NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SINH HOẠT CHUYÊN MÔN
THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH
Ở TRƯỜNG THPT XUÂN LỘC
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Hiện nay do yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội đối với việc đào tạo
nguồn nhân lực trong giai đoạn mới, giai đoạn nước ta đang từ một nước nông
nghiệp về cơ bản trở thành nước công nghiệp, hội nhập với quốc tế, việc đổi mới
giáo dục trung học phổ thông là việc làm quan trọng hàng đầu. Nghị quyết Hội
nghị Trung ương 8 khoá XI về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo đã
xác định “Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng,
truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ tin học, năng lực và kỹ năng thực hành,
vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến
khích học tập suốt đời”.
Trong thế kỷ XXI, thế kỷ của sự bùng nổ tri thức khoa học và công nghệ con
người phải dựa vào tri thức, vào tư duy sáng tạo,vào tài năng sáng chế của con
người. Để có thể vươn lên kịp thời đại chúng ta không những phải học hỏi kinh
nghiệm của các nước tiên tiến mà còn phải áp dụng kinh nghiệm đó một cách sáng
tạo để tìm được con đường phát triển phù hợp với hoàn cảnh đất nước. Trước tình
hình đó, nền giáo dục của nước ta cũng phải đổi mới một cách mạnh mẽ, sâu sắc,
toàn diện để có thể đào tạo cho đất nước những con người lao động hoạt động có
hiệu quả trong hoàn cảnh mới. Chính từ yêu cầu trên mà mục đích giáo dục của
chúng ta hiện nay không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ cho học sinh những kiến
thức mà còn đặc biệt quan tâm đến việc bồi dưỡng cho họ năng lực sáng tạo những
tri thức mới, phương pháp mới, cách giải quyết vấn đề mới phù hợp với hoàn cảnh
của đất nước, dân tộc.
Luật giáo dục quy định “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực,
tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học khả
năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”(Điều 5, Luật giáo dục).
“Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo
của học sinh phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương
pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức
trong nhà trường. Tuy nhiên, trong thực tiễn, việc tổ chức sinh hoạt chuyên môn ở
trường THPT Xuân Lộc vẫn còn những hạn chế. Vì vậy, nghiên cứu để đánh giá
thực trạng việc tổ chức sinh hoạt chuyên môn đảm bảo được những định hướng chỉ
đạo đổi mới giáo dục trung học nhất là trong những đổi mới của kỳ thi trung học phổ
thông quốc gia hiện nay là cần thiết và cấp bách. Đó là lý do tôi chọn đề tài: “Nâng
cao chất lượng sinh hoạt chuyên môn theo định hướng phát triển năng lực học
sinh ở trường THPT Xuân Lộc”.
II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1. Cơ sở lý luận
1.1. Vị trí của tổ chuyên môn
Theo Điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường
phổ thông có nhiều cấp học ban hành theo Quyết định số 07/2007/QĐ-BGD&ĐT
ngày 02/4/2007 của Bộ GD&ĐT, tổ chuyên môn là một bộ phận cấu thành trong
trong bộ máy tổ chức, quản lý của trường THCS, THPT. Trong trường, các tổ,
nhóm chuyên môn có mối quan hệ hợp tác với nhau, phối hợp các các bộ phận
nghiệp vụ khác và các tổ chức Đảng, đoàn thể trong nhà trường nhằm thực hiện
chiến lược phát triển của nhà trường, chương trình giáo dục và các hoạt động giáo
dục và các hoạt động khác hướng tới mục tiêu giáo dục.
1.2. Chức năng tổ chuyên môn
- Giúp Hiệu trưởng điều hành các hoạt động nghiệp vụ chuyên môn liên
quan đến dạy và học;
- Trực tiếp quản lý giáo viên trong tổ theo nhiệm vụ quy định.
2
- Tổ chuyên môn là đầu mối để Hiệu trưởng quản lý nhiều mặt, nhưng chủ
yếu vẫn là hoạt động chuyên môn, tức là hoạt động dạy học trong trường.
- Tổ trưởng chuyên môn phải là người có khả năng xây dựng kế hoạch; điều
hành tổ chức, hoạt động của tổ theo kế hoạch giáo dục, phân phối chương trình
môn học của Bộ Giáo dục và Đào tạo và kế hoạch năm học của nhà trường; tổ
chức bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên trong tổ; đánh giá, xếp loại và đề xuất
khen thưởng, kỉ luật giáo viên thuộc tổ mình quản lý.
dụng sáng kiến - kinh nghiệm, tự làm thiết bị dạy học, sáng tạo kỹ thuật.
d) Xây dựng đội ngũ giáo viên cốt cán của tổ, nhóm chuyên môn làm nòng
cốt cho các hoạt động chuyên môn của nhà trường;
3
đ) Tổ chức việc bồi dưỡng phát triển năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của
các thành viên trong tổ.
e) Đề xuất khen thưởng, kỷ luật đối với giáo viên.
1.4. Sinh hoạt tổ chuyên môn
- Sinh hoạt tổ chuyên môn (SHCM) là một hoạt động chuyên môn không thể
thiếu trong hoạt động của nhà trường; là dịp để trao đổi chuyên môn góp phần
nâng cao chất lượng dạy học. Thông qua sinh hoạt tổ chuyên môn sẽ xuất hiện
nhiều ý tưởng. Do vậy, tổ trưởng cần tạo điều kiện để giáo viên nói lên ý tưởng,
kinh nghiệm của mình. Nội dung sinh hoạt tổ chuyên môn cần đa dạng, phong phú,
có thay đổi và phải có chuẩn bị trước về nội dung và cách thức tổ chức thực hiện.
