Đánh giá mức độ ô nhiễm vi sinh vật gây bệnh trong nước thải trên địa bàn thành phố Thái Nguyên - Pdf 29



ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ĐÀO THỊ HƯƠNG

Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ Ô NHIỄM VI SINH VẬT GÂY BỆNH TRONG NƯỚC
THẢI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy

Chuyên ngành : Công nghệ Sinh học
Khoa : CNSH – CNTP
Khoá học : 2010 - 2014 Thái Nguyên, 2014 ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ĐÀO THỊ HƯƠNG


Nguyên đã hết lòng quan tâm, chỉ bảo và hướng dẫn tận tình để em có thể thành
khóa luận tốt nghiệp trong thời gian qua.
Xin cảm ơn Ths. Bùi Tuấn Hà giảng viên khoa CNSH-CNTP trường ĐH
Nông Lâm Thái Nguyên đã chỉ bảo, giúp đỡ nhiệt tình và tạo điều kiện thuật lợi
nhất cho em trong suốt quá trình làm khóa luận tốt nghiệp.
Cuối cùng xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè lớp Công nghệ Sinh học
42 đã hết lòng quan tâm hỗ trợ, động viên và tào điều kiện thuận lợi cho em thực
hiện tốt khóa luận này.
Với điều kiện thời gian có hạn cũng như kinh nghiệm và kiến thức còn hạn
chế nên khóa luận tốt nghiệp của em sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Em
rất mong nhận đươc sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của quý Thầy Cô cùng toàn thể các
bạn để em có điều kiện bổ sung, nâng cao kiến thức phục vụ cho công việc thực tế
sau khi tốt nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm
Sinh viên

Đào Thị Hương DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

STT Từ viết tắt Từ viết đầy đủ
1 BGBL Brillian Green Bile Lactose
2 CHO Chinese Hamster Ovary cell
3 CTCP Chỉ tiêu cho phép
4 CTYT Chất thải Y tế
5 E. coli Escherichia coli
6 KIA Môi trường song đường
7 LPS Lipopolysaccharide

Bảng 4.7: Kết quả xác định đặc tính sinh vật, hóa học của vi khuẩn V. cholera,
Salmonella, Shigella. 38
DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ

Hình 2.1: Khuẩn Coliforms tổng số 9

Hình 2.2: Khuẩn tả V. cholerae 10

Hình 2.3: Khuẩn Shigella 13

Hình 2.4: Khuẩn Salmonella 15

Hình 3.1: Sơ đồ phương pháp xác định Coliforms trong thực phẩm theo phương pháp
MPN theo phương pháp MPN sinh hoạt và nước thải y tế 37

Biểu đồ 4.1. Mức độ nhiễm Coliforms tổng số trong nước thải 37

Biểu đồ 4.2. Mức độ nhiễm V. cholerae trong nước thải sinh hoạt và nước thải y tế 40

Biểu đồ 4.3: Mức độ nhiễm Samonella trong nước thải sinh hoạt và nước thải y tế 42



2.2.1. Thực trang,tính chất, đặc điểm của nước thải bệnh viên. 3

2.2.2. Đặc điểm, tính chất và thực trạng nước thải sinh hoạt. 6

2.3. Một số vi sinh vật gây bệnh có thể xuất hiện trong nước thải. 8

2.3.1. Coliforms tổng số 8

2.3.2. V. cholerae 10

2.3.3. Shigella 13

2.3.4. Salmonella 15

2.4. Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải y tế: QCVN 28:2010/BTNMT 21

