Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
MAI PHƯƠNG BẮC NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG HẤP THỤ CARBON CỦA
RỪNG TRỒNG KEO TAI TƯỢNG Ở CÁC TUỔI KHÁC
NHAU TẠI HUYỆN YÊN BÌNH – YÊN BÁI
CHUYÊN NGÀNH LÂM HỌC
MÃ SỐ: 60.62.60
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. Trần Thị Thu Hà Mai Phƣơng Bắc
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Môi trường trên hành tinh của chúng ta đã và đang bị hủy hoại một cách
nghiêm trọng, là một trong những nguyên nhân làm nóng lên bầu khí quyển, dẫn
đến biến đổi khí hậu trên toàn cầu, là nguyên nhân làm thay đổi hàng loạt các hệ
sinh thái và quá trình hoạt động của nhiều loài động thực vật đã, đang và sẽ đưa đến
những tác hại không lường đối với cuộc sống của loài người. Cho nên việc bảo vệ
môi trường hiện nay là vấn đề nóng bỏng của tất cả các quốc gia trên thế giới. Nếu
chúng ta cứ tàn phá Trái đất như hiện nay thì đến cuối thế kỷ 21, nhiệt độ của bầu
khí quyển có thể tăng lên thêm 1-5
0
C. Lúc ấy băng ở Bắc Cực và Nam Cực sẽ tan,
mực nước biển sẽ dâng cao lên hằng mét, diện tích của nhiều quốc gia sẽ bị biển
lấn, nhiều hệ sinh thái sẽ bị hủy diệt, đất canh tác sẽ bị thu hẹp, nhiều thành phố ven
biển sẽ không còn trên bản đồ.
Vấn đề biến đổi khí hậu, là vấn đề đang đe dọa nghiêm trọng trực tiếp đến
lợi ích sống còn của con người trên toàn thế giới, trong đó có Việt Nam. Nguyên
nhân trực tiếp của sự biến đổi khí hậu là do phát thải quá mức khí nhà kính, đặc biệt
là CO
2
. Kể từ cuối thế kỷ 18, mức CO
2
[32].
Một công trình nghiên cứu toàn diện của nhóm các nhà khoa học quốc tế,
đứng đầu là Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (Inter-governmental Panel
on Climate Change – IPCC) và một nhóm các nhà khoa học trong một công trình
nghiên cứu khoa học của mình đã cho rằng sự nóng lên của Trái đất là nguyên nhân
làm thay đổi hàng chục nghìn hệ sinh thái và quá trình hoạt động của nhiều loài
động thực vật. Công trình nghiên cứu này dựa trên số liệu phân tích 30.000 hệ sinh
học và lý học trong khoảng thời gian từ năm 1970 trở lại đây, trong đó có sự vận
động của 829 hiện tượng vật lý và hoạt động của 28.800 loài sinh vật [6].
Chính phủ Anh đã có một báo cáo công bố tháng 05 năm 2008, hiện tượng
nóng lên toàn cầu làm nguy hại đến kinh tế thế giới với quy mô và thiệt hại tương tự
hai cuộc thế chiến và thảm họa là đại suy thoái nếu các nước không có biện pháp
kiềm chế. Nhiệt độ trái đất tăng lên có thể làm tăng số lượng côn trùng và dẫn tới
kết cục thảm khốc đối với loài người, một nghiên cứu mới nhận định. Kèm theo đó
là các đại dương trên toàn thế giới ngày càng bị acid hóa, đe dọa sự ổn định của
chuỗi thức ăn toàn cầu. Các nhà khoa học thuộc trường Đại học California và
Washington (Mỹ) đã đưa ra kết luận rằng hiện tượng tăng nhiệt độ trái đất là mối
đe dọa lớn nhất đối với các loài sinh vật ở vùng nhiệt đới.
