Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ THU HIỀN
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG HẤP THỤ CARBON CỦA
RỪNG TRỒNG KEO LAI Ở CÁC CẤP TUỔI KHÁC
NHAU TẠI ĐỒNG HỶ - THÁI NGUYÊN
CHUYÊN NGÀNH LÂM HỌC
MÃ SỐ: 60.62.60
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. Trần Thị Thu Hà
THÁI NGUYÊN – 2010
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
MỤC LỤC
PHẦN 1. MỞ ĐẦU ……………………………………………………….
1
1.1. Đặt vấn đề …………………………………………………………
1
1.2. Mục tiêu……………………………………………………………
3
1.3. Giới hạn của đề tài…………………………………………………
3
PHẦN 2. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU……………………
4
2.1. Những nghiên cứu về Keo lai……………………………………
4
2.2. Nghiên cứu về sinh khối và năng suất rừng………………………
6
2.2.1. Trên thế giới………………………………………………
21
4.2. Nội dung nghiên cứu……………………………………………….
21
4.3. Phương pháp nghiên cứu…………………………………………
21
4.3.1. Cơ sở phương pháp luận……………………………………
21
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4.3.2. Phương pháp thu thập số liệu và tính toán…………………
22
PHẦN 5. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN……………….
28
5.1. Kết quả đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng và lựa chọn cây mẫu…….
28
5.2. Nghiên cứu sinh khối của cây cá thể và lâm phần…………………
30
5.2.1. Nghiên cứu kết cấu sinh khối tươi cây cá thể
30
5.2.2. Nghiên cứu kết cấu sinh khối khô cây cá thể
32
5.2.3. Nghiên cứu tổng sinh khối toàn lâm phần
34
5.3. Nghiên cứu trữ lượng Carbon của cây cá thể và của lâm phần
36
5.3.1. Nghiên cứu kết cấu trữ lượng Carbon của cây cá thể
36
5.3.2. Nghiên cứu trữ lượng Carbon hấp thụ của lâm phần Keo
, H
vn
)
40
5.5. Xây dựng mối tương quan giữa sinh khối, trữ lượng Carbon trên
mặt đất với sinh khối, trữ lượng Carbon dưới mặt đất…………………
42
5.5.1. Mối tương quan giữa tổng sinh khối tươi của bộ phận trên
mặt đất với sinh khối tươi của bộ phận dưới mặt đất trong cây cá thể
42
5.5.2. Mối tương quan giữa tổng sinh khối khô của bộ phận trên
mặt đất với sinh khối khô của bộ phận dưới mặt đất cây cá thể
43
5.5.3. Mối tương quan giữa trữ lượng Carbon của bộ phận trên
mặt đất với trữ lượng Carbon của bộ phận dưới mặt đất trong cây cá
44
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
thể
5.6. Xây dựng mối tương quan giữa sinh khối tươi, trữ lượng Carbon
với sinh khối khô………………………………………………………
45
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
LỜI NÓI ĐẦU
Trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS. Trần Thị Thu Hà,
Trưởng Bộ môn Điều tra Quy hoạch rừng, Khoa Lâm nghiệp, Trường ĐHNL
Thái Nguyên, đã định hướng nghiên cứu, hướng dẫn, sửa luận văn và tạo điều
kiện thời gian cũng như trang thiết bị để hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô giáo, tập thể Khoa Sau đại học
đã nhiệt tình giảng dạy và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành khóa học.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa Khoa Nông học,
Trường ĐHNL Thái Nguyên đã tạo điều kiện cho tôi đi học.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn những người thân trong gia đình
và bạn bè đã giúp đỡ và động viên tôi trong suốt thời gian học tập
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2010 Nguyễn Thị Thu Hiền
29
5.3