PHẦN 3: VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

3.1. Vật liệu nghiên cứu 23

3.1.1. Địa điểm và mẫu nghiên cứu 23
3.1.2. Đối tượng nghiên cứu 23

3.2. Dụng cụ, thiết bị và hóa chất sử dụng 23

3.2.1. Dụng cụ và thiết bị 23


5.1 Kết luận 46

5.2. Kiến nghị. 46

TÀI LIỆU THAM KHẢO 47

1

PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Hiện nay, cùng với sự phát triển chung của đất nước về kinh tế, chính trị, xã
hội và đời sống của người dân cũng đã được cải thiện vượt bậc. Đi đôi với sự phát
triển của xã hội và đời sống của người dân được nâng cao kéo theo đó là ô nhiễm
môi trường và dịch bênh đang là một vấn nạn trong xã hội hiện nay.
Theo báo cáo của Bộ y tế, tính đến tháng 10 năm 2007, cả nước có tới 1087
bệnh viên, trong đó có tới 1023, bệnh viên công, 64 bệnh viện tư với tổng số
140.000 giường bệnh. Bên cạnh đó, còn có 14 bệnh viện dự phòng, 189 trung tâm y
tế dự phòng tuyến tỉnh, 680 trung tâm y tế huyện, 100 cơ sở nghiên cứu và đào tạo y
dược và 181 công ty, xí nghiệp sản xuất thuốc, 10.999 Trạm y tế xã, phường. Tổng
chất thải rắn phát sinh từ các cơ sở y tế năm 2005 là vào khoảng 300 tấn/ngày, trong đố
có 40 tấn/ngày là chất thải y tế nguy hại. Đến năm 2006, tính chung tỉ lệ bệnh viện có
hệ thống xử ly nước thải là 37% và chỉ có 30% đạt tiêu chuẩn cho phép [12], [24].
Ô nhiễm môi trường do nước thải sinh hoạt gây ra được các chuyên gia môi
trường đánh giá đang ở mức rất nghiêm trọng, thực trạng này đã được thể hiện trong
nhiều báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Khảo sát sơ bộ tình hình ô nhiễm nước thải sinh hoạt và nước thải Y tế trên địa
bàn thành phố Thái Nguyên.
Đánh giá được sự ô nhiễm của vi khuẩn gây bệnh trong mẫu nước thải sinh
hoạt và mẫu nước thải Y tế trên địa bàn thành phố Thái Nguyên.
Xác định một số đặc tính sinh vật, hóa học của một số vi khuẩn phân lập được
trong mẫu nghiên cứu.
1.4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học
Giúp sinh viên củng cố và hệ thống lại kiến thức đã học vào thực tế, đồng thời
làm quen với các thoa tác kỹ thuận trong nghiên cứu khoa học.
Biết được các phương pháp nghiên cứu một vấn đề khoa học, xử lý và phân
tích số liệu, cách trình bày một bài báo cáo khoa học.
- Ý nghĩa thực tiễn
Sử dụng một số phương pháp xác định vi sinh vật, khảo sát được thực trạng
ô nhiễm trong nước thải sinh hoạt và nước thải bệnh viện trên địa bàn thành phố
Thái Nguyên.

3

PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Khái niệm chung.
2.1.1. Khái niệm nước thải
Nước thải là chất lỏng được thải ra sau quá trình sử dụng của con người và đã
thay đổi tính chất ban đầu của chúng. Thông thường nước thải được phân loại theo
nguồn gốc phát sinh. Đây cũng là những cơ sở cho việc lựa chọn công nghệ xử ly
nước thải [25].
2.1.2. Nước thải sinh hoạt.
Đây là loại nước thải phát sinh từ quá trình sinh hoạt của con người như vệ
sinh, giặt giũ, chế biến thực phẩm,… tại các khu dân cư, khu vực hoạt động thương

cạnh đó, yêu cầu phân tách riêng từng dòng thải để xử lý chuyên biệt, vừa đảm bảo
vi sinh vật môi trường, đảm bảo hệ xử lý nước thải Y tế hoạt động hiệu quả, chi phí
xử lý thấp. Vì vậy, cần phải có nghiên cứu đánh giá hiện trạng, đề xuất các biện
pháp cải thiện [24], [5].
2.2.1.2. Thành phần tính chất nước thải bệnh viện
Nguồn gốc phát sinh nước thải bệnh viện
Nước thải bệnh viện là một dạng của nước thải sinh hoạt và chỉ chiếm một
phần nhỏ trong tổng số lượng nước thải sinh hoạt của khu dân cư. Tuy nhiên nước
thải bệnh viện cực kỳ nguy hiểm về phương diện vệ sinh dịch tễ, bởi vì ở các bệnh
viên tập trung người mắc bệnh là nguồn của nhiều loại bệnh với bệnh nguyên học
đã biết hoặc đôi khi còn chưa biết đối với khoa học hiện đại.
Nước thải bệnh viện ngoài ô nhiễm thông thường (ô nhiễm khoáng chất và ô
nhiễm các chất hữa cơ) còn chưa các tác nhân gây bệnh, trứng giun, virut. Chúng
đạc biệt nhiều nub ở bệnh viện có khoa chuyền nhiễm (lây). Còn nguy hiểm hơn về
phương diện dịch tễ là nước thải của bệnh viện dịch tễ chuyên khoa, các trại điều
dưỡng bệnh lao và những cơ sở lây bệnh khác. Ô nhiễm trong điều kiện bệnh viện
vào hệ thống thoát nước từ những thiết bị vệ sinh như hố xí, nhà tắm, chậu rửa mặt,
từ giặt giũ, rửa thực phẩm, bát đĩa, từ việc làm vệ sinh phòng…khi mà những đối
tượng đó tiếp xúc với người bệnh, kể cả từ các phòng đặc biệt khác của bệnh viện
[7], [24], [8].
Quan trọng là phải xác định đúng lượng nước thải của bệnh viện trong một
ngày để tính toán hệ thống thoát nước và lựa chọn sơ đồ công nghệ xử l nước thải