Trên thế giới, nhiều hiện tượng dị thường của thời tiết xảy ra thường xuyên
hơn với cường độ ngày càng mạnh hơn. Từ năm 2000 đến 2007 đã có 16 cơn bão
vùng Tây bắc Thái Bình Dương làm thiệt mạng trên 3.800 người và gây thiệt hại
trên 30 tỉ USD (tính theo thời giá 2008) [32]. Chỉ trong năm 2008 chúng ta đã phải
chứng kiến sau siêu bão Nargis gây thảm họa tại Myanmar. Theo thống kê của
chính phủ Myanmar có 38.491 người chết, 27.838 người mất tích; theo Hội Chữ
thập đỏ và trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế (IRFRC ) ước tính có từ 68.800 đến 127.000
người thiệt mạng; Liên hiệp quốc cho biết khoảng 2,5 triệu người sống sót cần được
cứu trợ; gần 17.330 km
2
vẫn còn chìm trong nước ) là vòi rồng giết người ở Mỹ, bão
các rạn san hô bị tiêu diệt rồi sẽ di cư đến các vùng biển khác. Việt Nam là nước
đứng thứ 4 trong 10 nước chịu ảnh hưởng nhiều nhất do mực nước biển dâng lên
[6].
Hiện nay, khoa học đã khẳng định rằng hệ sinh thái trên cạn có vai trò to lớn
trong chu trình các bon của sinh quyển, lượng các bon trao đổi giữa các hệ sinh thái
này với sinh quyển ước tính khoảng 60 tỷ tấn/năm. Rừng nhiệt đới trên toàn thế giới
có diện tích khoảng 17,6 triệu km
2
chứa đựng 428 tỷ tấn Các bon trong sinh khối và 4
trong đất…[4]. Brown và Pearce đã đưa ra số liệu là 1ha rừng nguyên sinh có thể
hấp thụ được 28 tấn Các bon và sẽ giải phóng 200 tấn Các bon nếu bị chyển thành
du canh du cư và sẽ giải phòng nhiều hơn nữa nếu chuyển thành đồng cỏ hay đất
nông nghiệp. Rừng trồng có thể hấp thụ được 115 tấn các bon và sẽ bị giảm 20-30%
nếu chuyển thành đất nông nghiệp. Lượng Các bon lưu giữ trong rừng trên toàn thế
giới là khoảng 800-1.000 tỷ tấn, trong 1 năm rừng hấp thụ 100 tỷ tấn khí CO
2
và
thải ra khoảng 80 tỷ tấn O
2
[4].
Tuy nhiên hiện nay diện tích rừng trên toàn thế giới đang thu hẹp, khả năng
hấp thu CO2 giảm. Một sáng kiến quốc tế về Nghị định thư Kyoto được 180 quốc
gia ký kết năm 1997, trong đó 38 nước công nghiệp phát triển cam kết trong việc cắt
giảm phát thải khí nhà kính vào năm 2012 xuống mức 5,2%. Với sự ra đời của nghị
định thư Kyoto đã khẳng định vai trò của rừng trong vấn đề giảm phát thải khí nhà
kính và sự nóng lên của toàn cầu. Giá trị hấp thụ CO
6/1992, trong đó có Chính phủ Việt Nam. Mục tiêu cuối cùng của UNFCCC là ổn
định nồng độ khí nhà kính trong khí quyển ở mức có thể ngăn ngừa được sự can
thiệp nguy hiểm của con người đối với hệ thống khí hậu. Các nước trên thế giới
được UNFCCC phân chia thành 2 nhóm nước:
Nhóm 1: Thuộc Phụ lục 1, gồm các nước phát triển với lượng phát thải khí
nhà kính rất lớn.
Nhóm 2: Không thuộc Phụ lục 1, trong đó có Việt Nam, thuộc các nước đang
phát triển. Tại Kyoto (Nhật Bản) đã diễn ra Hội nghị về môi trường thế giới lần thứ
3 vào tháng 12/1997. Hội nghị này đã thông qua một Nghị định gọi là Nghị định thư
Kyoto. Kyoto đưa ra cam kết đối với các nước phát triển về giảm lượng phát thải
các khí nhà kính phải thấp hơn mức phát thải của năm 1990. Cụ thể là: trong thời kỳ 7
cam kết từ 2003 – 2012, phải giảm trung bình là 5,2% (ước 2.800 – 4.800 triệu tấn
CO
2
tương đương).
