MỞ ĐẤU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là Quốc gia có tiềm năng to lớn về thủy điện chạy theo suốt
toàn bộ đất nước. Khảo sát trên 2200 con sông có chiều dài lớn hơn 10km thì
tổng tiềm năng về thủy điện ở nước ta theo lí thuyết đạt khoảng 300 tỷ
kWh/năm và tổng tiềm năng về thủy điện có tính khả thi đạt 80 - 100 tỷ
kWh/năm với tỉ lệ công suất là 18.000 - 20.000 MW.
Theo quy hoạch phát triển ngành điện cả nước đến năm 2015 được Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt, công suất lắp đặt các nhà máy thủy điện đến năm 2015
khoảng hơn 18.000 MW, sản lượng điện trung bình hàng năm trên 80 tỷ KWh.
Với những lợi ích to lớn từ việc khai thác nguồn năng lượng do các con
sông mang lại, ngày càng có nhiều công trình thủy điện được xây dựng. Đặc
biệt là tại các hệ thống sông có tiền năng to lớn về thủy điện như: sông Đà,
sông Lô, sông Chảy… ở miền Bắc. Sông Mã, sông Cả ở miền Trung. Sông
Đồng Nai ở miền Nam.
Ngày 2/12/2006 tại xã Ít Ong, huyện Mường La, tỉnh Sơn La đã tiến
hành khởi công xây dựng công trình trọng điểm Quốc gia đó là nhà máy thủy
điện Sơn La. Các thông số kỹ thuật của thủy điện Sơn La:
- Công suất: 2.400 MW
- Đập: Cao 138 m; dài: 928 m.
- Hồ chứa: Hồ chứa thủy điện Sơn La trên sông Đà thuộc địa phận hai
tỉnh Sơn La và Lai Châu với phương án cao trình mực nước dâng bình thường là
215 mét; diện tích hồ chứa 224 Km
2
; dung tích toàn bộ hồ chứa 9,26 tỉ m
3
nước.
- Bờ phải nối với các xã: Chiềng Ngàm, Liệp Tè, Bó Mười huyện
Thuận Châu; xã Mường Sại, Chiềng Bằng, Cà Nàng, Nậm Ét, Mường Giàng
huyện Quỳnh Nhai.
1
thời tiết của huyện Mường La, tỉnh Sơn La”.
Đề tài được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS-TS Nguyễn
Hoàng Trí giám đốc trung tâm nghiên cứu và giáo dục môi trường, trường Đại
học Sư phạm Hà Nội.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá được những tác động của việc tích nước lòng hồ thủy điện
Sơn La đến sự thay đổi điều kiện về điều kiện tự nhiên gây ảnh hưởng đến
điều kiện khí hậu của huyện Mường La.
So sánh được sự thay đổi về điều kiện khí hậu (nhiệt độ, lượng mưa, độ
ẩm trung bình cả năm) trước và sau khi có thủy điện.
Phân tích những thay đổi đó là thay đổi tích cực hay tiêu cực.
3. Đối tượng, phạm vi và thời gian nghiên cứu nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là những biến đổi về điều kiện tự nhiên dẫn đến
sự thay đổi về các yếu tố khí hậu (nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm) của huyện
Mường La, tỉnh Sơn La.
Phạm vi nghiên cứu: khu vực lòng hồ thủy điện Sơn La thuộc huyện
Mường La, tỉnh Sơn La.
Thời gian nghiên cứu: Tổng thời gian nghiên cứu của đề tài là từ tháng
9 năm 2012 đến tháng 12 năm 2013.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp kế thừa
Thu thập các tài liệu liên quan đến việc đánh giá tác động của việc làm
thủy điện đến đến môi trường, đặc biệt là các tài liệu tập chung vào việc đánh
giá tác động của việc làm thủy điện dẫn đến sự thay đổi về hệ sinh thái từ đó
tác động ngược lại đến môi trường.
3
Phân loại và hệ thống hoá thông tin thu thập từ các nguồn, các tài liệu.
Phân tích, tổng hợp tài liệu, xác định và làm rõ: Tính cấp thiết, tính mới của
vấn đề nghiên cứu; kế thừa, phát triển và bổ sung so với các nghiên cứu trước.
4.2. Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa
phát triển hệ sinh thái rừng.
5. Bố cục đề tài
Đề tài gồm 4 chương:
- Chương 1: “Tổng quan về đặc điểm khu vực nghiên cứu”: Giới thiệu
về vị trí địa lí, đặc điểm tự nhiên, khí hậu… của khu vực nghiên cứu.
