ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
PHẠM ĐỨC CẢNH
“NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG HẤP THỤ CO
2
CỦA MỘT SỐ LOÀI CÂY GỖ TRỒNG XEN
TRONG MÔ HÌNH NLKH TẠI XÃ VÔ TRANH,
PHÚ LƯƠNG, THÁI NGUYÊN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : CHÍNH QUY
Chuyên ngành : NÔNG LÂM KẾT HỢP
Khoa : LÂM NGHIỆP
Khóa học : 2010 - 2014
Chuyên ngành : Nông lâm kết hợp
Khoa : Lâm nghiệp
Khóa học : 2010 - 2014
Giáo viên hướng dẫn: 1. Ths. DƯƠNG VĂN ĐOÀN
2. TS. NGUYỄN THANH TIẾN
Khoa Lâm nghiệp - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Thái Nguyên, 2014
3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân
tôi. Các số liệu và kết quả nghiên cứu là quá trình điều tra trên thực địa hoàn
toàn trung thực, chưa công bố trên các tài liệu, nếu có gì sai tôi xin chịu hoàn
toàn trách nhiệm!
Thái Nguyên, ngày tháng 05 năm 2014
XÁC NHẬN CỦA TẬP THỂ GVHD NGƯỜI VIẾT CAM ĐOAN
Phạm Đức Cảnh XÁC NHẬN CỦA GV CHẤM PHẢN BIỆN
và các bạn đồng nghiệp để khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm
ơn!
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2014
Sinh viên Phạm Đức Cảnh
5
MỤC LỤC
Trang
Phần 1. MỞ ĐẦU 1
1.1. Đặt vấn đề 1
1.2. Mục đích nghiên cứu 3
1.3. Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3.1. Mục tiêu về lý luận 3
1.3.2. Mục tiêu cụ thể 3
1.4. Ý nghĩa của đề tài 3
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu 3
1.4.2. Ý nghĩa thực tiễn 3
Phần 2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài 4
2.1.1. Nghiên cứu hấp thụ CO
2
của rừng 4
2.1.2. Chi trả dịch vụ môi trường hấp thụ CO
2
2
hấp thụ ở một số loài
cây gỗ trồng trong mô hình NLKH tại khu vức nghiên cứu 22
3.4.3. Điều tra nghiên cứu thực địa 22
3.4.3.1. Khảo sát và lập OTC 22
3.4.3.2. Phương pháp lấy mẫu 23
3.4.3.3. Lấy mẫu tiêu biểu và ký hiệu mẫu 24
3.4.4. Phương pháp xử lý số liệu 24
3.4.4.1. Xử lý mẫu 24
3.4.4.2. Phương pháp sấy mẫu 24
3.4.4.3. Xử lý số liệu 25
7
Phần 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27
4.1. Khái quát mô hình Nông lâm kết hợp và tình hình sinh trưởng của
một số loài cây gỗ tại xã Vô Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 27
4.1.1. Khái quát diện tích mô hình NLKH 27
4.1.2. Khái quát tình hình sinh trưởng của một số loài cây gỗ trồng
trong mô hình NLKH 28
4.1.2.1. Đặc điểm sinh trưởng của một số loài cây gỗ 28
4.1.2.2. Phân bố N/D 29
4.1.2.3. Quy luật tương quan 30
4.2. Đặc điểm sinh khối của một số loài cây gỗ trồng trong mô hình
Nông lâm kết hợp tại xã Vô Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 31
4.2.1. Đặc điểm cấu trúc sinh khối tươi 31
4.2.2. Đặc điểm cấu trúc sinh khối khô 33
4.3. Xác định lượng Carbon tích lũy và lượng CO
2
hấp thụ ở cây gỗ
(Cơ chế phát triển sạch)
CIFOR
Center for International Forestry Research
(Trung tâm nghiên cứu Lâm nghiệp quốc tế)
REDD
Reducing Emissions from Deforestation and Forest
Degradation
(Giảm phát thải từ suy thoái rừng và mất rừng)
SKSS/KHHGĐ
Sức khỏe sinh sản/kế hoạch hóa gia đình
UBND
Ủy ban nhân dân xã
OTC
Ô tiêu chuẩn
D
1.3
Đường kính ngang ngực (cách mặt đất 1,3m)
H
vn
Chiều cao vút ngọn
SKK
Sinh khối khô
SKT
Sinh khối tươi
VNĐ
Đơn vị tiền tệ Việt Nam
C
Carbon
CO
Trang