5

bênh viện. Người ta chấp nhận rằng tiêu chuẩn thoát nước bằng tiêu chuẩn cấp
nước, do vậy hiển nhiên lượng nước mà bênh viện dùng trong một ngày sẽ chính là
lượng nước thải trong một ngày. Theo nhiều tiêu chuẩn quốc gia của các nước thì
lượng nước cấp tính trên một giường đối với các bệnh viện và nhà an dưỡng thông
thường là 200- 250 l/ngày, còn nhiều tiêu chuẩn trên, ví dụ qua khảo sát ở nhiều

với chất thải bệnh viện, nhân viên vệ sinh có tỷ lệ tổn thương nghề nghiệp
cao nhất. Tỷ lệ tổn thương chung là 180/1000 người trong một năm, cao hơn hai
lần so với tỷ lệ này của toàn bộ lực lượng lao động ở Mỹ cộng lại [4].
Ở Nhật Bản, các nghiên cứu về chất thải y tế đã đưa ra các số liệu như sau [17]:
+ Tháng 7 năm 1987 có 2 bác sĩ trẻ thực tập nội trú ở Khoa Nhi không may bị
nhiễm virút từ các ống tiêm và đã bị chết bởi viêm gan B cấp tính. Tại Nhật bản đã
ghi nhận 570 trường hợp tương tự như vậy.
+ Việc khảo sát của các nhà y tế cộng đồng năm 1986 cho thấy 67,3% những
người thu gom rác trong các bệnh viện bị tổn thương do các vật sắc nhọn, 44,4%
những người thu gom rác bên ngoài các bệnh viện bị tổn thương khi thu gom các
chất thải bệnh viện.
+ Shiro Shirato cũng đã nêu trong tài liệu khoa học của Nhật Bản, tổng số hơn
500 trường hợp bị lây nhiễm bệnh có liên quan tới chất thải bệnh viện, hơn
400 trường hợp bị tác hại sinh học từ các thuốc có độc tố tế bào.
2.2.2. Đặc điểm, tính chất và thực trạng nước thải sinh hoạt.
2.2.2.1. Đặc điểm nước thải sinh hoạt.
Lượng nước thải sinh hoạt dân cư phụ thuộc vào dân số và đặc điểm của hệ
thống thoát nước. Nước thải sinh hoạt chữa nhiều chất hữu cơ dễ bị phân hủy sinh
học, ngoài ra còn có các thành phần vô cơ, vi sinh vật và vi trùng gây bệnh rất nguy
hiểm. Chất hữu cơ chứa trong nước thải sinh hoạt bao gồm các chất như: protein
(40-50%), hydratcacbon (40-50%), chất béo (5-10%), nồng độ chất hữu cơ trong
nước thải sinh hoạt dao động trong khoảng 150-450mg/l. Lượng nước thải sinh hoạt
dao động trong phạm vi rất lớn, tùy thuộc vào mức sống và các thói quen của người
dân, có thể tính bằng 80% lượng nước được cấp [5].
Thành phần của nước thải sinh họat gồm 2 lọai:
- Nước thải nhiễm bẩn do chất bài tiết của con người từ các phòng vệ sinh
- Nước thải nhiễm bẫn do các chất thải sinh họat : cặn bã từ nhà bếp, các chất
rửa trôi, kể cả làm vệ sinh sàn nhà.

7

- Chất rắn: Các loại rác sinh hoạt còn xót lại do chưa được thu gom triệt để
(bao bì, giấy vệ sinh ), các chất rắn lơ lửng khác.
Thành phần hóa học.