- Chương 2: “Đặc điểm thời tiết huyện Mường La trước khi có thủy
điện”: Phân tích tổng thể khí hậu của huyện Mường La về: Nhiệt độ, lượng
mưa, độ ẩm trước khi có thủy điện, từ đó làm căn cứ so sánh để thấy được sự
thay đổi về khí hậu trước và sau khi có thủy điện.
- Chương 3: “Những thay đổi về đặc điểm thời tiết của huyện Mường
La do việc tích nước lòng hồ thủy điện mang lại”: Trình bày những thay đổi
về điều kiện tự nhiên trong quá trình thực hiện xây dựng nhà máy và tích
nước lòng hồ thủy điện. Từ những thay đổi đó dẫn đến sự biến động về điều
kiện khí hậu, so sánh với những đặc điểm khí hậu đã phân tích ở chương 2 để
làm rõ vấn đề.
- Chương 4: “Kết quả và bàn luận”: Đánh giá lại việc thay đổi về điều
kiện tự nhiên do việc xây dựng và tích nước lòng hồ thủy điện từ đó dẫn đến
sự thay đổi về đặc điểm thời tiết của khu vực, phân tích những thay đổi đó là
thay đổi tích cực hay tiêu cực.
5
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU
1.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CỦA TỈNH SƠN LA
1.1.1. Vị trí địa lí
Sơn La là tỉnh miền núi cao ở phía Tây Bắc. Phía Đông giáp tỉnh Phú
Thọ và Hòa Bình, phía Tây giáp tỉnh Lai Châu và Điện Biên, phía Nam giáp
tỉnh Thanh Hóa và nước Lào, phía Bắc giáp tỉnh Yên Bái và Lào Cai. Sơn La
nằm trong tọa độ địa lí từ 20
0
39
Điểm đặc biệt của địa hình Sơn La là có độ dốc lớn và mức độ chia cắt
sâu, chia cắt ngang mạnh. Trên 87% diện tích đất tự nhiên của Sơn La có độ
6
dốc 25
0
trở lên, điều này làm cho các đồng ruộng của tỉnh rất nhỏ hẹp, chủ
yếu là ruộng bậc thang. Sơn La cũng là tỉnh có diện tích đất trống đồi trọc khá
lớn, chiếm 50% diện tích đất tự nhiên của tỉnh.
1.1.3. Khí hậu
Sơn La có khí hậu nhiệt đới gió mùa chí tuyến của vùng núi phía Bắc.
Tuy nhiên khí hậu của Sơn La cũng có những nét đặc thù, nhờ dãy Hoàng
Liên Sơn chắn gió nên gió mùa Đông Bắc không ảnh hưởng trực tiếp đến
vùng. Vì vậy đặc điểm quan trọng nhất của khí hậu Sơn La là có một mùa
đông tương đối ấm và suốt mùa đều có tình trạng khô hanh điển hình của khí
hậu gió mùa.
Do địa hình cao nên khí hậu mang tính chất á nhiệt đới rõ rệt với nhiệt
độ cao nhất là khoảng 25
0
C và nhiệt độ lạnh nhất khoảng 11
0
C, nhiệt độ trung
bình năm khoảng 21
0
C. Chế độ nhiệt thay đổi theo mùa và phân hóa theo độ
cao. Lượng mưa trung bình hàng năm 1.200 - 1.600 mm, trung bình hàng năm
có 123 ngày mưa, độ ẩm không khí bình quân là 81%.
Những năm gần đây nhiệt độ không khí trung bình/năm có xu hướng
tăng hơn 20 năm trước đây từ 0,5
0
C - 0,6
vùng rừng kinh tế hàng hoá có giá trị cao. Rừng Sơn La có nhiều thực vật quý
hiếm, có các khu đặc dụng có giá trị đối với nghiên cứu khoa học và phục vụ
du lịch sinh thái trong tương lai. Hiện nay diện tích rừng của Sơn La là
480.057ha, trong đó rừng tự nhiên là 439.592ha, rừng trồng 41.047ha. Độ che
phủ của rừng đạt khoảng 40%, còn thấp so với yêu cầu - nhất là đối với một
tỉnh có độ dốc lớn, mưa tập trung theo mùa, lại có vị trí là mái nhà phòng hộ
cho đồng bằng Bắc Bộ, điều chỉnh nguồn nước cho thuỷ điện Hoà Bình Sơn
La có 4 khu rừng đặc dụng bảo tồn thiên nhiên: Xuân Nha (Mộc Châu)
38.000 ha, Sốp Cộp (Sông Mã) 27.700 ha, Copia (Thuận Châu) 9.000 ha, Tà
Xùa (Bắc Yên) 16.000 ha.