Hình 3.1. Sơ đồ bố trí ÔTC 22
Hình 4.1. Biểu đồ phân bố số cây theo D
1.3
của một số loài cây gỗ
trồng trong mô hình NLKH 30
Hình 4.2. Biểu đồ cấu trúc sinh khối tươi của một số loài cây gỗ trồng
trong mô hình NLKH 32
Hình 4.3. Biểu đồ cấu trúc sinh khối khô của một số loài cây gỗ trồng
trong mô hình NLKH 34
Hình 4.4. Biểu đồ cấu trúc lượng tích lũy carbon của một số loài cây
gỗ trồng trong mô hình NLKH 36
Hình 4.5. Cấu trúc CO
2
hấp thu của một số loài cây gỗ trồng trong mô
hình NLKH 37
Hình 4.6. Tỷ lệ phần trăm lượng CO
2
hấp thụ của một số loài cây gỗ
trồng trong mô hình NLKH 38
Hình 4.7. So sánh tỷ lệ bình quân hấp thụ CO
2
của các loài cây gỗ
trồng trong mô hình NLKH 38
Hình 4.8. Biểu đồ lượng CO
2
hấp thụ trên mặt đất và dưới mặt đất của
một số loài cây gỗ trồng trong mô hình NLKH 39
, CH
4
, NO
x
, CFC…) gây nên
hiện tượng hiệu ứng nhà kính và đó cũng là nguyên nhân chính dẫn đến hiện
tượng biến đổi khí hậu trong những năm gần đây. Để giải quyết tận gốc vấn
đề trên thì cần nhanh chóng giảm lượng khí thải nhà kính và phát triển theo
“Cơ chế phát triển sạch - CDM”. Vì vậy, các hệ sinh thái rừng và các phương
thức canh tác Nông lâm nghiệp đóng vai trò quan trọng góp phần cải thiện và
giảm tác động xấu của biến đổi khí hậu.
Mặt khác, hiện nay trên thế giới việc nghiên cứu để lượng hóa những
giá trị về mặt môi trường của rừng mới trong giai đoạn khởi đầu và hoàn toàn
mới ở Việt Nam. Chính vì vậy, nghiên cứu sự tích lũy carbon của một số loài
cây gỗ trong mô hình Nông lâm kết hợp để xác định giá trị kinh tế đối với
chức năng phòng hộ môi trường sinh thái của rừng nói chung, cây rừng trong
mô hình Nông lâm kết hợp nói riêng là một hướng nghiên cứu mới cần quan
2
tâm. Kết quả những nghiên cứu mang tính định lượng này sẽ là cơ sở để xác
định giá trị chi trả cho các mô hình, trong đó tập trung vào nghiên cứu khả
năng hấp thụ CO
2
của các loài cây gỗ trong mô hình và chỉ ra vai trò của Nông
lâm kết hợp trong tình hình biến đổi khí hậu toàn cầu, định hướng cho việc tiếp
tục phát triển Nông lâm kết hợp không chỉ về hiệu quả kinh tế mà còn đóng
góp vào giá trị môi trường, cải thiện đất, giữ nước, hấp thụ và lưu giữ khí CO
2
khả năng hấp thụ CO
2
của một số loài cây gỗ trồng xen trong mô hình
NLKH tại xã Vô Tranh, Phú Lương, Thái Nguyên”.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Nhằm cung cấp thêm những thông tin khoa học về giá trị môi trường
rừng của mô hình Nông lâm kết hợp nói chung và tại xã Vô Tranh, huyện Phú
Lương, tỉnh Thái Nguyên nói riêng.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
1.3.1. Mục tiêu về lý luận
Góp phần xây dựng luận cứ khoa học cho việc định lượng giá trị môi
trường của rừng trong hệ thống Nông lâm kết hợp tại xã Vô Tranh, huyện Phú
Lương, tỉnh Thái Nguyên nói riêng và định giá rừng Việt Nam nói chung.
1.3.2. Mục tiêu cụ thể
- Xác định được lượng CO
2
hấp thụ ở một số loài cây gỗ trồng trong mô
hình Nông lâm kết hợp tại xã Vô Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
- Đề xuất được hướng dẫn phương pháp xác định lượng CO
2
hấp thụ ở
một số loài cây gỗ trong hệ thống mô hình Nông lâm kết hợp tại khu vực
nghiên cứu và ước tính giá trị môi trường thông qua CO
2
.