- Việc sinh hoạt tổ chuyên môn thực hiện theo định kì quy định trong Điều
lệ trường THCS, THPT (2 tuần/lần. Thời gian do Hiệu trưởng quy định và tuỳ yêu
cầu về tính chất, nội dung công việc);
- Nội dung sinh hoạt tổ chuyên môn thực hiện theo nhiệm vụ quy định (tránh
việc sinh hoạt chỉ để giải quyết sự vụ, sự việc và/hoặc mang tính hành chính);
2. Cơ sở thực tiễn
2.1.Giới thiệu chung
- Trường Trung Học Phổ Thông Xuân Lộc đóng trên địa bàn vùng sâu, vùng
xa. Đây là một huyện trung du miền núi, kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp.
Học sinh của trường đa số là con em nông dân vùng kinh tế mới, có một phần con
em dân tộc, kinh tế rất khó khăn, giao thông cách trở.
Trường được thành lập từ năm 1985, trải qua 29 năm xây dựng và phát
triển, trường THPT Xuân Lộc không ngừng lớn mạnh về quy mô cũng như chất
lượng giáo dục. Hiện nay nhà trường có 38 phòng học và đầy đủ các phòng chức
năng: 1 phòng hiệu trưởng, 3 phòng phó hiệu trưởng, 1 văn phòng, 1 phòng Đoàn,
4 phòng nghỉ cho giáo viên, 1 hội trường, 1 thư viện, 3 phòng thí nghiệm cho các
> 20
năm
1 Toán 16 4 2 14 0 0 2 12 2
2 Tin 6 3 1 5 0 0 4 2 0
3 Vật lý 14 7 1 11 0 1 5 6 2
4 Hoá 7 5 0 7 0 2 1 3 1
5 Sinh - CN 8 5 1 7 0 1 4 3 0
6 Anh văn 10 7 0 10 0 2 0 8 0
7 Ngữ văn 12 10 0 12 0 0 4 6 2
8 Sử +Địa +
GDCD
16 12 0 16 0 0 8 6 2
9 TD + GDQP 8 8 0 8 0 1 5 1 1
Tổng số GV 97 61 5 92 0 7 33 47 10
Tỷ lệ ( % ) 62,89 5,15 94,84 0 7,22 34,02 48,45 10,31
Nhìn chung trong các tổ chuyên môn, đội ngũ GV lớn tuổi công tác trên 20
năm(10,31%) và công tác dưới 5 năm(7,22) chiếm số lượng ít trong tổng số GV .
Đây cũng là một thuận lợi của nhà trường khi GV tiếp cận những đổi mới về
phương pháp dạy học.
2.3.Thực trạng công tác sinh hoạt chuyên môn các năm học trước ở
trường THPT Xuân Lộc.
Tổ chuyên môn là một tổ chức trong nhà trường Nhiều năm qua, công tác
sinh hoạt chuyên môn (SHCM) ở trường phổ thông đã được tổ chức thực hiện và
duy trì khá thường xuyên. Sinh hoạt chuyên môn không chỉ giúp mỗi giáo viên
nâng cao năng lực chuyên môn cho bản thân mà SHCM còn là môi trường để tình
đồng nghiệp nảy nở và phát triển giữa tất cả giáo viên, giúp họ hỗ trợ lẫn nhau
trong công tác; hình thành môi trường học tập tốt đẹp cũng như truyền thống, bản
sắc văn hóa riêng của mỗi nhà trường. Hoạt động tổ chuyên môn là tạo điều kiện
cho giáo viên hoàn thành nhiệm vụ của mình trong quá trình dạy học. Thông qua
tổ chuyên môn, hiệu trưởng sẽ nắm được sâu sát hoạt động của giáo viên, phát huy
dẫn tập huấn lại sau mỗi đợt tập huấn do Sở giáo dục tổ chức. Trong các buổi
SHCM Tổ trưởng là người điều hành với các thao tác lặp như đánh giá nhận xét
quá trình hoạt động trong tuần, triển khai một số công việc mới trong thời gian tới
theo kế hoạch của nhà trường, việc tổ chức trao đổi, thảo luận, học tập các nội
dung cụ thể gắn với nhiệm vụ năm học như kinh nghiệm dạy một dạng bài, kiểu
bài nào đó, kinh nghiệm bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu kém
Những nội dung này thường được giao cho các giáo viên có kinh nghiệm và năng
lực chuyên môn tốt xây dựng thành các báo cáo chuyên đề hay sáng kiến kinh
nghiệm.
Hình thức thứ hai trong SHCM là dự giờ trao đổi kinh nghiệm về bài học,
hoạt động này thường diễn ra trong các đợt hội giảng tổ chức hàng năm ttheo kế
hoạch của trường. Trong mỗi buổi dự giờ có sự tham gia của BGH, tổ trưởng và
phần lớn giáo viên trong tổ. Sau dự giờ tổ chuyên môn tiến hành thảo luận rút kinh
nghiệm và đánh giá xếp loại GV dạy.