Nghị định thư Kyoto đưa ra 3 cơ chế mềm dẻo cho các nước phát triển thực
hiện cam kết, đó là: cơ chế Đồng thực hiện (JI); Cơ chế buôn bán quyền phát thải
(IET); Cơ chế phát triển sạch (CDM).
CDM - cơ chế phát triển sạch, được quy định trong Điều 12 của nghị định
thư Kyoto cho phép chính phủ hoặc tổ chức, cá nhân ở các nước phát triển thực hiện
dự án giảm phát thải khí nhà kính ở các nước đang phát triển để nhận được “chứng
chỉ giảm phát thải”, viết tắt là CERs, đóng góp cho chỉ tiêu cam kết giảm phát thải
của quốc gia đó. Thực chất mục tiêu của CDM là giúp các nước đang phát triển đạt
được sự phát triển bền vững đồng thời góp phần thực hiện mục tiêu ổn định khí nhà
kính và giúp các nước phát triển thực hiện cam kết về hạn chế và giảm phát thải
định lượng khí nhà kính để nhận được chứng chỉ giảm phát thải [19]. Như vậy
lâm nghiệp, thực hiện xã hội hoá lâm nghiệp Nhằm tạo ra một môi trường hấp dẫn
đối với các nước trong việc đầu tư buôn bán phát thải CO
2
. Chính
phủ đã giao cho
Bộ Tài nguyên Môi trường là cơ quan đầu mối quốc gia về các vấn đề liên quan đến
biến đổi khí hậu và CDM. Chúng ta đã tổ chức nhiều dự án liên quan đến CDM như
thực hiện kiểm kê khí nhà kính quốc gia, nghiên cứu chiến lược quốc gia về CDM,
tổ chức các khoá huấn luyện nâng cao năng lực thực hiện dự án CDM và nhận dạng
các công nghệ tiềm năng cho CDM. Một số dự án CDM đã được các bên liên quan
phê chuẩn và đi vào thực hiện
Là một nước đang phát triển, chúng ta chưa phải chịu trách nhiệm cắt giảm
khí thải nhà kính theo Nghị định thư Kyoto. Đây là một điều kiện thuận lợi để
chúng ta nghiên cứu thị trường này trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới
vì qua thị trường này có thể chúng ta sẽ thu được những khoản tiền và tài trợ lớn từ
các nước phát triển khi họ muốn trao đổi thị phần phát thải khí nhà kính với ta. Mặt
khác, nghiên cứu thị trường này cũng giúp chúng ta có thêm hiểu biết về những quy
định chung về việc sử dụng công nghệ sạch và khí thải nhà kính trên thế giới để
tránh cho nước ta trở thành nơi tiếp nhận các công nghệ gây ô nhiễm.
1.1.2. Thị trường Carbon
Tháng 8 năm 2001 thị trường về mua bán chỉ tiêu phát thải khí nhà kính đã
được khai trương ở London. Tại thị trường này trước tiên có 6 loại khí nhà kính sẽ
được giao dịch trong đó quan trọng nhất là khí Cacbon dioxit (CO
2
). Đơn vị đo các 9
Uy cho thấy sự phát triển vượt bậc cả về quy mô và giá trị giao dịch của thị trường
Carbon. Năm 2005 giá trị giao dịch của thị trường tài chính Carbon đạt 10,908 tỷ 10
USD với khối lượng giao dịch khoảng 0,718 tỷ tấn, năm 2006 đạt 31,235 tỷ USD
với khối lượng 1,745 tỷ tấn, đến năm 2007 con số này đã đạt đến mức 64,035 tỷ
USD cho 2,983 tỷ tấn và năm 2008 đã tăng đến mức 126,345 tỷ USD cho mức giao
dịch của 4,811 tỷ tấn. Năm 2009 do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính nên
giá trị giao dịch của thị trường Carbon giảm, với khối lượng 8,2 tỷ tấn khí thải CO
2
đã được trảo đổi trên thị trường mua bán hạn ngạch khí thải thế giới với giá trị giao
dịch khoảng 135 tỷ USD [33].