8

- Thành phần hữa cơ: Trong nước thải có chứa chất cặn bã, các chất hữa cơ
hòa tan phát sinh từ hoạt động của con nghười như ăn uống, vệ sinh.
- Thành phần vô cơ: Thành phần các chất vô cơ có trong nước thải bao gồm độ
kiềm, clorua, các kim loại nặng, nito, photpho, lưu huỳnh, các chất độc hại. Ngoài
ra còn các thành phần độc hại khác như canxi, natri, sunfat có mặt tròn nước thải
sinh hoạt từ quá trình sử dụng nước.
Thành phần sinh học.
- Các vi sinh vật, vi khuẩn gây bênh như: tả, lỵ, thương hàn, colifrom tổng số
2.3. Một số vi sinh vật gây bệnh có thể xuất hiện trong nước thải.
2.3.1. Coliforms tổng số
2.3.1.1. Giới thiệu
Coliforms được xem như một nhóm vi sinh vật chỉ thị: số lượng hiện diện của
chúng trong thực phẩm. Được xem vi sinh vật chỉ thị mức độ vệ sinh trong quá trình
chế biến, bảo quản, vận chuyển thực phẩm, nước uống hay các loại mẫu môi trường
được dung để chỉ thị khả năng hiện diện của các vi sinh vật gây bệnh khác[14].
2.3.1.2. Nguồn gốc
Vào cuối những năm 1800, khi Von Fritsch được mô tả Klebsiella
pneumoniae và Klebsiella rhinoscleromatis như là vi sinh vật đặc trưng tìm thấy
trong phân của con người.
Đầu thập niên 1900 Cabelli, ông cho rằng sự vắng mặt của Coliforms như là một
dấu hiệu cho thấy không suất hiện bệnh do vi khuẩn gây nên, và sau khi sản xuất khí
đốt với việc giới thiệu ống Durham thì khái niệm về vi khuẩn Coliforms và các vi
khuẩn khác dạng coli được sử dụng ở nước Anh năm 1901.
Đến đầu thập niên 1920, sự khác biện của các dạng vi khuẩn E. coli được đem

Vi khuẩn Coliforms hiện diện ở khắp nơi, kể cả trong đất, da, nước sông, nước
ao, rau cải,…
Sự có mặt của chúng trong rau củ được xem là một chỉ số về sự tinh khiết của
của nước hay rau. Tuy nhiên, chỉ số này cũng không đáng tin cậy. vì vi khuẩn
coliform vẫn có khả năng sống xót trong nước ẩm, sự hiện diện của Coliforms trong
nước không hẳn là bị nhiễm phân.
Coliforms chịu nhiệt xuất hiện từ nơi có nguồn nước giàu chất hữu cơ như
nước thải công nghiệp từ xác thực vật thối rữa hoặc đất [14], [22].

10

2.3.2. V. cholerae
2.3.2.1. Lịch sử phát hiện
Năm 1817, Thomas Sydenham là người đầu tiên mô tả bệnh tả khác với
những bệnh tiêu chảy khác, nhưng phải đến năm 1854 vi khuẩn gây bệnh tả mới
được Filippo Pacili quan sát thấy từ phân của bệnh nhân tả trong vụ dịch ở Italia và
đặt tên là Vibrio cholerae (V. cholerae). Phương thức lây truyền bệnh tả được John
Snow phát hiện năm 1849 tại London [14], [22].
Thế giới đã trải qua 7 vụ đại dịch tả. Từ 1817 đến 1923 đã có 6 vụ đại dịch
xảy ra, những vụ dịch này đều bắt đầu từ ấn Độ và đều do V. cholerae O1 typ sinh
học classic gây ra. Vụ đại dịch thứ 7 khác với 6 vụ trước. Vụ dịch này do
V.cholerae typ sinh học eltor gây ra và có nguồn gốc từ đảo Celebes của Indonesia
năm 1961. Vụ dịch này kéo dài nhất và có phạm vi rộng hơn 6 vụ trước, đến nay
còn nhiều nước thông báo những đợt bùng phát dịch tả do căn nguyên này gây ra
[3], [25].
Năm 1992, V. cholerae non – O1 nhóm huyết thanh O139 được xác đinh là
thủ phạm gây dịch tả ở Madras và vịnh Bengal ấn Độ lan sang một số nước châu á
(Pakistan, Nepal, Mianma, Thái lan, miền tây Trung quốc, Malaysia ). Một số nhà
chuyên môn cho rằng đây là vụ đại dịch tả thứ 8 [14].
2.3.2.1. Phân loại.

