hoá khi vào thời vụ chính thì
cung tăng do đó giá có xu hướng giảm.
- Nhân tố lũng đoạn: Đây là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự hình thành giá
cả của hàng hoá trên thị trường quốc tế. Lũng đoạn làm xuất hiện nhiều mức giá
khác nhau, thậm chí cho cùng một loại hàng hoá. Khi cung vượt cầu thì tổ chức
lũng đoạn khống chế cả sản xuất và tiêu dùng, họ không giảm giá mà thi hành
biện pháp thu hẹp sản xuất để giảm cung.
- Nhân tố cung cầu: Là những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến lượng cung cấp
hoặc khối lượng tiêu thụ của hàng hoá trên thị trường do vậy ảnh hưởng lớn tới
giá cả.
nhất, chọn được điều kiện tốt nhất (như xuất với giá cao, nhập với giá thấp), khi xác
định chiến lược tấn công tức là đã nắm chắc được quyền chủ động trên thị trường,
do đó đòi hỏi doanh nghệp phải tận dụng được những điều kiện thuận lợi này nếu
không sẽ là sự bỏ lỡ cơ hội trong kinh doanh.
Nếu doanh nghiệp nắm thị trường không chắc, không đảm bảo được quyền
chủ động hoàn toàn trên thị trường thì doanh nghiệp có thể áp dụng chiến lược
“bình quân”, việc xác định giá cả lúc đó sẽ là giá cả bình quân của cả năm hoặc cả
một thời kỳ.
1.3.3 Đàm phán ký kết hợp đồng:
Sau khi chuẩn bị đầy đủ công tác trên, doanh nghiệp bước vào một khâu
quan trọng của việc ký kết hợp đồng đó là đàm phán. Đàm phán là việc bàn bạc trao
đổi với nhau các điều kiện mua bán giữa các doanh nghiệp XNK để đi đến thống
nhất ký kết hợp đồng. Người ta thường dùng các loại đàm phán sau:
a. Đàm phán qua thư tín
Đây là một hình thức giao dịch chủ yếu giữa các nhà kinh doanh XNK, khi
tiếp xúc ban đầu và ngay cả khi hai bên đã có điều kiện gặp gỡ trực tiếp thì việc duy
trì quan hệ cũng vẫn phải qua thư tín thương mại. So với gặp gỡ trực tiếp thì việc
duy trì quan hệ qua thư tín tiết kiệm được nhiều chi phí, trong cùng một lúc có thể
giao dịch với nhiều khách hàng ở nhiều nước khác nhau. Giao dịch bằng thư tín đức
tính kiên nhẫn là cần thiết. Kiên nhẫn trả lời khách hàng về mọi vấn đề. Kiên nhẫn
16
Website: Email : Tel : 0918.775.368
theo đuổi khách hàng bằng nhiều thư liên tiếp và quan hệ trong thời gian dài. Kinh
nghiệm cho thấy rằng, khi lựa chọn những khách hàng quen biết, có giao dịch thư từ
trước đó, được ưu tiên hơn những khách hàng mới xuất hiện lần đầu. Tuy nhiên
việc đàm phám bằng thư tín vẫn là lịch sự và trang trọng nhất.
b. Đàm phán qua điện thoại
Việc trao đổi qua điện thoại nhanh chóng, giúp người giao dịch tiến hành
đàm phán một cách khẩn trương, đúng vào thời cơ cần thiết. Nhưng phí tổn điện
thoại giữa các nước rất cao, các cuộc trao đổi bằng điện thoại thường phải hạn chế
khẩu đưa ra. Trong chào hàng người ta nêu rõ: tên hàng, quy cách, phẩm chất,
giá cả, số lượng, cơ sở điều kiện giao hàng, thời hạn giao nhận, điều kiện thanh
toán, bao bì, ký mã hiệu, thể thức thanh toán … Nếu hai bên đã có quan hệ từ
trước thì chào hàng chỉ nêu những nội dung cần thiết cho lần giao dịch đó.
Những điều kiện còn lại sẽ áp dụng như những hợp đồng đã ký. Trong thương
mại Quốc tế, nếu xét theo mức độ chủ động của người xuất khẩu, người ta phân
biệt chào hàng chủ động và chào hàng thụ động. Còn nếu căn cứ vào sự ràng
buộc trách nhiệm của người chào hàng, có chào hàng cố định và chào hàng tự
do.