Kết cấu sinh khối tươi cây cá thể Keo lai
31
5.4
Kết cấu sinh khối khô cây cá thể Keo lai
33
5.5
Kết cấu tổng sinh khối tươi và khô lâm phần Keo lai
35
5.6
Kết cấu trữ lượng Carbon tích lũy trong cây cá thể Keo lai
36
5.7
Tổng trữ lượng Carbon hấp thụ của lâm phần Keo lai
37
5.8
Tương quan giữa tổng sinh khối tươi cây cá thể với các nhân
tố điều tra lâm phần (D
1.3
, H
vn
)
39
5.9
Tương quan giữa tổng sinh khối khô cây cá thể với các nhân
tố điều tra lâm phần (D
1.3
, H
vn
Tương quan giữa tổng sinh khối tươi với tổng sinh khối khô
cây cá thể Keo lai
47
5.16
Tương quan giữa trữ lượng Carbon với sinh khối khô cây cá
thể
47
5.17
Lượng hóa giá trị thương mại từ chỉ tiêu CO
2
tính cho rừng
trồng Keo lai tuổi 5 và 7
48 DANH MỤC BẢN ĐỒ
Bản đồ
Tên bản đồ
Trang
3.1
Bản đồ hành chính huyện Đồng Hỷ………………
15 DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ
Tên biểu đồ
Trang
5.1
Tỉ lệ sinh khối tươi các bộ phận Keo lai tuổi 5
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
a, b
,
Hệ số hay tham số hồi quy của phương trình
C/ha
Carbon/hécta
C
1
, C
2
Trữ lượng Carbon trên và dưới mặt đất của cây cá thể
CDM
Cơ chế phát triển sạch
(Clean Development Mechanism)
CO
2
Cácboníc (Carbon Dioxide)
CS
(i)
, CS
Trữ lượng Carbon và Carbon Dioxide
D
1.3
S
Sai tiêu chuẩn hay phương sai hồi quy
Sig.F
Xác suất tiêu chuẩn F
Sig.T
Xác suất tiêu chuẩn t
TMĐ, DMĐ
Bộ phận trên mặt đất và bộ phận dưới mặt đất
W
k(th)
, W
k(c)
, W
k(L)
, W
k(r)
Sinh khối khô bộ phận thân, cành, lá và rễ
W
khô/ha
Sinh khối khô của cây cá thể
W
t(th)
, W
t(c)
, W
t(L)
, W
t(r)
Sinh khối tươi bộ phận thân, cành, lá và rễ
W
Kết quả là dẫn tới sự gia tăng nhiệt độ của khí quyển trái đất (Phan Minh
Sáng, Lưu Cảnh Trung, 2006) [19].
Rừng đóng vai trò quan trọng trong chu trình Carbon toàn cầu. Đối
với rừng nhiệt đới, có tới 50% lượng Carbon dự trữ trong thảm thực vật và
50% dự trữ trong đất (Dixon và Nnk, 1994; Brown, 1997; IPCC, 2000;
Pregitzer và Euskirchen, 2004; Phan Minh Sáng, Lưu Cảnh Trung) [19], [30],
[32], [35], [42]. Do đó việc làm sáng tỏ tiềm năng của các bể hấp thụ Carbon,
vai trò của hệ sinh thái rừng trong chu trình Carbon, biện pháp tăng khả năng
đóng góp của hệ sinh thái rừng trong chống biến đổi khí hậu toàn cầu đang
được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm. Việc quản lý chu trình Carbon
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2
trong điều hòa khí hậu, giảm tác hại hiệu ứng nhà kính đòi hỏi phải có những
nghiên cứu, đánh giá về khả năng hấp thụ Carbon một cách nghiêm túc để
làm cơ sở lượng hóa những giá trị kinh tế và môi trường mà rừng mang lại và
đưa ra chính sách chi trả cho các chủ rừng một cách hợp lý.
Trên thực tế lượng Carbon hấp thụ phụ thuộc vào kiểu rừng, trạng thái
rừng, loài cây, cấp tuổi. Điều quan tâm hiện nay là làm thế nào để ước lượng,
dự báo khả năng hấp thụ Carbon của rừng để làm cơ sở chi trả dịch vụ môi
trường. Đây chính là những vấn đề còn thiếu nhiều nghiên cứu ở Việt Nam.
Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khi mà diện tích rừng trồng ngày càng gia
tăng và để khuyến khích các đơn vị đầu tư trồng rừng thì việc nghiên cứu để
lượng hóa những giá trị về mặt môi trường của rừng là rất cần thiết.