Theo số liệu kiểm kê của Đoàn Điều tra quy hoạch và phát triển nông
thôn tỉnh Sơn La, trữ lượng rừng hiện có là 16,5 triệu m
3
gỗ và 202,3 triệu cây
tre nứa, chủ yếu là rừng tự nhiên. Rừng trồng có trữ lượng gỗ 154 ngàn m
3
và
220 ngàn cây tre nứa. Toàn tỉnh còn 651.980 ha đất chưa sử dụng(chiếm
46,4% tổng diện tích tự nhiên), trong đó đất có khả năng phát triển nông, lâm
nghiệp khoảng 500.000 ha (phần lớn dùng cho phát triển lâm nghiệp). Đây
cũng là nguồn tài nguyên quý giá, một thế mạnh cho phát triển kinh tế - xã hội
của tỉnh. Khi xây dựng xong thuỷ điện Sơn La, sẽ có một phần rừng và đất
8
rừng bị ngập (khoảng 2.451 ha), trong đó chủ yếu là rừng phòng hộ. Nhiệm
vụ quan trọng là phải tận thu gỗ trong lòng hồ nước khi nước ngập và sau đó
trồng rừng phòng hộ dọc theo hai bên Sông Đà và toàn lưu vực để bảo vệ
nguồn nước cho công trình thuỷ điện quan trọng này.
1.1.4.2. Động, thực vật
Hệ thực vật ở Sơn La có 161 họ, 645 chi và khoảng 1.187 loài, bao
gồm cả thực vật hạt kín và hạt trần, thực vật nhiệt đới, á nhiệt đới và ôn đới.
trung bình là 85%.
1.2.4. Tài nguyên thiên nhiên
1.2.4.1. Thảm thực vật và tài nguyên rừng
Theo kết quả nghiên cứu hiện trạng thảm thực vật lưu vực lưu vực sông
Đà thì lưu vực hồ chứa thủy điện Sơn La có các kiểu thảm thực vật sau đây:
1. Rừng rậm, ẩm nhiệt đới thường xanh mưa mùa cây lá rộng ở đai thấp
(<700m) trên đất feralit, phát triển trên các loại đá mẹ khác nhau (trừ đá vôi).
2. Rừng rậm, ẩm, nhiệt đới thường xanh mưa mùa cây lá rộng ở núi
thấp (700-1.600m) trên đất feralit mùn, phát triển trên các loại đá mẹ khác
nhau (trừ đá vôi).
3. Rừng rậm, ẩm, nhiết đới thường xanh mưa mùa cây lá rộng hoặc
hỗn giao cây lá rộng và cây lá kim ở núi trung bình (1.600-2.600m).
4. Rừng rậm, ẩm, nhiệt đới thường xanh mưa mùa cây lá rộng ở núi
cao (>2.600m).
5. Rừng tre, nứa ở đai thấp và núi thấp (<1.600m).
6. Rừng rậm nhiệt đới nửa ẩm, nửa rụng lá mưa mùa cây lá rộng ở đất
thấp (<700m).
7. Rừng rậm cây lá rộng nửa ẩm, nửa rụng lá, nhiệt đới mưa mùa ở núi
thấp (700-1.600m).
8. Trảng cây bụi ở đất thấp, núi thấp và núi trung bình (từ 0-2.600m).
9. Trảng cỏ ở đất thấp, núi thấp và núi trung bình (từ 0-2.600m).
10
10.Rừng rậm nhiệt đới thường xanh cây lá rộng, đai đất thấp (<700m)
trên núi đá vôi.
11.Trảng cây bụi trên đá vôi đai đất thấp (<700m).
12.Rừng rậm thường xanh cây lá rộng mưa mùa trên đất phong hóa từ
đá vôi đai núi thấp (700-1.600m).
13.Trảng cây bụi trên núi đá vôi đai núi thấp (700-1.600m).
14.Rừng trồng.
15.Thảm cây trồng nông nghiệp.
quan trọng này.