1.2. Một số nghiên cứu, dự án liên quan đến hấp thụ các bon của rừng
1.2.1. Trên thế giới
1.2.1.1. Nghiên cứu sinh khối và năng suất rừng
Sự tăng trưởng sinh khối gắn liền với tích luỹ các bon của cây rừng, để
nghiên cứu trữ lượng các bon của rừng hấp thụ được thì bước đầu tiên là nghiên cứu
sinh khối rừng.
Đầu thế kỷ 19 đã có những nghiên cứu về sinh trưởng và dự đoán sản lượng
rừng, tiêu biểu như Baur, Breymann, Danckemam, Weise Mỗi tác giả đều có cách
tiếp cận và giải quyết vấn đề khác nhau nhưng đều tìm hiểu về những quy luật sinh
trưởng, mối quan hệ giữa sinh trưởng và sản lượng rừng vào không gian dinh
dưỡng, quy luật kết cấu lâm phần, đặc tính di truyền của mỗi loài cây và mô phỏng
bằng mô hình toán học. Từ các công trình đó đã đưa ra kết luận rằng sinh trưởng,
tăng trưởng, sinh khối có quan hệ chặt chẽ với nhau và phụ thuộc vào chiều cao,
đường kính.
Trong lĩnh vực nghiên cứu về sinh khối có thể kể đến một số công trình và
cành, lá và một số thành phần sản phẩm sơ cấp của hơn 1.200 lâm phần thuộc 46
nước trên thế giới [25].
Trong khi nghiên cứu về sinh khối cũng đã có nhiều tác giả quan tâm đến
phương pháp xác định vì nó liên quan đến độ chính xác của kết quả nghiên cứu.
Tùy từng điều kiện mà sử dụng các phương pháp xác định sinh khối khác nhau. Có
thể kể đến một số tác giả sau:
- Newbuold.P.J (1967) đề nghị phương pháp "cây mẫu" để nghiên cứu năng
suất và sinh khối của quần xã từ các ô tiêu chuẩn.
- Burton và Barner (1998) đưa ra phương pháp xác định sinh khối dựa vào
mối liên hệ giữa sinh khối với kích thước của cây hoặc của từng bộ phận cây theo
dạng hàm toán học (thường áp dụng cho việc xác định sinh khối của bộ phận trên
mặt đất). 12
- Catchpole và Wecler (1992) đưa ra một số phương pháp ước tính sinh khối
cho cây bụi và cây tầng dưới như lấy mẫu toàn bộ cây, phương pháp kẻ theo đường,
phương pháp mục trắc và phương pháp lấy mẫu kép sử dụng tương quan.
- Mekenzie (2001) đưa ra phương pháp lấy mẫu rễ để xác định sinh khối [31].
- Aruga và Maidi đã đưa ra phương pháp "cholorophyll" đó là phương pháp xác
định thông qua hàm lượng cholorophyll trên một đơn vị diện tích mặt đất vì hàm lượng
này biểu thị khả năng hấp thụ tia bức xạ hoạt động trong quang phổ mặt trời.
1.2.1.2. Nghiên cứu khả năng hấp thụ CO
2
của rừng
Trên thế giới, 2 nơi có khả năng hấp thụ một khối lượng lớn CO2 phát thải
vào không khí bởi các hoạt động của con người đó là đại dương và thảm thực vật.
Trong đó thảm thực vật đã lưu giữ một lượng CO
2
trong phần sinh khối trên mặt đất, ở rừng già là 370-520 tấn sinh khối /ha (tương
đương 185-260 tấn C/ha, lượng các bon ước tính 50% sinh khối) [31].