Ở nước ta, sự gia đời của giống Keo lai là sự mở đầu cho một phong trào
sử dụng giống có năng suất cao và nhân giống sinh dưỡng trong lâm nghiệp.
Keo lai là loài không chỉ mang lại hiệu quả về giá trị kinh tế mà còn có giá trị
Về nội dung: Trong giới hạn thời gian và kinh phí cho phép, đề tài chỉ
tập trung nghiên cứu sinh khối, khả năng hấp thụ Carbon, CO
2
của rừng trồng
Keo lai, không nghiên cứu hiện trạng thảm thực vật trước khi trồng rừng và
diễn biến rừng trước thời điểm điều tra. Do đó đề tài không xác định lượng
Carbon cơ sở của thảm thực vật trước khi trồng rừng Keo lai, không ước tính
sinh khối và lượng Carbon tích luỹ của những cây đã tỉa thưa.
Về phạm vi nghiên cứu: Số liệu được thu thập tại rừng Keo lai trồng ở
tuổi 5 và 7 tại huyện Đồng Hỷ - Thái Nguyên.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
PHẦN 2. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Những nghiên cứu về Keo lai
Trong những thập niên trước đây, mục đích chính của việc trồng rừng
chủ yếu là phủ xanh đất trống đồi núi trọc thì hiện nay trồng rừng sản xuất lại
đòi hỏi phải có năng suất cao. Không có giống tốt và các biện pháp thâm canh
thích đáng thì không thể tăng năng suất rừng được. Trong hoàn cảnh như vậy,
xẻ) 12 - 14 năm; áp dụng hệ thống biện pháp kỹ thuật trồng rừng thâm canh
đã đưa năng suất rừng trồng Keo lai đạt từ 28 - 36 m
3
/ha/năm, đây là một
bước đột phá trong trồng rừng thâm canh Keo lai ở nước ta [8].
Nguyễn Huy Sơn (2006) đã “Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của cây
Keo lai và tuổi thành thục công nghệ của rừng trồng ở vùng Đông Nam Bộ” ở
hai địa điểm trên hai loại đất chính là đất phù sa cổ ở Bầu Bàng (Bình Dương)
và đất feralit phát triển trên phiến thạch sét ở Sông Mây (Đồng Nai) với đối
tượng là rừng trồng Keo lai thâm canh 5 tuổi. Kết quả cho thấy: sau 5 năm
trồng, Keo lai trồng ở khu vực Đông Nam Bộ có khả năng sinh trưởng khá
nhanh, tăng trưởng bình quân về đường kính đạt từ 2,38 - 2,56 cm/năm và
chiều cao đạt từ 3,14 - 3,38 m/năm. Trữ lượng cây đứng trùng bình đạt từ 136
- 180 m
3
/ha, tăng trưởng bình quân đạt từ 27,2 - 36,0 m
3
/ha/năm. Keo lai
trồng ở khu vực Đông Nam Bộ đạt tuổi thành thục số lượng ở giai đoạn 7 - 8
năm tuổi, đó là tuổi khai thác hợp lý cho mục đích kinh doanh gỗ nhỏ, tại thời
điểm đó đường kính ngang ngực có thể đạt từ 18,7 - 21,53 cm. Giai đoạn 14 -
15 năm tuổi Keo lai có lượng tăng trưởng bình quân về tiết diện ngang đạt
cực đại và lúc đó đường kính ngang ngực có thể đạt từ 33 - 35 cm, đó là tuổi
thành thục về trữ lượng và là tuổi khai thác hợp lý cho mục đích kinh doanh
gỗ lớn [20].
Lê Quốc Huy, Nguyễn Minh Châu (2006) “Nghiên cứu ứng dụng Công
nghệ Rhizobium cho Keo lai, Keo tai tượng tại vườn ươm và rừng trồng”. Kỹ
thuật tuyển chọn, sản xuất chế phẩm rhizobium có hiệu lực cộng sinh cao ứng
dụng cho Keo lai, Keo tai tượng vườn ươm và rừng trồng sẽ góp phần làm
tăng chất lượng, hiệu quả sản xuất cây con và năng suất rừng trồng [5].
và chương trình sinh quyển con người “MAB” (1971) đã tác động mạnh mẽ
tới việc nghiên cứu sinh khối. Những nghiên cứu trong giai đoạn này tập
trung vào các đối tượng đồng cỏ, savan, rừng rụng lá, rừng mưa thường xanh
[37].