1.4. Ý nghĩa của đề tài
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu
Giúp cho sinh viên tích lũy được kĩ năng học tập và quan sát, thực
hành. Hiểu rõ các hoạt động diễn biến xảy ra trong tự nhiên cũng như sự tác
động của con người vào tự nhiên. Tập duyệt cho sinh viên có một phương
Tại trung tâm nghiên cứu Lâm nghiệp quốc tế - CIFOR (2007) đưa ra
nhu cầu nghiên cứu để theo dõi thay đổi che phủ rừng, bể chứa carbon và
chính sách để thực hiện chương trình REDD. Trung tâm Nông lâm kết hợp
thế giới - ICRAF (2007), đã phát triển các phương pháp dự báo năng lượng
carbon lưu giữ thông qua việc giám sát thay đổi sử dụng đất bằng phân tích
ảnh viễn thám, lập ô mẫu nghiên cứu sinh khối và ước tính lượng carbon tích
lũy một cách phù hợp hơn đối với các hệ sinh thái rừng của Việt Nam.
Qua kết quả nghiên cứu của trường đại học tổng hợp Wageningen, Hà
Lan đã phát triển phần mềm CO
2
Fix V3.1 để ứng dụng trong tính toán sinh
khối và lượng carbon tích lũy của rừng. Phần mềm này thực chất là xuất ra
các dữ liệu tổng hợp, thông tin về sinh khối và lượng carbon lưu giữ trên cơ
sở phải có các thông tin đầu vào thích hợp như trữ lượng, tăng trưởng, sinh
khối rừng, lượng carbon lưu giữ ban đầu, tuổi rừng, và chủ yếu là cho các khu
rừng thuần loài, đồng tuổi. Vì vậy phần mềm này chưa tương thích với các hệ
sinh thái rừng Việt Nam, tuy nhiên tiếp cận theo hướng lập phần mềm để đưa
ra thông tin giữ liệu về sinh khối và khả năng tích lũy carbon của rừng nhiệt
đới hỗn loài khác tuổi là một cách làm cần quan tâm ứng dụng.
5
Sự ước lượng carbon hấp thụ trong cây rừng nói chung theo cách tiếp
cận dựa trên dữ liệu điều tra như thể tích thân cây để tính ra sinh khối và
lượng carbon trong cây, các mô hình kinh nghiệm hay lý thuyết thường được
sử dụng để ước lượng carbon trong các thành phần khác nhau trong hệ sinh
thái rừng như cây sống, cây chết, hay trong đất.
Với việc ước tính carbon trong cây rừng, lâm phần thường được tính trên
cơ sở dự báo khối lượng sinh khối khô của rừng trên đơn vị diện tích (tấn/ha) tại
từng thời điểm trong quá trình sinh trưởng. Từ đó tính trực tiếp lượng CO
phương pháp nghiên cứu, phân tích hàm lượng carbon hấp thụ của cây rừng và
6
lâm phần trên mặt đất rừng bao gồm trong thân, vỏ, lá, cành của cây gỗ và cho
lâm phần. Trên cơ sở đó, Bảo Huy (2009) [5] đã phát triển phương pháp
nghiên cứu ước tính trữ lượng carbon trong các bể chứa ở các hệ sinh thái
rừng tự nhiên Việt Nam.
2.1.2. Chi trả dịch vụ môi trường hấp thụ CO
2
của rừng
Từ các dịch vụ môi trường mà những cộng đồng vùng cao có thể được
đền bù (hấp thụ carbon, bảo vệ vùng đầu nguồn và bảo tồn đa dạng sinh học)
thì cơ chế đền bù cho thị trường carbon là cao hơn cả, thậm chí rừng carbon
được xem là một đóng góp quan trọng trong xóa đói, giảm nghèo.
Đây là cơ
hội cho những người dân sống bằng nghề rừng có thể tiếp cận được nguồn
đầu tư tài chính, cũng như cơ hội để phát triển nguồn nhân lực thông qua việc
chuyển giao công nghệ, giúp người dân xây dựng môi trường sống an toàn,
bền vững, đặc biệt ở những nước đang phát triển. Các kế hoạch đền bù carbon
hiện cũng đang tăng lên nhanh chóng.