6
Cả hai nội dung trên nhà trường đã thực hiện khá tốt góp phần nâng cao chất
lượng giáo dục toàn diện cho học sinh. Tuy vậy, SHCM hiện nay còn bộc lộ nhiều
vấn đề bất cập cần phải thay đổi.
Đó là chất lượng các buổi SHCM chưa cao. Nội dung sinh hoạt chuyên đề
chưa được chú trọng, nhất là việc phổ biến áp dụng các sáng kiến kinh nghiệm còn
nhiều hạn chế. Việc dự giờ đánh giá trong nhà trường cũng gặp nhiều khó khăn.
Có thể nói việc thao giảng dự giờ có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nâng
cao chất lượng giảng dạy của cả người dạy lẫn người dự. Tuy nhiên việc dự giờ
đánh giá ở trường THPT Xuân Lộc hiện nay chưa thật sự có hiệu quả như mong
đợi. Với quan niệm dự giờ là để đánh giá xếp loại tiết dạy nên khi dự giờ, GV dự
thường tập trung đặt mọi sự chú ý lên người dạy, ít chú ý đến người học. Người
dạy khi thiết kế bài dạy dựa theo nội dung chương trình, bám sát sách giáo khoa,
sách giáo viên, ít dám thay đổi cho phù hợp với đối tượng, trình độ của từng lớp
học cụ thể, chưa quan tâm đến tâm thế đón nhận của học sinh.
Trong tiến trình giảng dạy, phương pháp dạy học không linh hoạt, người dạy
Công tác quản lý chỉ đạo của ban giám hiệu chưa sát sao, thiếu sự đôn đốc
và kiểm tra thường xuyên.
Về vấn đề dự giờ rút kinh nghiệm giờ dạy, do xuất phát từ mục đích của
buổi dự giờ là để đánh giá kĩ năng dạy học và năng lực chuyên môn của giáo viên
nên tạo ra áp lực cho cả người dạy và người dự. Việc trao đổi ý kiến thường diễn ra
một chiều, người dự trở thành giám khảo phán xét, đánh giá, góp ý, người dạy
thường im lặng tiếp thu.
Lí do tiếp theo nữa là xuất phát từ suy nghĩ của người dự giờ, khi đóng góp
ý kiến thường cả nể, chưa thẳng thắn chân thành góp ý nên chưa đánh giá đúng kết
quả của tiết dạy.
Việc kiểm tra đánh giá thường xuyên chưa có sự đồng bộ, mỗi GV ra đề,
đánh giá học sinh theo cảm quan riêng của mình.
III .TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP
Ngày 3/9/2013 Sở giáo dục Đào tạo có công văn số 1896/SGDĐT-GDTrH
về việc Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ Giáo dục Trung học năm học 2013-2014,
trong đó nhấn mạnh: “Đổi mới sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn theo hướng phát
huy tính tích cực, chủ động trong việc thực hiện chương trình, kế hoạch dạy học.
Nội dung sinh hoạt tổ chuyên môn cần tập trung vào việc xây dựng kế hoạch, tổ
chức thực hiện chương trình, nội dung dạy học; sinh hoạt chuyên đề trao đổi, thảo
luận về các chủ đề, nội dung dạy học; rút kinh nghiệm, tháo gỡ những khó khăn,
vướng mắc gặp phải trong quá trình dạy học; xây dựng ma trận đề kiểm tra”.
Xác định việc “ Đổi mới sinh hoạt tổ chuyên môn theo hướng phát huy tính
tích cực, chủ động trong việc thực hiện chương trình, kế hoạch dạy học” là nhiệm
vụ trọng tâm trong chỉ đạo chuyên môn , Trường THPT Xuân đã nghiêm túc triển
khai thực hiện trong năm học 2013-2014, tiếp tục phát huy những mặt làm được ở
năm học 2014 -2015 và đã thu được những kết quả khả quan.
Kết hợp công văn trên cùng công văn số 2507/SGD&ĐT -GDTrH ngày
7/10/2014 của Sở GD&ĐT Đồng Nai, về việc hướng dẫn sinh hoạt chuyên môn về
đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá; tổ chức và quản lí các hoạt
động chuyên môn của trường trung học qua mạng. Căn cứ vào các công văn hướng
trưởng chuyên môn phải yêu cầu GV nghiên cứu kỹ chương trình ở các khối lớp
được phân công giảng dạy. Bên cạnh đó cũng nghiên cứu thêm chương trình các
khối khác trong cấp học. Từ đó xác định những vấn đề các thành viên trong tổ cần
tập trung rút kinh nghiệm cho bản thân hoặc cần thảo luận ở tổ chuyên môn;
Mặt khác để các tiết lên lớp của GV có chất lượng, ngay từ đầu năm học
TTCM chủ động tổ chức cho giáo viên trong tổ trao đổi những vấn đề liên quan
đến việc chuẩn bị cho giảng dạy để có định hướng chung thống nhất trong tổ sau
đó tổng hợp và báo cáo cho hiệu trưởng những việc phải làm của tổ trong cả năm
học; Ví dụ năm học 2014- 2015 dạy học môn tiếng Anh có một số hướng đổi mới
Khối 10 phải học và thi cả 4 kỹ năng: nghe nói, đọc, viết để chuẩn bị điều kiện
sớm chuyển sang dạy theo chương trình mới( chương trình của đề án” Dạy và học
ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008 – 2020), Hiệu trưởng
chỉ đạo tổ tiếng Anh phải xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện. Ngoài tổ
tiếng Anh, các tổ chuyên môn đồng loạt triển khai các nội dung đã được tập huấn
đếng tổ thành viên trong tổ về xây dựng chuyên đề dạy học và kiểm tra đánh giá
kết quả học tập của học sinh theo hướng phát triển năng lực.