- Duyiho cho biết thực vật ở biển hàng năm quang hợp đến 3x10
10
tấn
vật hữu cơ, còn trên mặt đất là 5,3x10
10
tấn. Riêng với hệ sinh thái rừng nhiệt
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
đới năng suất chất khô thuần từ 10 – 50 tấn/ha/năm, trung bình là 20
tấn/ha/năm, sinh khối chất khô từ 60 – 800 tấn/ha/năm, trung bình là 450
tấn/ha/năm (dẫn theo Lê Hồng Phúc, 1994) [11].
- Dajoz (1971) tính toán năng suất sơ cấp của một số hệ sinh thái như
sau: Mía ở châu Phi 67 tấn/ha/năm, rừng nhiệt đới thứ sinh ở Yangambi 20
tấn/ha/năm, Savana cỏ Mỹ (Penisetum purpureum) châu Phi 30 tấn/ha/năm,
đồng cỏ tự nhiên ở Fustuca (Đức) 10,5 – 15,5 tấn/ha/năm, đồng cỏ tự nhiên
Deschampia và Trifolium ở vùng ôn đới là 23,4 tấn/ha/năm, còn sinh khối
(Biomass) của Savana cỏ cao Andrôpgon (Cỏ Ghine): 5000 – 10000
kg/ha/năm. Rừng thứ sinh 40 – 50 tuổi ở Ghana: 362.369 kg/ha/nam (dẫn theo
Dương Hữu Thời, 1992) [23].
- Canell (1982) đã công bố công trình “Sinh khối và năng suất sơ cấp
rừng thế giới” trong đó tập hợp 600 công trình đã được xuất bản về sinh khối
khô, than, cành, lá và một số thành phần, sản phẩm sơ cấp của hơn 1.200 lâm
- Phương pháp lấy mẫu rễ để xác định sinh khối được mô tả bởi
McKenzie và cộng sự (2001) [39].
2.2.2. Ở Việt Nam
So với những vấn đề khác trong lĩnh vực lâm nghiệp, nghiên cứu về sinh
khối rừng ở nước ta được tiến hành khá muộn (cuối thập kỷ 80), tản mạn và
không có hệ thống. Tuy nhiên, các nghiên cứu cũng đã đem lại những kết quả
rất có ý nghĩa và để lại nhiều dấu ấn.
Nguyễn Hoàng Trí (1986) cùng với công trình “Sinh khối và năng suất
rừng Đước (Rhizophora apliculata BL.) đã áp dụng phương pháp “cây mẫu”
nghiên cứu năng suất, sinh khối một số quần xã Đước đôi, rừng ngập mặn ven
biển Minh Hải là đóng góp có ý nghĩa lớn về mặt lý luận và thực tiễn đối với
hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển nước ta [24].
Hà Văn Tuế (1994) cũng trên cơ sở phương pháp “cây mẫu” của
Newboul (1967) nghiên cứu năng suất, sinh khối một số quần xã rừng trồng
nguyên liệu giấy tại vùng trung du Vĩnh Phúc [25].
Lê Hồng Phúc (1986) đã có công trình “Đánh giá sinh trưởng tăng
trưởng, sinh khối và năng suất rừng trồng Thông ba lá (Pinus keysia) vùng Đà
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
Lạt, Lâm Đồng”, tác giả đã kết luận rằng mật độ rừng trồng ảnh hưởng lớn tới
sinh trưởng, tăng trưởng, sinh khối và năng suất của rừng [13].
Viên Ngọc Nam (2003), Nghiên cứu sinh khối và năng suất sơ cấp lâm
phần Mấm trắng (Avicennia alba BL.) tự nhiên tại Cần Giờ, TP Hồ Chí Minh
đã tìm ra được tổng sinh khối, lượng tăng trưởng sinh khối, năng suất vật rơi
rụng cũng như năng suất thuần của lâm phần Mấm trắng trồng tại Cần Giờ.