Từ cơ sở này hình thành khái niệm rừng carbon (Carbon Forestry), đó là
các khu rừng được xác định với mục tiêu điều hoà và lưu giữ khí carbon phát
thải từ công nghiệp. Khái niệm rừng carbon thường gắn với các chương trình
dự án cải thiện đời sống cho cư dân sống trong và gần rừng, đang bảo vệ rừng.
Họ là những người bảo vệ rừng và chịu ảnh hưởng của sự thay đổi khí hậu toàn
cầu, do đó cần có sự đền bù, chi trả thích hợp, có như vậy mới vừa góp phần
nâng cao sinh kế cho người giữ rừng đồng thời bảo vệ môi trường khí hậu bền
vững trong tương lai, hay nói cách khác là các hoạt động nhằm tích lũy carbon
giảm khí thải nhà kính theo Nghị định thư Kyoto. Đây là một điều kiện thuận
lợi để chúng ta nghiên cứu thị trường này trong quá trình hội nhập vào nền
kinh tế thế giới vì qua thị trường này có thể chúng ta sẽ thu được những
khoản tiền và tài trợ lớn từ các nước phát triển khi họ muốn trao đổi thị phần
phát thải khí nhà kính với ta. Mặt khác, nghiên cứu thị trường này cũng giúp
chúng ta có thêm hiểu biết về những quy định chung về việc sử dụng công
nghệ sạch và khí thải nhà kính trên thế giới để tránh cho nước ta trở thành nơi
tiếp nhận các công nghệ gây ô nhiễm.
2.2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.2.1. Những nghiên cứu trên thế giới
Đã có 16 dự án về hấp thụ carbon qua việc trồng mới và tái trồng rừng
được thực hiện đến năm 2004, trong đó châu Mỹ - Latin có 4 dự án, châu Phi
có 7 dự án, châu Á có 5 dự án và 1 dự án liên quốc gia được thực hiện tại các
nước Ấn Độ, Brazil, Jordan và Kenya (FAO, 2004) [20]. Tại Mexico một dự
án đang được thực hiện, mục tiêu của dự án là cung cấp 18.000 tấn CO
2
/năm
với giá 2,7 USD/tấn CO
2
, dự án đã lôi cuốn trên 400 thành viên thuộc trên 33
cộng đồng của 4 nhóm dân tộc thiểu số tham gia với nhiều hệ thống Nông lâm
kết hợp khác nhau. Kết quả của dự án đã làm tăng lượng carbon tích luỹ, tăng
cường năng lực cộng đồng, khuyến khích phát triển các hệ thống sản xuất
8
Nông nghiệp bền vững và góp phần bảo tồn đa dạng sinh học (Phạm Xuân
Hoàn, 2005) [4]. Một dự án nâng cao hấp thụ carbon đang được thực hiện
trong thời gian 50 năm tại Ấn Độ, theo tính toán, khi kết thúc dự án có thể cố
định được từ 0,4-0,6 Mt C, trong đó sau 8 năm, mỗi ha có thể cố định được
định C cũng đã được đánh giá cho từng giai đoạn sinh trưởng. Theo Wei
Haidong và Ma Xiangqing (2007), lượng C của cây trồng, vật rơi rụng và đất
9
của rừng 30 năm tuổi (rừng già) cao hơn lượng C của rừng 20 năm tuổi (rừng
trung niên) và hai loại rừng trên đều có lượng carbon tích trữ cao hơn so với
rừng 7 năm tuổi (rừng non). Tuy nhiên, đối với thảm thực vật dưới tán rừng
thì lượng C cao nhất được ghi nhận ở rừng già, sau đó đến rừng non và thấp
nhất là rừng trung niên.
Năm 1995 Murdiyarso D. đã nghiên cứu và đưa ra dẫn liệu rừng
Indonesia có lượng carbon hấp thụ từ 161 - 300 tấn/ha trong phần sinh khối
trên mặt đất. Tại Thái Lan, Noonpragop K. đã xác định lượng carbon trong
sinh khối trên mặt đất là 72 - 182 tấn/ha. Ở Malaysia lượng carbon trong rừng
biến động từ 100 - 160 tấn/ha và tính cả trong sinh khối và đất là 90 - 780
tấn/ha (ICRAF, 2001) [22].