- Noonpragop.K (1999) Rừng Thái lan có lượng các bon trong sinh khối trên
mặt đất là 72-182 tấn/ha.
- Abu Bakar.R (2000) Rừng Malaysia lượng các bon biến động từ 100-160
tấn/ha nếu tính cả sinh khối trong đất là 90 - 780 tấn/ha [26].
- Noordwijk. (2000) tại Tndonesia - Khả năng tích lũy các bon ở rừng thứ
sinh, các hệ thống Nông lâm kết hợp và thâm canh cây lâu năm trung bình là 2,5
tấn/ha/năm và có sự biến động lớn trong các điều kiện khác nhau từ 0,5 tấn đến 12,5
tấn/ha/năm.
- Theo MC Kenzie (2001) Các bon trong hệ sinh thái rừng thường tập trung
ở 4 bộ phận chính: Thảm thực vật còn sống trên mặt đất, vật rơi rụng, rễ cây và đất
rừng. Việc xác định lượng các bon trong rừng thường được thực hiện thông qua xác
định sinh khối rừng [29].
* Kết quả nghiên cứu về sự biến động các bon sau khai thác rừng:
- Brown và Pearce (1994) đã nhận định rằng: Một khu rừng nguyên sinh có thể
hấp thụ được 280 tấn các bon và sẽ giải phóng 200 tấn các bon nếu chuyển thành du
canh du cư và sẽ giải phóng nhiều hơn một chút nếu được chuyển thành đồng cỏ hay
đất nông nghiệp. Rừng trồng có thể hấp thụ khoảng 115 tấn các bon và con số này sẽ
giảm từ 1/3 đến 1/4 khi rừng bị chuyển đổi sang canh tác nông nghiệp [11].
- Lasco (2002) lượng sinh khối và các bon của rừng nhiệt đới Châu Á bị
giảm khoảng 22-67% sau khi khai thác. Tại Philippines ngay sau khi khai thác thì
lượng các bon bị mất là 50% so với rừng thành thục trước khai thác và ở Indonesia
là 38-75% [31]. 14
- Theo Putz.F.E và Pinard.M.A (1993) ở Malaisia nếu khai thác chọn lấy đi
8-15 cây/ha (tương đương 80m
Số liệu ở bảng trên cho thấy lượng các bon lưu trữ trong kiểu rừng mưa nhiệt
đới là cao nhất, chiếm 62,16% tổng lượng các bon ở lục địa, trong khi đó đất trồng trọt
chỉ chứa 1,28%. Điều đó chứng tỏ việc chuyển đổi đất rừng sang đất nông nghiệp sẽ
làm mất cân bằng sinh thái, gia tăng lượng khí phát thải gây hiệu ứng nhà kính.
Xét trên phạm vi toàn cầu, số liệu thống kê năm 2003 cho thấy lượng các
bon lưu trữ trong rừng khoảng 800-1.000 tỷ tấn. Trong 1 năm rừng hấp thụ khoảng
100 tỷ tấn khí các bon níc và thải ra khoảng 80 tỷ tấn Oxy [4].
* Về phương pháp xác định Carbon trong sinh khối:
- Carbon được xác định thông qua việc tính toán sự thu nhận và điều hòa
CO
2
và O
2
trong khí quyển của thực vật bằng cách phân tích hàm lượng hóa học của
carbon, hydro, oxy, nitơ và tro trong 1 tấn chất khô.
Ví dụ: Đối với cây Vân sam hàm lượng kg/1 tấn chất khô lần lượt là C =
510,4; H = 61,9; O = 408,0; N = 5,3 và tro = 14,4. Từ những kết quả trên ta tính 15
được lượng CO
2
mà loài cây này hấp thụ và lượng O
2
loài cây này điều hòa trong
khí quyển ứng với 1 tấn chất khô. (Below-1976, dẫn theo Nguyễn Văn Thêm -
2002).