1.2.4.2. Tài nguyên động vật
Tài nguyên động vật trên lưu vực và vùng dự án theo nghiên cứu của
Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật là khá phong phú về thành phần và số
lượng.Các loài,họ đông đảo gồm loài: Dơi muỗi, khỉ mặt đỏ, mèo rừng, cầy
hương, lợn rừng, các loài sóc…Các loài chim như: Vẹt, bói cá, gõ kiến, sáo,
yểng, khướu,quạ…Các loài bò sát như: Tắc kè, kỳ nhông, kỳ đà, rắn, cóc,ếch
nhái…Nhìn chung số lượng và thành phần loài động vật trên lưu vực trong
lịch sử khá phong phú nhưng do nạn săn bắn và ảnh hưởng của việc phá rừng
nên hiện nay thành phần và số lượng các loài đã giảm mạnh, có loài đã biến
mất hoàn toàn. Các loài có giá trị kinh tế, bị khai thác mạnh chỉ phân bố hạn
chế ở một số khu vực còn rừng trên đỉnh núi cao.
12
CHƯƠNG 2
ĐẶC ĐIỂM THỜI TIẾT CỦA HUYỆN MƯỜNG LA TRƯỚC
KHI CÓ THỦY ĐIỆN
Mường La là huyện bên lưu vực con sông Đà nên có điều kiện khí hậu
có phần khác biệt với các huyện khác trong tỉnh, hay nói cách khác huyện
Mường La là tiểu vùng khí hậu(vi khí hậu) của tỉnh Sơn La.
Khái niệm về vi khí hậu: vi khí hậu là một vùng khí quyển địa phương
có khí hậu khác biệt với xung quanh. Thuật ngữ này cũng còn được dùng để
chỉ một một khu vực nhỏ từ vài mét vuông (khu vườn) hay các khu vực rộng
lớn hơn. Vi khí hậu tồn tại gần các thể nước đối tượng có thể làm lạnh khí
quyển khu vực, hoặc các khu đô thị tập chung nhiều các tòa nhà gạch, bê tông
hoặc nhựa đường…các đối tượng có thể hấp thụ năng lượng mặt trời rồi nung
chúng và phát nhiệt trở lại, làm nóng không khí cung quanh.
Một yếu tố khác góp phần tạo ra vi khí hậu là hướng của các sườn dốc
của một khu vực. Các sườn có bề mặt quay về hướng Nam của bán cầu Bắc
và các sườn có bề mặt quay về hướng Bắc của bán cầu Nam phơi sáng nhiều
hơn các sườn dốc khác do vậy thời gian được mặt trời nung nóng cũng kéo
cũng có sự chênh lệch khá rõ rệt.
Trong giới hạn của luận văn xin được lấy 2 năm từ năm 2008 đến năm
2009 (thủy điện Sơn La đang thi công) làm dẫn chứng:
Bảng thống kê số liệu nhiệt độ không khí trung bình tháng trong năm 2008:
Năm
Tháng
I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII
2008
18.2 14.6 23.3 27.1 28.3 27.5 27.2 27.8 27.1 25.6 20.1 17.7
14
+ Nhiệt độ trung bình trong năm 2008: TB = 23.7
o
C
+ Nhiệt độ cao nhất trong năm đo được vào ngày 12/4 là Tx = 39.0
o
C
+ Nhiệt độ thấp nhất trong năm đo được vào ngày 03/01 là Tm = 7.5
o
C
Bảng thống kê số liệu nhiệt độ không khí trung bình tháng trong năm 2009:
Năm Tháng
I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII
2009
14.3 21.1 21.3 25.0 26.3 22.8 25.3 25.8 26.4 22.5 19.5 14.0
15
+ Nhiệt độ trung bình trong năm 2009: TB = 22.0
0
C
+ Nhiệt độ cao nhất trong năm đo được vào ngày 09/5 là Tx = 39.5
o
f
A
=
Trong đó: f: độ ẩm
a: độ ẩm tuyệt đối (độ ẩm ở điều kiện nhiệt độ tại thời điểm đo)
A: độ ẩm cực đại (độ ẩm tối đa trên lý thuyết ở điều kiện nhiệt độ
tại thời điểm đo)
2.2.2 Khái quát về đặc điểm và tính chất của vùng
Do mang tính chất của vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm có 2
mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô nên độ ẩm trong vùng cũng bị phân hóa rõ
rệt theo đặc điểm riêng của từng mùa trong năm.
+ Vào những tháng mùa mưa (từ tháng 4 đến tháng 9), lượng mưa lớn
kết hợp với nhiệt độ cao đặc trưng của vùng vi khí hậu làm cho độ ẩm trong
không khí vì thế cũng luôn ở mức cao (độ ẩm không khí trung bình trong
những tháng mùa mưa là 81%), gây ra cảm giác oi bức,nóng nực.