dàng trên môi trường nuôi cấy bình thường ở phòng thí nghiệm, không đòi hỏi yếu
tố tăng trưởng đặc biệt, nhưng 5-15mmol/l NaCl kích thích mọc tốt hơn. Ưa môi
ttrường kiềm pH 8-9,5. Sống ở nhiệt độ từ 16-42°C, nhiệt độ tối ưu 37°C. Thuộc
loại kỵ khí tùy nghi. V. cholerae chết nhanh trong môi trường acid, dễ bị diệt bởi
các chất tẩy rửa, đặc biệt nhạy cảm với sự khô, chỉ tồn tại 10 phút ở 55°C. Tuy nhiên,
có thể sống được 4-7 ngày trên rau, quả tươi để ở nơi mát và ẩm [14], [13], [22].
Các vi khuẩn thuộc chủng Vibrio có chung kháng nguyên H (chiên mao) dễ bị
nhiệt hủy. Vi khuẩn tả khác các Vibrio khác ở phần phản ứng sinh hóa, tiết độc tố
ruột và cấu trúc kháng nguyên O. Các dòng gây dịch tả đều thuộc nhóm O1, chia
làm 3typ huyết thanh: Ogawa (kháng nguyên O có yếu tố A,A), Inaba (kháng
nguyên O gồm A,C) và Hikojama (A, B, C). Về mặt dịch tễ học vi khuẩn tả có 2 typ

12

sinh học: Cổ điển, eltor. Typ eltor được Gotschlich phân lập năm 1905 từ trạm cách
ly E1 Tor ở vịnh Suez, là tác nhân chính trong đại dịch 7 cũng như ở Việt Nam hiện
nay. Typ elter khác typ cổ điển là nó tiết hemolysin, làm ngưng kết hồng cầu gà,
phản ứng Voges- proskauer dương tính không nhỵ cảm với phage IV và
polymyxinB. Cả typ đều tiết độc tố ruột giống nhau [14],.
V. cholerae tiết ra nhiều enzyme, trong số đó có mucinase làm tróc vảy biểu
mô ruột; neuraminidase thủy giải ganglioside GD1 Và GT2 thành GM1 khiến số
lượng thụ thể độc tố ruột tăng lên. Hemolysin là 1 protein 20.000 daltons, dễ bị
nhiệt phân hủy, không có vai trò trong bệnh tả mà có tính gây độc tố tế bào, gây độc
tố trên thú thực nghiệm và gây chết. Vai trò quyết định trong khả năng gây bệnh của
V.cholerae là tiết ra độc tố ruột [14], [22].
2.3.2.3. Sinh bệnh học
 Mầm bệnh
Phẩy khuẩn tả V. cholerae thuộc họ Vibrionaceae, là vi khuẩn có hình cong
như dấu phẩy, bắt màu gram âm, không sinh nha bào, di động được nhờ có lông.
Chúng phát triển tốt trong môi trường dinh dưỡng thường môi trường kiềm (pH >7).

 Đường lây
Bệnh lây theo đường tiêu hoá, cụ thể là đường phân-miệng thông qua nguồn
nước, thực phẩm, rau quả đặc biệt là một số hải sản như sò, ốc, hến được bắt từ
những nơi ô nhiễm hoặc tay bẩn, dụng cụ ăn uống bị ô nhiễm, qua ruồi, nhặng,
chuột, dán làm lây lan mầm bệnh[13].
2.3.3. Shigella
2.3.3.1 Lịch sử phát hiện
Bệnh lỵ trực khuẩn đã có từ rất
lâu. Nhưng phải tới năm 1896 trong
một vụ dịch lỵ trực khuẩn ở Nhật, tác
giả Shiga đã phát hiện mầm bệnh là
Shigella shiga. Hình 2.3: Khuẩn Shigella

14

Năm 1900, Flexneri và Strong đã tìm ra Shigella flexneri. Sau này Boyd,
Lentz và nhiều tác giả khác đã tìm ra các chủng lỵ khác gây bệnh ở người [14],
[23],[22].
2.3.3.2. Đặc điểm vi khuẩn.
Shigella là trực khuẩn Gram âm không di động, thuộc họ Enterobateriaceae.
Dựa vào đặc điểm kháng nguyên thân O và các đặc tính sinh hoá, người ta chia làm
4 nhóm chính: A, B, C, D như sau :
- Shigella dysenteriae: Nhóm A
- Shigella flexneri: Nhóm B
- Shigella boydii: Nhóm C
- Shigella sonnei: Nhóm D.
- Shigella dysenteriae 1 (còn gọi là trực khuẩn Shiga) hay gây dịch và tử vong