Trên cơ sở đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng lấy hoạt động của học
sinh làm trung tâm về việc chuẩn bị giờ lên lớp, tổ trưởng chuyên môn hướng dẫn
giáo viên thảo luận kỹ những vấn đề cần thiết như :
Xác định rõ mục đích yêu cầu của chương và từng bài và có sự thống nhất
trong tổ, nhóm chuyên môn; Ngoài ra các GV trong tổ phải thảo luận kỹ nội dung
chương trình để phát hiện những vấn đề khó khi dạy, phân tích các phương pháp
9
có thể vận dụng, nêu rõ những chỗ mạnh, chỗ yếu của mỗi phương pháp, xem xét
từng khả năng của từng giáo viên trong việc vận dụng, tuyệt đối không gò ép tất cả
mọi người phải tuân theo một phương pháp duy nhất. TTCM có nhiệm vụ tổ chức
cho giáo viên trao đổi các tài liệu tham khảo, nghiên cứu sử dụng có hiệu quả các
đồ dùng dạy học hiện có của nhà trường. Tất cả những việc làm này đều xuất phát
từ những vấn đề liên quan đến người học. Nội dung thảo luận hướng vào các câu
hỏi: Với những bài học đó, với cách dạy đó học sinh (HS) có gặp khó khăn gì trong
trung quan sát thực tế học tập của học sinh, quan sát cử chỉ, thái độ, nét mặt, hoạt
động của học sinh. Người dự đặt trọng tâm chú ý đến HS. Tập trung quan sát học
sinh học thế nào? Suy nghĩ, phát hiện khó khăn trong học tập của học sinh, từ đó
đưa ra các biện pháp khắc phục. Tất cả các hoạt động của người dạy phải nhằm
hướng tới việc phát huy tính tích cực, tính tự giác chủ động của người học nhằm
10
hình thành phát triển năng lực tự học ( sử dụng SGK, nghe, ghi chép… ) trên cơ sở
đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của học sinh.
Trong SHCM, Tổ trưởng cần lưu ý giáo viên dự giờ không nên làm gián
đoạn, hay gây mất tập trung cho học sinh như mượn sách vở, ghế ngồi hoặc trao
đổi riêng với nhau làm ảnh hưởng đến người dạy và người học.
Khi góp ý tiết dạy cần tạo không khí nhẹ nhàng thoải mái. Trước hết cần tạo
điều kiện cho người dạy trình bày ý tưởng thiết kế bài gỉang, tự nhận xét, đánh giá
giờ dạy của mình. Khi thảo luận, không đi sâu, mổ xẻ những sai sót, hạn chế của
người dạy, cần tập trung nhận xét các hoạt động học tập của học sinh: Hoạt động
nào hiệu quả, hoạt động nào chưa hiệu quả? Câu hỏi nào hay? Tình huống nào tốt?
Học sinh nào, nhóm nào hoạt động hiệu quả, lí do? Học sinh nào chưa tập trung
chú ý vào việc học, vì sao? Giáo viên dự giờ cũng cần trao đổi về những khả
năng học sinh đạt được trong thực tế giờ học rồi đem đối chiếu với ý định của giáo
viên dạy.
Thảo luận giờ dạy chủ yếu dựa trên kết quả học tập của học sinh rút kinh
nghiệm, trên cơ sở phân tích việc học của học sinh, tìm nguyên nhân, giải pháp
khắc phục. Người dự giờ đưa ra các ý kiến nhận xét, góp ý về giờ học theo tinh
thần trao đổi, chia sẻ, lắng nghe mang tính xây dựng; tập trung phân tích các vấn
đề liên quan đến việc học của HS. Không đánh giá, xếp loại người dạy (nếu kết
quả không như mong muốn), mọi người xem đó là bài học chung để mỗi GV tự rút
kinh nghiệm.
TTCM là người chủ trì buổi góp ý luôn tôn trọng và lắng nghe tất cả ý kiến
của GV, không áp đặt ý kiến của mình hoặc của một nhóm người. Tóm tắt các vấn
đề thảo luận và đưa ra các biện pháp hỗ trợ HS.
Để khắc phục tình trạng này, hiệu trưởng chỉ đạo các TTCM tổ chức cho
giáo viên trong tổ nghiên cứu nắm vững các qui định về kiểm tra, đánh giá, xếp
loại học tập của học sinh. Thực hiện tốt kế hoạch kiểm tra, thi của nhà trường; Các
tổ phải xây dựng ma trận đề, phải bảo đảm tất cả các bài kiểm tra đều được chuẩn
bị kỹ và có đáp án kèm theo để hạn chế việc cho điểm theo cảm tính. Trường có tổ
chức kiểm tra tập trung 2 môn Anh, Toán, bộ phận chuyên môn quản lý đề, quản
lý điểm, các tổ khác TTCM phải báo cáo tình hình thực hiện kiểm tra trong tổ
hàng tháng, khi kiểm tra trong khối phải thống nhất ma trận đề giữa các GV, GV
chấm bài phải có sửa chữa, ghi lời phê và lời phê có tính giáo dục.