Putz F.E. & Pinard M.A (1993), phương thức khai thác cũng có ảnh
hưởng rõ rệt tới mức thiệt hại do khai thác hay lượng carbon bị giảm. Bằng
việc áp dụng phương thức khai thác giảm thiểu (RIL) tác động ở Sabah
(Malaysia) sau khai thác một năm, lượng sinh khối đã đạt 44 - 67% so với
trước khai thác. Lượng carbon trong lâm phần sau khai thác theo RIL cao hơn
lâm phần khai thác theo phương thức thông thường đến 88 tấn/ha (dẫn theo
Phạm Xuân Hoàn, 2005) [4].
Nghiên cứu về khả năng hấp thụ CO
2
của rừng trồng hỗn giao giữa P.
massoniana và Cunninghamia lanceolata kết quả nghiên cứu cho thấy, đối
với cả 2 loài, hàm lượng carbon tập trung chủ yếu ở tầng cây gỗ đạt trung
bình 51,1%, tiếp đến là vật rơi rụng chiếm 48,3%, cây bụi chiếm 44,1% và
thấp nhất là trong cỏ chỉ chiếm khoảng 33,0% so với tổng sinh khối khô từng
(Leuvina, 2007) [24].
2.2.2. Những nghiên cứu ở Việt Nam
Mặc dù các nghiên cứu trong nước chưa thực sự đa dạng, chưa đánh
giá được một cách đầy đủ và toàn diện về khả năng tích lũy carbon của
rừng tự nhiên, rừng trồng và các phương thức canh tác Nông lâm nghiệp
nhưng những nghiên cứu ban đầu về lĩnh vực này có ý nghĩa rất quan
trọng, làm nền tảng thiết lập thị trường giao dịch carbon trong nước. Một
số kết quả nghiên cứu đã được ghi nhận như:
Ngô Đình Quế và cộng tác viên (2005) [11] tuỳ thuộc vào năng suất
lâm phần ở các tuổi nhất định mà khả năng hấp thụ CO
2
của các lâm phần có
sự khác nhau. Để tích luỹ khoảng 100 tấn CO
2
/ha, Thông nhựa phải đến tuổi
16 - 17, Thông mã vĩ và Thông 3 lá ở tuổi 10, Keo lai 4 - 5 tuổi, Keo tai tượng
5 - 6 tuổi và Bạch đàn uro ở tuổi 4 - 5. Tác giả đã lập phương trình tương
11
quan hồi quy tuyến tính giữa lượng CO
2
hấp thụ hàng năm với năng suất gỗ
và năng suất sinh học, từ đó tính ra được khả năng hấp thụ CO
2
thực tế ở nước
ta đối với 5 loài cây trên. Cũng theo Ngô Đình Quế (2005), với tổng diện tích
123,95 ha khi trồng Keo lai 3 tuổi, Quế 17 tuổi, Thông 3 lá 15 tuổi, Keo lá
tràm 12 tuổi thì sau khi trừ đi tổng lượng C của đường cơ sở, lượng C thực tế
thu được qua việc trồng rừng CDM là 7.553,6 tấn C hoặc 27.721,9 tấn CO
2
C/ha chiếm 3,79% tổng trữ lượng carbon (Nguyễn Văn Tấn, 2006) [13].
Nguyễn Ngọc Lung, Nguyễn Tường Vân (2004) [9] đã sử dụng biểu
quá trình sinh trưởng và biểu sinh khối để tính toán sinh khối cho một số loại
rừng. Nguyễn Ngọc Lung và Đào Công Khanh (1999) [8], đã nghiên cứu
Thông ba lá, cấp đất III tuổi chặt 60, khi D = 40 cm, H = 27,6 cm, G = 48,3
m
2
/ha, M = 586 m
3
/ha, tỷ lệ khối lượng khô/tươi cây lớn là 53,2%. Hệ số
chuyển đổi từ thể tích thân cây sang toàn cây là 1,3736. Tính ra sinh khối thân
cây khô tuyệt đối là 311,75 tấn, tổng sinh khối toàn rừng là 428,2 tấn. Còn
nếu tính theo biểu sinh khối thì giá trị là 434,2 tấn/ha. Sai số giữa biểu quá
trình sinh trưởng và biểu sản lượng là 1,4%.
Khi nghiên cứu khả năng hấp thụ CO
2
rừng trồng Keo tai tượng
(Acacia mangium) tại Tuyên Quang, Nguyễn Duy Kiên (2007) [7] đã cho thấy
sinh khối tươi trong các bộ phận lâm phần Keo tai tượng có tỷ lệ khá ổn định,
sinh khối tươi tầng cây gỗ chiếm tỷ trọng lớn nhất từ 75-79%; sinh khối tầng cây
dưới tán chiếm tỷ trọng 17-20 %; sinh khối vật rơi rụng chiếm tỷ trọng 4-5%.