nguyên nhân dẫn đến hội chứng Gay bowell.
Do tính chất đề kháng với acid, Shigella sau khi xâm nhập vào đường tiêu hoá,
dễ dàng qua hàng rào acid của dạ dày [11], [14].
2.3.4. Salmonella
2.3.4.1. Lịch sử phát hiện
Năm 1885, Slamon và Smith (Mỹ) tìm được Salmonella từ lợn mắc dịch bệnh
tả gọi tên là Bacilus cholerasuis, hiện nay gọi là Salmonella. Nhưng sau đó
Schweinittz và Dorset 1903 đã chứng minh bệnh dịch tả là do một loại virus gây
nên và đã xác định S. choleraesuis là một vi khuẩn gây bệnh phó thương hàn.
Năm 1889, Klein phân lập được S. gallinarum và Rettger cũng phân lập được
S.pullorum năm 1909, Trước đây người ta cho rằng đây là hai loại vi khuẩn gây ra
hai loại bệnh khác nhau nên đã gọi chung là bệnh phó thương hàn gà (Typhus
avium) và căn bệnh có tên chung là S. gallinarum-pullorum [14].
2.3.4.2. Phân loại
Về phân loại Salmonella được xếp vào:
Giới: Bacteria
Ngành: Proteobacteria
Lớp: Gramma Proteobacteria
Bộ: Enterobacteriales
Họ: Enterobacteriaceae
Giống: Salmonella lignieres 1900

Hình 2.4: Khuẩn Salmonella
Lúc đầu, các loài Salmonella được đặt tên theo hội chứng lâm sang của chúng
như S.typhi hay S.paratyphi A, B, C (typhoid = bệnh thương hàn, para= phó), hoặc

16

theo vật chủ như S. typhimurium gây bệnh ở chuột (murine= chuột). về sau người ta
thấy rằng một loại Salmonella có thể gây ra nhiều hội chứng có thể phân được ở

17

và S. cholerasuis không sinh hydrogen sulfite, khoảng 5% các chủng Salmonella
sinh độc tố bacteriocin chống lại E. coli, Shigella và ngay cả một số chủng
Salmonella khác [22].
Salmonella có ba loại kháng nguyên, đó là những chất khi xuất hiện trong cơ
thể thì tạo ra kích thích đáp ứng miễn dịch và kết hợp đạc hiệu với sản phẩm có sự
kích thích đó, gồm: kháng nguyên thân O, kháng nguyên long H và kháng nguyên
vỏ K. vi khuẩn thương hàn (S. typhi) có kháng nguyên V(Virulence) là yếu tố chống
thực bào giúp cho vi khuẩn thương hàn phát triển bên trong tế bào bạch cầu [14].
Vi khuẩn Salmonella có thể chia ra làm hai loại độc tố: nội độc tố và ngoại
độc tố.
+ Nội độc tố của Salmonella rất mạnh gồm hai loại: gây xung huyết và mụn
loét độc tố ở ruột gây độc thần kinh, hông mê, co giật.
+ Ngoại độc tố chỉ phát hiện khi lấy độc tố có độc tính cao cho túi colodion rồi
đặt vào ổ bụng chuột lang để nuôi, sau 4 ngày lấy ra, rồi lại cấy truyền nhue vậy từ
5 đến 10 lần, sau cùng đem lọc, nước lọc có khả năng gây bệnh cho đong vật thí
nghiệm. Ngoại độc tố chỉ hình thành trong điệu kiện invivo và nuôi cấy kỵ khí.
Ngoại độc tố tác động vào thần kinh và ruột [14], [22].
Nội độc tố thường là lipopolysaccharide (LPS) được phóng ra từ vách tế bào
vi khuẩn khi bị dung giải. Trước khi thể hiện độc tính của mình, LPS cần phải liên
kết với các yếu tố liên kết tế bào hoặc các receptor bề mặt các tế bào như: tế bào
lâm ba cầu B, lâm ba cầu T, tế bào đại thực bào, tiểu thực bào, tế bào gan, lách.
Rất nhiều cơ quan trong cơ thể chịu tác động của nội độc tố LPS: Gan, thận, cơ,
hệ tim mạch, hệ tiêu hóa, hệ thống miễn dịch. Với các biểu hiện bệnh lí : tắc
mạch máu, giảm trương lực cơ thiếu oxy mô bào, toan huyết, rối loạn tiêu hóa,
mất tính them ăn…
Nội độc tố có tác động trực tiếp lên hệ miễn dịch của cơ thể vật chủ, kích
thích hình thành kháng thể.
Về cơ chế miễn dịch và di truyền các Enterotoxin của Salmonella có quan hệ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status