Để tạo được 510,4kg carbon, cây rừng cần phải hấp thụ 1 lượng CO
lượng CO
2
mà cây hấp thụ được trong không khí.
- Xác định trữ lượng cácbon bằng cách sử dụng hệ số mặc định về trữ lượng
Cacbon trong sinh khối khô là 0,5 (IPCC, 2005), và lượng các bon tương đương
theo hệ số quy đổi 1C = 3,67 CO
2
1.2.1.3. Một số hoạt động và dự án liên quan đến CDM
- Mexico: Dự án Scolel Te (the tree that grows) và hệ thống kế hoạch Vivo
(Plan Vivo System). Với sự hỗ trợ của Chương trình nghiên cứu lâm nghiệp Anh
(DFID) thì một dự án thí điểm được thực hiện tại Mexico. Mục tiêu nhằm cung cấp
18.000 tấn CO
2
/năm với giá 2,7USD/tấn CO
2
(10 USD/tấn các bon) cho Liên hiệp
quốc sản xuất động cơ. Một quỹ tín dụng sinh khí hậu được thành lập, mọi tổ chức
hay cá nhân muốn tham gia việc hạn chế phát thải khí nhà kính đều có thể nhận tiền
từ quỹ này để trồng rừng, sản xuất nông lâm kết hợp hay các hoạt động tái tạo trồng
rừng khác của cộng đồng Đã có hơn 400 thành viên thuộc trên 30 cộng đồng dân
cư của 4 nhóm dân tộc thiểu số khác nhau tham gia dự án với nhiều hệ thống nông
lâm kết hợp rất phong phú. Dự án đã làm tăng đáng kể lượng tích lũy các bon, hỗ 16
trợ tăng cường năng lực của cộng đồng, khuyến khích phát triển các hệ thống sản
xuất nông nghiệp bền vững và góp phần bảo tồn đa dạng sinh học [4].
- Ấn Độ: Một tổ chức phi chính phủ có tên là "Phụ nữ và Phát triển bền
phép khai thác gỗ và sản phẩm gỗ thuộc về Sabah Foundation, trong khi FACE 17
Foundation sẽ có toàn quyền đối với dịch vụ cố định các bon trong 99 năm. Cho
đến năm 2003 thì đây là dự án lớn nhất về mua bán các bon [4].
1.2.2. Ở Việt Nam
1.2.2.1. Nghiên cứu sinh khối và năng suất rừng
Nghiên cứu về sinh khối rừng ở nước ta tiến hành muộn nhưng cũng đã có
một số công trình nghiên cứu sau:
- Hoàng Mạnh Trí (1986) thực hiện nghiên cứu “Sinh khối và năng suất rừng
đước” đã áp dụng phương pháp “cây mẫu” để nghiên cứu năng suất, sinh khối một
số quần xã rừng Đước đôi rừng ngập mặn ven biển Minh Hải [18].
- Hà Văn Tuế (1994) cũng dùng phương pháp “cây mẫu” để nghiên cứu năng
suất, sinh khối một số quần xã rừng trồng nguyên liệu giấy tại Vĩnh Phúc [20].
- Lê Hồng Phúc (1996) đã có công trình nghiên cứu về sinh khối hoàn chỉnh,
đây được xem là tác phẩm mang tính chất đi đầu trong lĩnh vực nghiên cứu sinh
khối ở nước ta. Với đối tượng nghiên cứu là Thông ba lá tại Đà Lạt – Lâm Đồng.
Sau khi nghiên cứu, tác giả đã lập được một số phương trình tương quan giữa sinh
khối của các bộ phận của cây rừng với đường kính D1.3 [9].
- Vũ Văn Thông (1997) với luận văn Thạc sỹ của mình đã xác lập được mối
quan hệ giữa sinh khối của các bộ phận với đường kính D1.3 cho loài Keo lá tràm
[17].