Trong SHCM TTCM phải giúp cho GV trong tổ nhận thức đầy đủ vai trò
của kiểm tra, đánh giá trong giáo dục: Là biện pháp chủ yếu nhằm xác định mức
độ thực hiện mục tiêu giáo dục, có vai trò quan trọng trong việc cải thiện kết quả
học tập của HS. Khi đánh giá HS cần phải dựa theo chuẩn kiến thức, kỹ năng của
từng môn học, hoạt động giáo dục từng lớp; yêu cầu cơ bản cần đạt về kiến thức,
kỹ năng, thái độ (năng lực) của HS .
Trên tinh thần định hướng đổi mới kiểm tra đánh giá hiệu trưởng chỉ đạo
trong SHCM phải quán triệt đến từng thành viên trong tổ phải phối hợp giữa đánh
giá thường xuyên và đánh giá định kì; đánh giá quá trình và đánh giá kết quả; giữa
đánh giá của GV và tự đánh giá của HS; đánh giá của nhà trường và đánh giá của
gia đình, cộng đồng. Đồng thời đổi mới một bước cách thức ra đề kiểm tra, thi theo
hướng: giảm dần yêu cầu học thuộc lòng; chú trọng yêu cầu vận dụng kiến thức
tổng hợp; tăng dần các yêu cầu sáng tạo; gắn với các vấn đề thời sự của đất nước
nhằm đánh giá đúng chất lượng học tập và năng lực của học sinh. Riêng khối 12 ra
đề trên tinh thần đổi mới thi tốt nghiệp THPT theo hướng tổ chức thi 4 môn quốc
gia và sử dụng 50% kết quả đánh giá quá trình. TTCN thường xuyên kiểm tra
công việc giáo viên phải làm khi kiểm tra kết quả học tập của học sinh; yêu cầu
giáo viên thực hiện nghiêm túc các qui định của nhà trường về kiểm tra đánh giá
học sinh( chấm bài, vào sổ điểm, cộng điểm, xếp loại và đánh giá học lực của học
sinh ).
*Ưu điểm: Qua SHCM, tổ chuyên môn đã tổ chức việc kiểm tra, đánh giá
dưỡng HS giỏi. Hàng năm tổ chức thi tuyển chọn học sinh giỏi, thành lập lớp bồi
dưỡng học sinh giỏi khối 11 để tạo nguồn cho lớp 12. Sau đó tổ CM chọn giáo
viên có kinh nghiệm phụ trách các đội tuyển ( xây dựng chương trình, tổ chức
giảng dạy, tổ chức các em tham gia các kỳ thi học sinh giỏi các cấp).
* Ưu điểm: Việc sắp xếp các học sinh yếu vào chung một lớp để phụ đạo,
chọn học sinh giỏi chung một lớp để bồi dưỡng, phân công GV có kinh nghiệm,
tâm huyết với học sinh phụ trách . Kết quả đạt được tốt. Số học giỏi tăng nhanh,
số học sinh yếu giảm đáng kể.
IV.HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI
Năm học 2014-2015 với các giải pháp đề ra trong nâng cao chất lượng
SHCM, chất lượng giáo dục của nhà trường tăng đáng kể, HS tư tin hơn, chủ động
hơn trong học tập.
13
Từ việc áp dụng sáng kiến kinh nghiệm này trong SHCM của nhà trường,
Hiệu trưởng cần sát sao với SHCM của từng tổ để kịp thời chấn chỉnh những biểu
hiện qua loa, đại khái. Các giải pháp đưa ra trong SHCM đã giúp phát huy được
năng lực của GV trong các tổ, TTCM sau khi xây dựng kế hoạch hoạt động của tổ
trong năm học trực tiếp hướng dẫn GV trong tổ xây dựng kế hoạch cá nhân và
thực hiện . Với những hoạt động này, các buổi sinh hoạt chuyên môn đã khởi sắc.
Ngoài kết quả chung, trong năm tổ Văn còn tổ chức được một buổi sinh hoạt
ngoại khóa Văn học dân gian thu hút 14/ 14 lớp khối 10 tham gia. Tổ Toán, tổ
Tiếng Anh tổ chức tốt các buổi kiểm tra chung. Bên cạnh đó tổ tiếng Anh còn thực
hiện tốt việc tổ chức cho học sinh học 4 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết.
Do chất lượng SHCM được nâng cao nên các GV đã hoàn thành tốt nhiệm vụ
được phân công, từ công tác xây dựng chuyên đề, công tác dự giờ, đổi mới kiểm
tra đánh giá hay phụ đạo học sinh yêu, bồi dưỡng học sinh giỏi, các tổ đều hoàn
thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Điều này cho thấy những giải pháp đưa ra
nhằm Nâng cao chất lượng sinh hoạt chuyên môn theo định hướng phát triển
năng lực học sinh ở trường THPT Xuân Lộc” trong sáng kiến kinh nghiệm này
tuy không hoàn toàn mới nhưng đã áp dụng có hiệu quả thúc đẩy được tinh thần
Học sinh giỏi
cấp tỉnh
61 giải;
1 giải nhất; 7 giải
nhì; 17 giải III.