- Đặt hàng: Là lời đề nghị ký kết hợp đồng xuất phát từ phía người mua được
đưa ra dưới hình thức đặt hàng. Trong đặt hàng, người mua nêu cụ thể về hàng
hoá và tất cả những nội dung cần thiết cho việc ký kết hợp đồng. Trong thực tế,
người ta chỉ đặt hàng với các khách hàng có quan hệ thường xuyên nên ta
thường gặp các đặt hàng với một số điều kiện cơ bản và một vài điều kiện riêng
cho lần đặt hàng đó. Những điều kiện khác hai bên áp dụng điều kiện chung đã
thoả thuận hoặc những điều kiện của hợp đồng đã ký trong lần giao dịch trước.
- Hoàn giá: Khi một bên nhận được chào hàng (hoặc đặt hàng) mà không chấp
nhận hoàn toàn với chào hàng (hoặc đặt hàng) đó, người ta đưa ra một đề nghị
mới thì đề nghị này gọi là hoàn giá. Khi có hoàn giá, chào hàng trước đó coi như
18
Website: Email : Tel : 0918.775.368
huỷ bỏ. Trong buôn bán quốc tế, mỗi lần giao dịch thường trải qua nhiều lần
hoàn giá mới đi đến kết thúc.
- Chấp nhận: Chấp nhận là sự đồng ý vô điều kiện của chào hàng (hoặc đặt hàng)
của người bán hoặc người mua mà bên kia đưa ra. Điều đó có nghĩa là người
nhận giá đồng ý hoàn toàn vô điều kiện mọi nội dung của chào hàng (đặt hàng)
trong thời hạn hiệu lực của chúng và sự đồng ý vô điều kiện này được truyền đạt
tới người phát ra đề nghị. Khi đó, một hợp đồng sẽ được xác lập.
- Xác nhận: Xác nhận là một văn kiện ghi lại mọi điều đã thoả thuận thống nhất
giữa người mua và người bán. Thông thường nó được thành lập hai bản, bên xác
quốc gia, từ nước này sang nước khác. Điều này quyết định tính phức tạp và tạo ra
nhiều chi phí trong buôn bán quốc tế.
Việc thanh toán rất phức tạp do sự biến động của tỷ giá, liên quan đến hệ
thống thanh toán quốc tế tuỳ thuộc vào quy định, đồng tiền thanh toán trong hợp
đồng là ngoại tệ hay có nguồn gốc ngoại tệ đối với một trong hai bên hoặc cả hai
bên ký kết hợp đồng.
b. Nội dung của hợp đồng xuất nhập khẩu
Nội dung của hợp đồng xuất nhập khẩu được thể hiện qua các điều khoản
mà các bên đã thoả thuận, cam kết thực hiện. Về cơ cấu, hợp đồng xuất nhập khẩu
có thể chia thành bốn phần và kèm theo phụ lục. Xét theo nhóm các điều khoản thì
nó gồm ba nhóm chính: Nhóm điều khoản cơ bản là những điều khoản không thể
thiếu đối với hợp đồng; Nhóm điều khoản đương nhiên là các tập quán Thương mại
quốc tế được hai bên áp dụng và không cần phải dẫn chiếu nội dung của nó vào
trong hợp đồng; Nhóm điều khoản tuỳ ý là các thoả thuận khác mà hai bên thấy cần
thiết phải có trong hợp đồng.
Thông thường nội dung của một hợp đồng xuất nhập khẩu bao gồm những
điều khoản chính sau đây:
20
Website: Email : Tel : 0918.775.368
(1) Tên hàng
Tên hàng là một điều khoản quan trọng của hợp đồng kinh doanh xuất nhập
khẩu. Nó nói lên chính xác đối tượng mua bán trao đổi. Vì vậy người ta luôn tìm
cách diễn đạt chính xác tên hàng.
Có nhiều cách để ghi tên hàng, thông thường người ta ghi tên của hàng hoá
và kèm theo nó một hoặc một số đặc tính. Các đặc tính đó có thể là: Tên thông
thường, tên khoa học, tên thương mại, địa phương sản xuất, hãng sản xuất, quy cách
chính của hàng hoá, nhãn hiệu của hàng hoá, công dụng của hàng hoá, số hiệu hạng
mục của hàng hoá trong danh mục hàng hoá thống nhất.
(2) Số lượng và cách xác định
Đây là điều khoản nói nên mặt lượng của hàng hoá giao dịch. Điều khoản
bì, kích thước bao bì, số lớp bao bì … Cùng với chất lượng, điều khoản này cũng
phải chỉ rõ phương thức cung cấp bao bì là do bên bán cung cấp bao bì, bên bán ứng
trước bao bì hay bên mua gửi bao bì đến, và quan trọng hơn, giá cả của bao bì được
xác định như thế nào? Tính vào giá của hàng hoá, do bên mua trả riêng hay giá bao
bì được tính như giá của hàng hoá.