+ Trái ngược lại vào những tháng mùa khô (từ tháng 10 đến tháng 3)
lượng mưa giảm rõ rệt và đây cũng là những tháng mùa đông, nhiệt độ xuống
thấp nên độ ẩm trong không khí vì vậy cũng giảm mạnh, gây ra cảm giác
hanh khô. Nhưng do vẫn giũ được sự đa dạng trong hệ sinh thái nên độ ẩm
không xuống đến mức quá thấp (độ ẩm không khí trung bình trong những
tháng mùa khô là 70%).
Xét 2 bảng số liệu và biểu đồ dưới đây để có thể hiểu rõ thêm về đặc
điểm và tính chất về độ ẩm của khu vực nghiên cứu:
- Bảng thống kê độ ẩm không khí trung bình tháng trong năm 2008
(đơn vị tính %):
18
Năm
Tháng
I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII
2008 79 77 70 72 71 85 86 85 83 83 82 79
2008 19.7 95.9 20.1 96.7 99.4
321.
0
431.
5
311.
5
382.
3
74.0
159.
6
7.0
+ Tổng lượng mưa trong năm: TS = 2018.7 mm
+ Ngày có lượng mưa lớn nhất: Rx = 221.4 mm (Đo được vào ngày 12/7)
- Biểu đồ lượng mưa tháng năm 2008:
Nhìn vào biểu đồ ta dễ dàng nhận thấy được sự phân hóa lượng mưa rõ
rệt giữa các mùa trong năm. Để đánh giá khách quan hơn ta tiếp tục xét:
22
- Bảng thống kê lượng mưa trung bình tháng trong năm 2009 (đơn vị
tính mm):
Năm Tháng
I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII
2009 0.0 0.0 21.4
113.
6
124.8 126.5
339.
6
82.2 55.4 2.5 0.0 9.3
24
sau khi hình thành hồ (1991) chỉ mới phát hiện lại 25 loài. Các loài cá di cư
theo dòng nước như cá mòi, cá chép, cá chày, cá lành canh giảm mạnh về số
lượng. Bù lại, các loài chỉ sống ở vùng nước sâu và nước đứng như cá chiên,
cá măng, cá thiểu, cá mương sẽ tăng lên. Các loài giáp xác, râu ngạnh kích
thước nhỏ giảm, ngược lại các loài kích thước lớn tăng lên.
Từ đó cho thấy, đối với tài nguyên sinh vật nước, giai đoạn bị tác động
mạnh lại chính là giai đoạn dự án đi vào khai thác. Do đó, có nhiều điều kiện
và thời gian để tìm ra các giải pháp hữu hiệu nhằm hạn chế tối đa những tác
động bất lợi như có thể nghiên cứu để giúp các loài cá di cư theo thủy vực
nước chảy bằng cách tạo các bậc cho cá vượt qua.
3.1.2. Tài nguyên sinh vật cạn
3.1.2.1. Thực vật
Khi xây dựng xong thủy điện Sơn La sẽ có một diện tích lớn rừng và
đất rừng bị ngập (khoảng 21.451 ha)
Trong gian đoạn chuẩn bị thực thi dự án có nhiều tác động gây ảnh
hưởng đến tài nguyên thực vật. Trước hết phải kể là nhiệm vụ mở đường để
đưa trang thiết bị đến khu vực công trường. Công việc này ít nhiều gây tác
động đến lớp phủ thực vật.
Những tác động mạnh hơn là việc tạo mặt bằng công trường xây dựng
và việc đội ngũ những người xây dựng thủy điện chặt cây lấy gỗ, củi, vật liệu
xây dựng phục vụ sinh hoạt hàng ngày. Nếu mặt bằng công trường đòi hỏi
phải chuyển dân sở tại đến nơi ở mới thì ngay ở giai đoạn chuẩn bị thi công,
tài nguyên thực vật đã bị tác động không chỉ ở nơi có công trường mà ngay cả
ở nơi sẽ do dân đến. Tuy giá trị kinh tế của những tài nguyên không lớn,
nhưng các tác động này ít nhất là làm giảm tính đa dạng sinh học.
Trong giai đoạn thực thi dự án sự tác động mạnh hơn sẽ là khối lượng
lớn cư dân vùng lòng hồ phải chuyển đến nơi ở mới. Từ kinh nghiệm Hòa
25