0
72 giải
4 nhất,11 nhì, 27 giải
III
Căn cứ theo số liệu thông kê được, có thể nhận thấy:
14
Năm học 2014-2015 số học sinh có học lực khá giỏi , có hạnh kiểm tốt tăng
cao, số HS yếu giảm, số học sinh thi lại cuối năm giảm so với năm học 2013-
2014 nhất là so với học kỳ I (2014 -2015) khi bắt đầu áp dụng các giải pháp này.
Đặc biệt số học sinh giỏi đạt giải tăng so với năm học trước (72/61), giải cao từ
hạng I đến hạng III tăng hơn so với năm 2013-2014 (42/ 25)
V. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
5.1. Kết luận
Từ thực trạng SHCM trường THPT Xuân Lộc năm học 2014 –2015 có thể
rút ra những nhận xét như sau
HT đã nhận thức đúng vai trò, ý nghĩa của việc Nâng cao chất lượng sinh
hoạt chuyên môn theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở trường THPT
Xuân Lộc ; thực hiện đúng quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của HT, TTCM và
nhiệm vụ tổ chuyên môn đã được quy định trong điều lệ trường THCS, trường
THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học.
- Trong quá trình thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng sinh hoạt tổ
chuyên môn trong định hướng phát triển năng lực cho học sinh, HT luôn quan tâm
đến đặc điểm từng tổ, những khó khăn thuận lợi, vì thế nhận được sự đồng thuận
ủng hộ của hầu hết GV.
- Việc lựa chọn những GV thực hiện các nhiệm vụ về cơ bản là những thầy
nhìn tốt, có khả năng xây dựng kế hoạch chiến lược trong sử dụng và đào tạo đội
ngũ giáo viên để tạo được sự đồng thuận cao trong giáo viên. Để làm tốt công tác
này, hiệu trưởng xây dựng kế hoach năm học chi tiết, nêu rõ nhiệm vụ năm học,
mục đích yêu cầu và nhiệm vụ từng tổ chuyên môn để từ đó giáo viên sẽ dễ dàng
thông cảm với nhiệm vụ của người quản lý. Mặt khác với vai trò là người đứng đầu
tổ chức, chịu trách nhiệm về chất lượng giáo dục và uy tín của nhà trường, hiệu
trưởng cũng cần có một bản lĩnh, luôn chủ động bình tĩnh khi giải quyết các khó
khăn, những vướng mắc của GV khi thực hiện các giải pháp. Trong giao tiếp luôn
chân thành, thân thiện, biết lắng nghe chia sẻ và đặt niềm tin vào giáo viên. Trước
khi thực hiện các công việc liên quan đến GV, hiệu trưởng phải biết tham khảo,
lắng nghe ý kiến của tập thể giáo viên, hiểu rõ hoàn cảnh, năng lực của giáo viên.
Từ đó giải quyết hài hòa giữa quyền lợi giáo viên với quyền lợi và chất lượng
giảng dạy của nhà trường và trước hết là xuất phát từ quyền và lợi ích của HS.
5.3. Khuyến nghị, đề nghị
5.3.1.Đối với trường THPT Xuân Lộc
Nhà trường cần có chiến lược lâu dài, bồi dưỡng đào tạo giáo viên để có một
đội ngũ TTCM vững mạnh,năng nổ, dám nghĩ dám làm, hoạt động đồng đều. Để
nâng cao năng lực đội ngũ TTCM, HT cũng cần xây dựng kế hoạch đào tạo bồi
dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, bố trí sắp xếp động viên TTCM, các GV có
16
năng lực tham gia các lớp, khóa đào tạo như lớp sau đại học, lớp lý luận chính trị,
tin học, ngoại ngữ nhằm hỗ trợ tổ trưởng trong việc đổi mới SHCM, nâng cao
chất lượng học tập của HS. HT cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra hoạt
động của đội ngũ TTCM, kịp thời phát hiện những thiếu sót, chấn chỉnh uốn nắn
các hoạt động tổ chuyên môn.
5.3.2. Đối với Sở giáo dục
- Cần mở các lớp bồi dưỡng, đào tạo nghiệp vụ quản lý, công tác tổ chức
cho đội ngũ Tổ trưởng chuyên môn ở các trường.
-Có kế hoạch tập huấn về chuyên môn cho GV và thời gian bố trong dịp hè
để nhiều GV có thể cùng tham dự.
10.Thông tư số 58/2011/TT-BGD&ĐT (Thông tư 58) ngày 12/12/2011 ban
hành Quy định đánh giá và xếp loại học sinh THCS, THPT;
18
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG THPT XUÂN LỘC
Số: 15 / THPTXL
V/v hướng dẫn sinh hoạt chuyên
môn về đổi mới phương pháp dạy
học và kiểm tra, đánh giá; tổ chức
và quản lí các hoạt động chuyên
môn của trường qua mạng.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Xuân Lộc, ngày 29 tháng 10 năm 2014
Kính gửi: Các Tổ trưởng chuyên môn;
.