Trong khi đó Vũ Tấn Phương và Ngô Đình Quế (2006) [10] cho rằng,
khả năng hấp thụ CO
2
của một số loại rừng trồng như Quế, Bạch đàn, Keo,
Thông bình quân đạt từ 11-20 tấn/ha/năm, tương đương 50-100 USD/ha/năm.
Qua nghiên cứu sinh khối và khả năng cố định carbon của rừng Mỡ
(Manglietia conifera Dandy) trồng tại Tuyên Quang và Phú Thọ cho thấy, cấu
trúc sinh khối cây cá thể Mỡ gồm 4 phần thân, cành, lá và rễ, trong đó sinh
khối tươi lần lượt là 60%, 8%, 7% và 24%; tổng sinh khối tươi của một ha
carbon của rừng trồng Thông nhựa và Thông mã vĩ theo từng cấp đất.
Nguyễn Thanh Tiến (2012) [14] đã nghiên cứu khả năng hấp thu CO
2
của rừng phục hồi IIB tại Thái Nguyên đã chỉ ra: Lượng CO
2
hấp thụ trong
tầng cây gỗ, tầng tầng cây dưới tán, vật rơi rụng và trong đất rừng. Tổng
lượng CO
2
hấp thụ trong lâm phần rừng IIB là rất lớn, biến động từ 383,68 -
505,87 tấn CO
2
/ha, trung bình 460,69 tấn CO
2
/ha, trong đó lượng CO
2
hấp thụ
tập trung chủ yếu ở tầng đất dưới tán rừng là 322,83 tấn/ha, tiếp đến là tầng
cây gỗ 106,91 tấn/ha, tầng cây dưới tán 15,6 tấn/ha và vật rơi rụng là 15,34
tấn/ha. Tổng lượng CO
2
hấp thụ trong lâm phần rừng IIB ở các huyện khác
nhau cũng có sự khác biệt, đạt lớn nhất ở huyện Võ Nhai đạt 485,0 tấn/ha tiếp
đến là huyện Định Hóa đạt 446,335 tấn/ha và thấp nhất là huyện Đại Từ đạt
450,809 tấn/ha.
14
2.2.3. Nhận xét chung
- Phương pháp luận, tiếp cận và nghiên cứu cụ thể ước tính lượng
của các mô hình NLKH và
thúc đẩy một cơ chế chi trả nhằm nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cộng
đồng trong quản lý sử dụng đất một cách bền vững và có hiệu quả nhiều mặt.
15
2.3. Tổng quan khu vực nghiên cứu
2.3.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu
2.3.1.1. Vị trí địa lý
Xã Vô Tranh nằm ở phía Đông huyện Phú Lương có diện tích đất tự
nhiên là: 1837,6 ha.
Về mặt ranh giới hành chính thì xã Vô Tranh giáp với các đơn vị sau:
+ Phía Đông giáp với xã Minh Lập huyện Đồng Hỷ
+ Phía Tây giáp với thị trấn Giang Tiên và xã Phấn Mễ
+ Phía Nam giáp với các xã Cổ Lũng và xã Sơn Cẩm
+ Phía Bắc giáp với xã Tức Tranh
2.3.1.2. Địa hình, địa thế
Vô Tranh là một xã vùng trung du miền núi diện tích đất nông nghiệp
chiếm đa số, có địa hình tương đối bằng phằng, phía Đông giáp với Sông Cầu
đảm bảo nguồn nước phục vụ lâu dài cho phát triển sản xuất nông nghiệp.
Phía Tây giáp với Quốc lộ 3, đây là một thuận lợi rất lớn cho lưu thông hàng
hóa trong quá trình phát triển kinh tế xã hội. (UBND xã Vô Tranh, 2013) [17].
2.3.1.3. Khí hậu, thủy văn
* Khí hậu
Vô Tranh mang đặc điểm chung của kiểu khí hậu miền núi Bắc Bộ. Khí
hậu mang tính chất nhiệt đới gió mùa với hai mùa nóng, lạnh rõ rệt. Mùa lạnh
(từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau) nhiệt độ xuống thấp, có khi xuống tới
3
0
C,