Tác giả đã mô tả mối tương quan giữa sinh khối khô các bộ phận cây Mấm
10
Đặng Trung Tấn (2001) với công trình nghiên cứu “Sinh khối rừng Đước”
đã xác định được tổng sinh khối khô rừng Đước ở Cà Mau là 327 m
3
/ha, tăng
trưởng sinh khối bình quân hàng năm là 9500 kg/cây [21].
Theo Nguyễn Văn Dũng (2005), rừng trồng Thông mã vĩ thuần loài 20 tuổi
có tổng sinh khối tươi (trong cây và vật rơi rụng) là 321,7 - 495,4 tấn/ha, tương
đương với lượng sinh khối khô là 173,4 - 266,2 tấn. Rừng Keo lá tràm trồng
thuần loài 15 tuổi có tổng sinh khối tươi (trong cây và trong vật rơi rụng) là
251,1 - 433,7 tấn/ha, tương đương với lượng sinh khối khô thân là 132,2 - 223,4
tấn/ha [2].
Vũ Tấn Phương (2006) khi nghiên cứu về sinh khối cây bụi thảm tươi tại
Đà Bắc - Hòa Bình, Hòa Trung, Thạch Thành, Ngọc Lặc - Thanh Hóa cho kết
quả: sinh khối tươi biến động rất khác nhau giữa các loại thảm tươi, cây bụi: Lau
lách có sinh khối tươi cao nhất, khoảng 104 tấn/ha, tiếp đến là trảng cây bụi 2 -
3 m có sinh khối tươi đạt khoảng 61 tấn/ha,. Các loại cỏ như lá tre, cỏ tranh và
cỏ chỉ (hoặc lông lợn) có sinh khối biến động khoảng 22 - 31 tấn/ha. Về sinh
khối khô Lau lách có sinh khối khô cao nhất 40 tấn/ha, cây bụi cao 2 -3 m là 27
tấn/ha, cây bụi cao dưới 2 m và Tế guột là 20 tấn/ha, Cỏ lá tre 13 tấn/ha, Cỏ
tranh 10 tấn/ha, Cỏ chỉ và Cỏ lông lợn là 8 tấn/ha [15].
Nguyễn Ngọc Lung, Nguyễn Tường Vân (2004) đã sử dụng quá trình sinh
trưởng và biểu Biomass để tính toán sinh khối rừng. Kết quả cho thấy: trữ lượng
thân cây cả vỏ 1 ha lúc 60 tuổi là 586 m
3
/ha (phần cây sống) thì Biomass thân
cây khô tuyệt đối là: 586 x 0,532 = 311,75 tấn. Biomass cả rừng là: 311,75 x
1,3736 = 428,2 tấn. Còn nếu tính theo biểu Biomass thì giá trị này là 434,2 tấn.
et al, 1994); IPCC (2000) [32], [35].
Brown và cộng sự (1996) đã ước lượng tổng lượng Carbon mà hoạt
động trồng rừng trên thế giới có thể hấp thu tối đa trong vòng 5 năm (1995 -
2000) là khoảng 60 – 87 Gt C, với 70% ở rừng nhiệt đới, 25% ở rừng ôn đới
và 5% ở rừng cực bắc (Cairns et al, 1997) [28], [30]. Tính tổng lại rừng trồng
có thể hấp thu được 11 – 15% tổng lượng CO
2
phát thải từ nguyên liệu hoá
thạch trong thời gian tương đương (Brown, 1997) [31].
Một số kết quả nghiên cứu về khả năng hấp thụ Carbon của rừng:
- Năm 1991, Houghton đã chứng minh lượng Carbon trong rừng nhiệt
đới châu Á là 40 – 250 tấn/ha, trong đó 50 – 120 tấn/ha ở phần thực vật và đất
(dẫn theo Nguyễn Thị Hà, 2007) [4].
- Năm 1986, Paml et al đã cho rằng lượng Carbon trung bình trong sinh
khối phần trên mặt đất của rừng nhiệt đới châu Á là 185 tấn/ha và biến động
từ 25 – 300 tấn/ha. Kết quả nghiên cứu của Brown (1991) cho thấy rừng nhiệt
đới Đông nam Á có lượng sinh khối trên mặt đất từ 50 – 430 tấn/ha (tương
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
đương 25 – 215 tấn C/ha) và trước khi có tác động của con người thì các trị số
tương ứng là 350 – 400 tấn/ha (tương đương 175 – 200 tấn/ha) [34].