Ngày nay, bao bì không đơn thuần chỉ dùng để bao gói và vận chuyển hàng
hoá mà bao bì còn là phương tiện để bán hàng. Do vậy trên bao bì ngoài những ký
mã hiệu để bảo quản, vận chuyển thì còn phải ghi ký hiệu, tên sản phẩm, tên hãng
hay biểu tượng của nhà sản xuất … để phục vụ cho công tác quảng cáo và bán hàng.
Việc ghi ký mã hiệu trên bao bì cũng được hai bên thống nhất và thể hiện trong điều
khoản này.
(5) Điều kiện cơ sở giao hàng
Điều kiện cơ sở giao hàng là điều kiện cơ bản trong hợp đồng thương mại
Quốc tế. Nó phản ánh mối quan hệ hàng hoá với điều kiện giao hàng (như địa điểm
giao hàng và các yếu tố cấu thành giá)
Điều kiện cơ sở giao hàng quy định những cơ sở có tính nguyên tắc của
việc giao nhận hàng hoá giữa bên bán và bên mua về sự phân chia trách nhiệm
22
Website: Email : Tel : 0918.775.368
trong việc giao nhận hàng, sự phân chia về chi phí và sự di chuyển rủi ro, tổn thất
về hàng hoá từ người bán sang người mua.
Tuỳ theo khả năng thuê tàu của các bên mà có thể quy định những điều
kiện cơ sở giao hàng khác nhau cho từng nhóm hàng khác nhau. Có khi thiết bị
được giao theo điều kiện FOB (cảng bên bán) còn phụ tùng vật liệu được giao theo
điều kiện CIF (cảng bên mua), cũng có khi cả đối tượng mua và bán đều được giao
theo một điều kiện cơ sở giao hàng.
Ở Việt nam, do đội tàu chưa phát triển, chưa đáp ứng được nhu cầu về vận
chuyển, do vậy phía ta thường nhường quyền thuê tàu cho bên bán và nhập khẩu
theo điều kiện CIF.
(6) Giá cả
định cảng đến mà không quy định cảng đi, cảng thông qua. Vì vậy, hai bên còn thoả
thuận quy định địa điểm giao hàng. có thể quy định một cảng và nhiều cảng hoặc
quy định cảng (ga) khẳng định, cảng (ga) lựa chọn.
Thứ ba, cần lựa chọn một phương thức giao hàng mà hai bên đã nhất trí
thông qua. Phần này sẽ quyết định việc giao nhận được tiến hành ở một nơi nào đó
là giao nhận sơ bộ hay giao nhận cuối cùng, quy định việc giao nhận số lượng và
chất lượng hàng hoá cũng như phương pháp tiến hành bằng cảm quan hay phân tích
và việc giao nhận có thể tiến hành trên toàn bộ hàng hoá hoặc chỉ kiểm tra điển
hình.
Cuối cùng, là việc quy định thông báo giao hàng gồm số lần thông báo và
nội dung của một lần thông báo giao hàng.
Ngoài ra, hai bên còn có một số quy định khác về việc giao hàng. Chẳng hạn,
hàng hoá có khối lượng lớn có thể quy định giao từng đợt hoặc giao một lần, nếu
dọc đường cần thay đổi phương tiện vận chuyển thì có thể quy định cho phép
chuyển tải hoặc hàng hoá có thể đến trước chứng từ thì quy định vận đơn đến chậm
được chấp nhận.
(8) Thanh toán
24
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Trong điều khoản thanh toán, các bên phải xác định những vấn đề về đồng
tiền thanh toán, thời hạn thanh toán, phương thức thanh toán và điều kiện đảm bảo
hối đoái.
Đồng tiền thanh toán có thể trùng hợp hoặc không trùng hợp với đồng tiền
tính giá. Khi chúng là hai đồng tiền khác nhau, người ta phải xác định tỷ giá để quy
đổi hai đồng tiền đó. Do vậy, phải lựa chọn tỷ giá của công cụ thanh toán (bằng
điện hay bằng thư) tỷ giá của thị trường tiền tệ (nước xuất khẩu, nước nhập khẩu,
hay nước thứ ba) và đó là tỷ giá mua vào hay bán ra.
Thời hạn thanh toán có thể được quy định là trả ngay, trả trước, trả sau hay
có thể kết hợp các hình thức đó với nhau trong cùng một hợp đồng.
Việc lựa chọn phương thức thanh toán cũng cần phải thể hiện trong hợp