- Đặng Trung Tấn (2001) Cũng đã nghiên cứu về “Sinh khối rừng Đước” và
đã nhận định: Tổng sinh khối khô rừng Đước ở Cà Mau là 327m
3
/ha và tăng trưởng
sinh khối bình quân hàng năm là 9.500kg/ha [15].
- Nguyễn Ngọc Lung (2004) đã có công trình nghiên cứu về sinh khối rừng
1.2.2.2. Nghiên cứu khả năng hấp thụ các bon của rừng
- Nguyễn Ngọc Lung (2004), công bố nghiên cứu sinh khối rừng Thông ba lá
để tính toán thử khả năng cố định CO
2
mà cây rừng hập thụ. Đây là công trình
nghiên cứu có ý nghĩa trong lĩnh vực khoa học nghiên cứu khả năng hấp thụ CO
2
của rừng, tạo tiền đề cho việc xây dựng dự án trồng rừng CDM sau này [7].
- Ngô Đình Quế (2005) cho biết với tổng diện tích là 123,95 ha sau khi trồng
Keo lai 3 tuổi, Quế 17 tuổi, Thông ba lá 15 tuổi, Keo lá tràm 12 tuổi thì sau khi trừ
đi tổng lượng các bon của đường cơ sở, lượng các bon thực tế thu được qua việc
trồng rừng theo dự án CDM là 7.553,6 tấn các bon, tương đương 27.721,9 tấn CO
2
[14].
- Nguyễn Văn Dũng (2005) nghiên cứu về rừng Thông Mã vỹ tại Núi Luốt -
Đại học lâm nghiệp cho thấy rừng Thông mã vỹ thuần loài 20 tuổi lượng các bon 19
tích luỹ là 80,7-122 tấn/ha, giá trị các bon tích luỹ ước tính đạt 25,8-39 triệu
VNĐ/ha. Rừng Keo lá tràm trồng thuần loài 15 tuổi có tổng lượng các bon tích luỹ
là 62,5-103,1 tấn/ha, giá trị tích luỹ các bon ước tính đạt 20-33 triệu VNĐ [2].
- Vũ Tấn Phương (2006) đã nghiên cứu trữ lượng các bon theo các trạng thái
rừng cho biết: Rừng giàu có tổng trữ lượng các bon 694,9 – 733,9 tấn CO
2
/ha; rừng
trung bình là 539,6-577,8 tấn CO
Các dự án CDM trong lâm nghiệp đang được xây dựng, gồm:
Dự án tái trồng rừng đầu tiên của Việt Nam đã được đăng ký theo Cơ chế phát triển
sạch (AR-CDM) trong khuôn khổ Công ước khung Liên hợp quốc về biến đổi khí
hậu (UNFCCC) theo Nghị định thư Kyoto. Với sự hỗ trợ của Cơ quan Hợp tác
Quốc tế Nhật Bản (JICA). Đây là nghiên cứu của JICA về “Phát triển năng lực để
thúc đẩy trồng rừng theo cơ chế CDM ở Việt Nam”. Nghiên cứu của JICA nhằm 20
mục đích phát triển năng lực của đối tác Việt Nam( Cục Tài Chính, Đại học lâm
nghiệp Việt Nam và Trung tâm nghiên cứu Sinh thái và môi trường lâm nghiệp)
nhằm thúc đẩy trồng rừng theo cơ chế CDM ở Việt Nam. Hình thành một dự án
trồng rừng theo cơ chế CDM quy mô nhỏ (Tổng diện tích rừng được tái tạo trong
khuôn khổ dự án vào khoảng 310 ha. Khoảng 320 hộ cá thể lâm nghiệp tại Huyện
Cao Phong (tỉnh Hòa Bình) sẽ tham gia vào các hoạt động tái trồng rừng và được
hưởng lợi từ việc bán gỗ và các sản phẩm lâm nghiệp khác) là một hợp phần quan
trọng của nghiên cứu theo phương pháp “vừa học vừa làm” bởi vì trên thế giới có
rất ít các dự án về trồng rừng theo cơ chế CDM. Nhóm nghiên cứu mong rằng việc
thực hiện dự án thí điểm sẽ kích thích sự phát triển của các dự án trồng rừng theo cơ
chế CDMở Việt Nam và đóng góp vào việc hình thành cơ chế thanh toán đối với
các dịch vụ môi trường, giảm nghèo ở các vùng núi, và dần dần đi đến phục hồi đa
dang sinh học. Dự kiến, dự án sẽ hấp thụ khoảng 43.000 tấn khí các bon trong thời
hạn 16 năm. Việt Nam là nước thứ tư trên thế giới tiến hành dự án này sau Trung
Quốc, Moldova và Ấn Độ [37].