Thực hiện công văn số 2507/SGD&ĐT -GDTrH ngày 27/10/2014 của Sở
GD&ĐT, về việc hướng dẫn sinh hoạt chuyên môn về đổi mới phương pháp dạy
học và kiểm tra, đánh giá; tổ chức và quản lí các hoạt động chuyên môn của trường
trung học qua mạng;
Nhằm hướng dẫn các tổ chuyên môn triển khai có hiệu quả việc đổi mới
đồng bộ phương pháp dạy học (PPDH) và kiểm tra, đánh giá (KTĐG) chất lượng
giáo dục, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên về phát triển kế
hoạch giáo dục nhà trường theo định hướng phát triển năng lực học sinh, BGH
Trường THPT Xuân Lộc hướng dẫn một số nội dung sinh hoạt chuyên môn về đổi
mới PPDH, KTĐG và tổ chức, quản lí các hoạt động của tổ chuyên môn trong
trường qua mạng như sau:
I. MỤC ĐÍCH
1. Nâng cao chất lượng sinh hoạt chuyên môn trong nhà trường, tập trung
vào thực hiện đổi mới PPDH và KTĐG theo định hướng phát triển năng lực học
1. Xây dựng chuyên đề dạy học
Thay cho việc dạy học đang được thực hiện theo từng bài/tiết trong sách
giáo khoa như hiện nay, các tổ/nhóm chuyên môn căn cứ vào chương trình và sách
giáo khoa hiện hành, lựa chọn nội dung để xây dựng các chuyên đề dạy học phù
hợp với việc sử dụng phương pháp dạy học tích cực trong điều kiện thực tế của nhà
trường. Trên cơ sở rà soát chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ theo chương trình hiện
hành và các hoạt động học dự kiến sẽ tổ chức cho học sinh theo phương pháp dạy
học tích cực, xác định các năng lực và phẩm chất có thể hình thành cho học sinh
trong mỗi chuyên đề đã xây dựng.
2. Biên soạn câu hỏi/bài tập
Với mỗi chuyên đề đã xây dựng, xác định và mô tả 4 mức độ yêu cầu (nhận
biết, thông hiểu, vận dụng, vận dụng cao) của mỗi loại câu hỏi/bài tập có thể sử
dụng để kiểm tra, đánh giá năng lực và phẩm chất của học sinh trong dạy học. Trên
cơ sở đó, biên soạn các câu hỏi/bài tập cụ thể theo các mức độ yêu cầu đã mô tả để
sử dụng trong quá trình tổ chức các hoạt động dạy học và kiểm tra, đánh giá, luyện
tập theo chuyên đề đã xây dựng.
3. Thiết kế tiến trình dạy học
Tiến trình dạy học chuyên đề được tổ chức thành các hoạt động học của học
sinh để có thể thực hiện ở trên lớp và ở nhà, mỗi tiết học trên lớp có thể chỉ thực
hiện một số hoạt động trong tiến trình sư phạm của phương pháp và kĩ thuật dạy
học được sử dụng.
4. Tổ chức dạy học và dự giờ
Trên cơ sở các chuyên đề dạy học đã được xây dựng, tổ/nhóm chuyên môn
phân công giáo viên thực hiện bài học để dự giờ, phân tích và rút kinh nghiệm về
20
giờ dạy. Khi dự giờ, cần tập trung quan sát hoạt động học của học sinh thông qua
việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ học tập với yêu cầu như sau:
- Chuyển giao nhiệm vụ học tập: nhiệm vụ học tập rõ ràng và phù hợp với
khả năng của học sinh, thể hiện ở yêu cầu về sản phẩm mà học sinh phải hoàn
thành khi thực hiện nhiệm vụ; hình thức giao nhiệm vụ sinh động, hấp dẫn, kích
1. Kế hoạch và tài liệu
Mức độ phù hợp của chuỗi hoạt động học với mục tiêu, nội dung và
phương pháp dạy học được sử dụng.
Mức độ rõ ràng của mục tiêu, nội dung, kĩ thuật tổ chức và sản phẩm cần
đạt được của mỗi nhiệm vụ học tập.
Mức độ phù hợp của thiết bị dạy học và học liệu được sử dụng để tổ chức
các hoạt động học của học sinh.
21
Mức độ hợp lí của phương án kiểm tra, đánh giá trong quá trình tổ chức
hoạt động học của học sinh.
2. Tổ chức hoạt động học cho học sinh
Mức độ sinh động, hấp dẫn học sinh của phương pháp và hình thức
chuyển giao nhiệm vụ học tập.
Khả năng theo dõi, quan sát, phát hiện kịp thời những khó khăn của học
sinh.
Mức độ phù hợp, hiệu quả của các biện pháp hỗ trợ và khuyến khích học
sinh hợp tác, giúp đỡ nhau khi thực hiện nhiệm vụ học tập.
Mức độ hiệu quả hoạt động của giáo viên trong việc tổng hợp, phân tích, đánh giá
kết quả hoạt động và quá trình thảo luận của học sinh.
3. Hoạt động của học sinh
Khả năng tiếp nhận và sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ học tập của tất cả
học sinh trong lớp.
Mức độ tích cực, chủ động, sáng tạo, hợp tác của học sinh trong việc thực hiện các
nhiệm vụ học tập.
Mức độ tham gia tích cực của học sinh trong trình bày, trao đổi, thảo luận về kết
quả thực hiện nhiệm vụ học tập.
Mức độ đúng đắn, chính xác, phù hợp của các kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập
của học sinh.
IV. TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÍ CÁC HOẠT ĐỘNG CHUYÊN MÔN
QUA MẠNG
trình giáo dục: đánh giá trên lớp; đánh giá bằng hồ sơ; đánh giá bằng nhận xét;
tăng cường hình thức đánh giá thông qua sản phẩm dự án; bài thuyết trình; kết hợp
kết quả đánh giá trong quá trình giáo dục và đánh giá tổng kết cuối kỳ, cuối năm
học.
- Các hình thức kiểm tra, đánh giá đều hướng tới phát triển năng lực của học
sinh; coi trọng đánh giá để giúp đỡ học sinh về phương pháp học tập, động viên sự
cố gắng, hứng thú học tập của các em trong quá trình dạy học.
Do vậy, sau mỗi bài kiểm tra, giáo viên cần có sự đánh giá, phân tích kết quả
làm bài của học sinh, kết hợp nhận xét định tính và định lượng về kết quả hoạt động
dạy học bộ môn; qua đó, đề xuất các góp ý, điều chỉnh nhằm nâng cao chất lượng,
hiệu quả hoạt động học tập, rèn luyện của học sinh để đạt được mục đích “Việc
kiểm tra, đánh giá không chỉ là việc xem học sinh học được cái gì mà quan trọng
hơn là biết học sinh học như thế nào, có biết vận dụng không.”
- Thực hiện nghiêm túc quy trình thiết lập ma trận đề để đảm bảo chuẩn kiến
thức, kỹ năng cần đánh giá ở mỗi chủ đề (nội dung, chương ) tương ứng với thời
lượng quy định trong phân phối chương trình; lượng kiến thức kiểm tra phải tương
thích với thời lượng kiểm tra.
Yêu cầu cấp độ nhận thức của các đơn vị kiến thức trong các bài kiểm tra
cần căn cứ các văn bản hướng dẫn của Bộ GDĐT, Sở GDĐT; đồng thời, phải phù
hợp với đặc điểm địa phương; không yêu cầu quá thấp (dưới chuẩn quy định)
nhưng cũng không quá cao so với thực tế mức độ nhận thức của học sinh.
- Chủ động kết hợp một cách hợp lý, phù hợp giữa hình thức tự luận với trắc
nghiệm khách quan, giữa kiểm tra lý thuyết và kiểm tra thực hành trong các bài
kiểm tra. Tiếp tục nâng cao yêu cầu vận dụng kiến thức bộ môn và tích hợp liên
môn vào thực tiễn; đối với các môn khoa học xã hội và nhân văn cần tăng cường ra
các câu hỏi mở, gắn với thời sự quê hương, đất nước để học sinh được bày tỏ chính
kiến của mình về các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội. Khi chấm bài kiểm tra phải
có phần nhận xét, động viên sự cố gắng, tiến bộ của học sinh. Việc cho điểm có thể
kết hợp giữa đánh giá kết quả bài làm với theo dõi sự cố gắng, tiến bộ của học sinh.
Chú ý hướng dẫn học sinh đánh giá lẫn nhau và biết tự đánh giá năng lực của mình.
4. Thực hiện thống nhất việc đánh giá giờ dạy của giáo viên(hướng dẫn kèm
theo);
5. Tích cực tham gia các hoạt động của Hội đồng bộ môn cấp Cụm, cấp tỉnh.
VI. TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC CẤP QUẢN LÝ GIÁO DỤC
1- Hiệu trưởng nhận tài khoản cấp trường từ Sở GDĐT; chịu trách nhiệm chỉ
đạo, tổ chức và quản lí các hoạt động chuyên môn trên hệ thống “Trường học kết
nối” trong phạm vi quyền hạn của tài khoản được cấp; cử thầy Hồ Đức Nghỉ,TT tổ
Tin tham gia quản trị hệ thống;
- Thầy Nghỉ có nhiệm vụ cấp tài khoản và tập huấn cho giáo viên, học sinh
tham gia các hoạt động chuyên môn trên hệ thống.
24
2. Tổ trưởng/nhóm trưởng hướng dẫn tổ/nhóm chuyên môn tham gia các
khóa học/bài học/chuyên đề qua mạng. Hoạt động của tổ trưởng/nhóm trưởng như
sau:
- Đăng kí tham gia các khóa học/bài học/chuyên đề và yêu cầu các thành
viên của tổ/nhóm chuyên môn tham gia tạo thành 01 nhóm sinh hoạt chuyên môn
trên hệ thống.
- Tổ chức thảo luận trong tổ/nhóm chuyên môn (trực tiếp và qua mạng) để
thực hiện các nhiệm vụ được giao trong khóa học/bài học/chuyên đề; thống nhất
các ý kiến và hoàn thiện báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ của tổ/nhóm.
- Nộp báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ của tổ/nhóm lên mạng theo quy
định.
3. BGH thường xuyên chỉ đạo tổ chức sinh hoạt tổ/nhóm chuyên môn thông
qua dự giờ, rút kinh nghiệm để hoàn thiện các chuyên đề, tiến trình dạy học và
phương pháp tổ chức hoạt động dạy học; tạo điều kiện cho giáo viên tham gia các
hoạt động chuyên môn trên mạng; có hình thức động viên, khen thưởng các
tổ/nhóm chuyên môn, giáo viên tích cực đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra,
đánh giá.
Nơi nhận:
- Ban Giám hiệu;