- Murdiyarso (1995) đã nghiên cứu và đưa ra dẫn liệu rừng Indonesia có
lượng Carbon hấp thụ từ 161 – 300 tấn/ha trong phần sinh khối trên mặt đất
[34].
- Tại Philippines, năm 1999 Lasco cho biết ở rừng tự nhiên thứ sinh có
86 – 201 tấn C/ha (tương đương 370 – 52 tấn sinh khối khô/ha, lượng Carbon
13
và Thông ba lá ở tuổi 10, Keo lai 4 – 5 tuổi, Keo tai tượng 5 – 6 tuổi, Bạch
đàn Uro 4 – 5 tuổi. Kết quả này là rất quan trọng nhằm làm cơ sở cho việc
quy hoạch vùng trồng, xây dựng các dự án trồng rừng theo cơ chế phát triển
sạch (CDM). Tác giả đã lập phương trình tương quan hồi quy - tuyến tính
giữa các yếu tố lượng CO
2
hấp thụ hàng năm với năng suất gỗ và năng suất
sinh học. Từ đó tính ra được khả năng hấp thụ CO
2
thực tế ở nước ta đối với 5
loài cây trên [17].
Ngô Đình Quế (2006) cho biết, với tổng diện tích là 123,95 ha sau khi
trồng Keo lai 3 tuổi, Quế 17 tuổi, Thông ba lá 17 tuổi, Keo lá tràm 12 tuổi thì
sau khi trừ đi tổng lượng Carbon của đường làm cơ sở, lượng Carbon thực tế
thu được qua việc trồng rừng theo dự án CDM là 7.553,6 tấn Carbon hoặc
27.721,9 tấn CO
2
[16]
.
Nguyễn Văn Dũng (2006) cho thấy, Thông mã vĩ thuần loài 20 tuổi có
lượng Carbon tích luỹ là 80,7 – 122 tấn/ha, giá trị Carbon ước tính đạt 25,8 –
39,0 triệu VNĐ/ha. Rừng Keo lá tràm trồng thuần loài 15 tuổi có tổng lượng
Carbon tích luỹ là 62,5 – 103,1 tấn /ha, giá trị Carbon ước tính đạt 20 – 33
triệu VNĐ/ha. Tác giả cũng đã xây dựng Bảng tra lượng Carbon tích luỹ của
2 trạng thái rừng trồng Keo lá tràm và Thông mã vĩ theo mật độ, D
g
và H
Tấn Phương (2006) xây dựng các phương trình quan hệ Keo lai, Keo tai
tượng, Keo lá tràm, Bạch đàn Urophylla và Quế. Đây là những cơ sở quan
trọng cho việc xác định nhanh lượng Carbon tích luỹ của rừng trồng nước ta
thông qua điều tra một số chỉ tiêu đơn giản [16].
Khả năng hấp thụ của rừng tự nhiên cũng được quan tâm nghiên cứu. Vũ
Tấn Phương (2006) đã nghiên cứu trữ lượng Carbon theo các trạng thái rừng
cho biết: rừng giàu có tổng trữ lượng Carbon là 694,9 - 733,9 tấn CO
2
/ha,
rừng trung bình 539,6 - 577,8 tấn CO
2
/ha, rừng nghèo 387,0 - 478,9 tấn
CO
2
/ha, rừng phục hồi 164,9 - 330,5 tấn CO
2
/ha và rừng tre nứa là 116,5 -
277,1 tấn CO
2
/ha [14].
Theo Hoàng Xuân Tý (2004), nếu tăng trưởng rừng đạt 15m
3
/ha/năm,
tổng sinh khối tươi và chất hữu cơ của rừng sẽ đạt được xấp xỉ 10 tấn/ha/năm
tương đương với 15 tấn CO
2
/ha/năm, với giá thương mại CO
2
tháng 4/2004
biến động từ 3 - 5 USD/tấn CO
’
độ kinh Đông.
Bản đồ 3.1: Bản đồ hành chính huyện Đồng Hỷ