“Dự án hợp tác của trung tâm nghiên cứu giống cây rừng với tổ chức IGPO”
đã được thực thi trong khung CDM, được sử dụng để cải tiến và thu thập những
nguồn giống của loài Keo và Bạch đàn cho trồng rừng, nhằm nâng năng suất sinh
trưởng của 2 loài này và đã tăng được từ 15-20% năng suất. Nghĩa là đã tăng được
khả năng hấp thụ CO
2
của rừng. Mặc dầu đã có tương đối
nhiều các công trình nghiên cứu, dự án liên quan đến về khả năng hấp thụ các bon
của thảm thực vật trong và ngoài nước. Tuy nhiên những nghiên cứu sâu về việc
xác định trữ lượng các bon, động thái hấp thụ các bon của các loại thảm thực vật
rừng còn rất mới mẻ. Đối với Viêt Nam đã tham gia vào Nghị định thư, tuy nhiên
còn gặp nhiều trở ngại như thiếu thông tin cũng như cơ sở khoa học, phương pháp
tính toán, dự báo lượng hấp thụ CO
2
của thảm thực vật. Do vậy, việc nghiên cứu trữ
lượng các bon hấp thụ đối với các trạng thái rừng của Việt Nam hết sức cần thiết để
khẳng định chức năng môi trường của rừng cũng như giá trị đích thực của rừng, cơ
hội thương mại các bon, một tiềm năng rất lớn trong lĩnh vực kinh doanh lâm
nghiệp mà trước đây hầu như chưa hề đề cập đến. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
22
CHƢƠNG 2: MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1. Mục tiêu chung
Đánh giá được khả năng tích lũy Carbon của rừng trồng Keo tai tượng làm cơ
sở cho việc tính toán chi trả dịch vụ môi trường.
2.1.2. Mục tiêu cụ thể
- Xác định trữ lượng Carbon của rừng trồng Keo tai tượng ở tuổi 3, 5, 7.
- Xác định giá trị bằng tiền của rừng trồng Keo tai tượng tuổi 3, 5, 7 trong
việc giảm phát thải khí CO
2
qua quá trình quang hợp và hô hấp cũng như khả năng tích lũy Carbon của rừng có
mối quan hệ với một số yếu tố như mật độ cây, chu kỳ kinh doanh…
Thông qua quá trình quang hợp, CO
2
ngoài môi trường sẽ được cây rừng hấp
thụ và chuyển thành năng lượng dưới dạng chất hyđratcacbon.
5n CO
2
+ 5n H
2
O (C
5
H
10
O
5
)
n
+ 5n O
2
Hợp chất này tích luỹ trong các bộ phận của cây tạo ra sinh khối (Biomass)
Chính vì vậy để có được số liệu hấp thụ các bon, khả năng và động thái hấp
thụ các bon của rừng, chúng ta phải tính từ sinh khối của rừng. Phương pháp nghiên
cứu chủ yếu là rút mẫu thực nghiệm cho từng đối tượng, từ các quy luật phân bố,
mối quan hệ giữa các đại lượng và ứng dụng các hàm đa biến để xây dựng một mô
hình tính toán ước lượng sinh khối của cây.
2.4.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể
2.4.2.1.Phương pháp thu thập số liệu, lấy mẫu
a) Kế thừa tài liệu: