SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vị: Trường THPT Bình Sơn
Mã số:
(Do HĐKH Sở GD&ĐT ghi)
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
“TÌM HIỂU VỀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO DỰ ÁN VÀ THỬ
NGHIỆM ỨNG DỤNG TRONG DẠY HỌC SINH HỌC 12”
Người thực hiện: BÙI THU HÀ
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục
- Phương pháp dạy học bộ môn: Sinh học
- Lĩnh vực khác:
(Ghi rõ tên lĩnh vực)
Có đính kèm: Các sản phẩm không thể hiện trong bản in SKKN
Mô hình Đĩa CD (DVD) Phim ảnh Hiện vật khác
(các phim, ảnh, sản phẩm phần mềm)
Năm học: 2014 - 2015
Trang 1/ 39
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vị: Trường THPT Bình Sơn
Mã số:
(Do HĐKH Sở GD&ĐT
ghi)
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
“TÌM HIỂU VỀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO DỰ ÁN VÀ
THỬ NGHIỆM ỨNG DỤNG TRONG DẠY HỌC SINH HỌC 12”
Người thực hiện: BÙI THU HÀ
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục
- Phương pháp dạy học bộ môn: Sinh học
- Lĩnh vực khác:
Trang 2/ 39
Tên SKKN: TÌM HIỂU VỀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO DỰ ÁN VÀ THỬ
NGHIỆM ỨNG DỤNG TRONG DẠY HỌC SINH HỌC 12
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Theo chủ trương đổi mới giáo dục THPT của Bộ GD theo hướng hiện đại hóa lấy học
sinh làm trung tâm, tăng cường rèn luyện các kĩ năng sống cần thiết cho học sinh. Đồng
thời trong quá trình giảng dạy tôi nhận thấy rằng phương pháp thuyết trình (thầy giảng –
trò nghe) truyền thống đôi khi không tạo được sự hứng thú cho học sinh; không phát
huy hết được sự tự lực, tính sáng tạo của học sinh. Cùng với sự ủng hộ và khuyến khích
tìm hiểu các phương pháp giảng dạy mới hiện đại của nhà trường và tổ bộ môn. Tôi đã
quyết định tìm hiểu về phương pháp dạy học theo dự án - một trong những phương pháp
được cho là tối ưu nhằm đáp ứng mục tiêu Giáo dục – Đào tạo của Việt Nam trong giai
đoạn mới và thử nghiệm ứng dụng trong dạy học sinh học 12.
II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Dạy học theo dự án (DHDA) là một hình thức dạy học, trong đó người học thực hiện
một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, có tạo ra các
sản phẩm có thể giới thiệu. Phương pháp này lấy hoạt động của người học làm trung
tâm, hướng người học tới việc lĩnh hội kiến thức và kĩ năng thông qua đóng một hay
nhiều vai để giải quyết vấn đề. Nhiệm vụ này được người học thực hiện với tính tự lực
cao trong toàn bộ quá trình học tập, từ việc xác định mục đích, lập kế họach, đến việc
thực hiện dự án, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện. Những
hoạt động này giúp người học thấy kiến thức cần học có ý nghĩa hơn.
Trong quá trình giảng dạy, tôi nhận thấy nếu chỉ sử dụng cách dạy và học “giáo viên
nói, học sinh nghe” thì sẽ gây sự nhàm chán, thụ động ở học sinh. Cần phải tìm hiểu
một phương pháp dạy và học giúp học sinh học để khám phá, để có cơ hội tiếp cận và
trình bày những ý tưởng và kinh nghiệm mới mẻ, học để có những kĩ năng thích nghi
với xã hội hiện đại. Người giáo viên không còn là “người cầm tay chỉ việc” cho học sinh
nữa mà phải là người hướng dẫn, người tham vấn, người huấn luyện, người bạn cùng
học của học sinh. Do đó tôi tìm hiểu phương pháp dạy học theo dự án và ứng dụng trong
dạy học sinh học nhằm làm phong phú thêm phương pháp giảng dạy bộ môn, đồng thời
trong toàn bộ quá trình học tập, từ việc xác định mục đích, lập kế họach, đến việc thực
hiện dự án, kiểm tra, điều chỉnh.
1.2. Đặc trưng cơ bản của dạy học dự án
Người học là trung tâm của quá trình dạy học.
Dự án tập trung vào những mục tiêu học tập quan trọng gắn với các chuẩn.
Dự án được định hướng theo bộ câu hỏi khung chương trình.
Dự án đòi hỏi các hình thức đánh giá đa dạng và thường xuyên.
Dự án có tính liên hệ với thực tế.
Người học thể hiện sự hiểu biết của mình thông qua sản phẩm và quá trình thực hiện.
Công nghệ hiện đại hỗ trợ và thúc đẩy việc học của người học.
Kĩ năng tư duy là yếu tố không thể thiếu trong phương pháp dạy học dự án.
Trang 4/ 39
1.3. Bộ câu hỏi định hướng
Bộ câu hỏi định hướng giúp học sinh kết nối những khái niệm cơ bản trong cùng một
môn học hoặc giữa các môn học với nhau. Các câu hỏi này tạo điều kiện để định hướng
việc học tập của học sinh thông qua các vấn đề kích thích tư duy. Các câu hỏi định
hướng giúp gắn các mục tiêu của dự án với các mục tiêu học tập và chuẩn của chương
trình. Bộ câu hỏi định hướng bao gồm:
+ Câu hỏi khái quát: Câu hỏi khái quát là những câu hỏi mở, có phạm vi rộng,
kích thích sự khám phá, nhắm đến những khái niệm lớn và lâu dài, đòi hỏi các kỹ năng
tư duy bậc cao và thường có tính chất liên môn.
+ Câu hỏi bài học: Câu hỏi bài học là những câu hỏi mở có liên hệ trực tiếp với dự
án hoặc bài học cụ thể, đòi hỏi các kỹ năng tư duy bậc cao, giúp học sinh tự xây dựng
câu trả lời và hiểu biết của bản thân từ thông tin mà chính các em thu thập được.
+ Câu hỏi nội dung: Câu hỏi nội dung là những câu hỏi đóng có các câu trả lời
“đúng” được xác định rõ ràng, trực tiếp hỗ trợ việc dạy và học các kiến thức cụ thể,
thường có liên quan đến các định nghĩa hoặc yêu cầu nhớ lại thông tin (như các câu hỏi
kiểm tra thông thường).
1.4. Quy trình tổ chức
Trang 5/ 39
câu hỏi được giải quyết và các mục tiêu đồng thời cũng đạt được.
Chuẩn bị các tài liệu hỗ trợ giáo viên và học sinh cũng như các điều kiện thực hiện
dự án trong thực tế.
Công việc của HS:
Cùng GV thống nhất các tiêu chí đánh giá.
Làm việc nhóm để xây dựng dự án.
Xây dựng kế hoạch dự án: xác định những công việc cần làm, thời gian dự kiến, vật
liệu, kinh phí, phương pháp tiến hành và phân công công việc trong nhóm.
Trang 6/ 39
Chuẩn bị các nguồn thông tin đáng tin cậy để chuẩn bị thực hiện dự án.
b. Công đoạn thực hiện
Công việc của GV:
Theo dõi, hướng dẫn, đánh giá học sinh trong quá trình thực hiện dự án.
Liên hệ các cơ sở, khách mời cần thiết cho học sinh.
Chuẩn bị cơ sở vật chất, tạo điều kiện thuận lợi cho các em thực hiện dự án.
Công việc của HS:
Phân công nhiệm vụ các thành viên trong nhóm thực hiện dự án theo đúng kế hoạch
Tiến hành thu thập, xử lý thông tin thu được.
Xây dựng sản phẩm hoặc bản báo cáo.
Liên hệ, tìm nguồn giúp đỡ khi cần.
Thường xuyên phản hồi, thông báo thông tin cho giáo viên và các nhóm khác qua
các buổi thảo luận hoặc qua trang wiki.
c. Công đoạn tổng hợp
Công việc của GV:
Theo dõi, hướng dẫn, đánh giá học sinh giai đoạn cuối dự án.
Bước đầu thông qua sản phẩm cuối của các nhóm HS.
Công việc của HS:
Hoàn tất sản phẩm của nhóm.
Chuẩn bị tiến hành giới thiệu sản phẩm.
d. Công đoạn đánh giá
Hướng dẫn tham quan thiên nhiên, tự hướng dẫn tìm
hiểu lịch sử cộng đồng, quảng cáo dịch vụ công cộng,
sách, vở về lịch sử, lịch sử qua ảnh, tài liệu điều tra,
thương mại, sách hướng dẫn đào tạo, hoạt hình.
Đa phương tiện: quầy
thông tin, đoạn phim,
báo ảnh, slide show,
sách điện tử
Bài trình bày Đề cương thuyết phục, bài phát biểu gây cảm hứng,
tranh luận ủng hộ-phản đối, bài thuyết trình nhiều thông
tin, phân tích nghiên cứu và kết luận, bản tin trên đài.
Thể hiện kỹ năng Các qui trình tại phòng thí nghiệm khoa học, hướng dẫn,
kỹ năng thể thao, dạy hoặc cố vấn cho học sinh lớp dưới,
những nhiệm vụ theo yêu cầu.
Tính nghệ thuật/ sáng
tạo trình diễn
Múa nghệ thuật, đóng kịch, thơ hoặc kịch ngắn trào
phúng, nghiên cứu tính cách, kịch dựa trên sự kiện có
thật, nhà hát, kịch trên radio.
Mô phỏng Phiên tòa, sự kiện lịch sử, đóng vai.
1.6. Vai trò của giáo viên và học sinh trong dạy học dự án
Vai trò của học sinh
Học sinh là người quyết định cách tiếp cận vấn đề cũng như phương pháp và các
hoạt động cần phải tiến hành để giải quyết vấn đề đó.
Học sinh tập giải quyết các vấn đề của cuộc sống thực bằng các kĩ năng của người
lớn thông qua làm việc theo nhóm.
Trang 8/ 39
Chính học sinh là người lựa chọn các nguồn dữ liệu, thu thập dữ liệu từ những nguồn
khác nhau đó, rồi tổng hợp (synthesize), phân tích (analyze) và tích lũy kiến thức từ quá
Đánh giá dự án không chỉ đơn thuần là đánh giá sản phẩm của dự án mà còn phải
đánh giá mức độ hiểu, khả năng nhận thức và kĩ năng của học sinh đồng thời theo dõi sự
tiến bộ ở các em. Một số công cụ đánh giá:
Trang 9/ 39
- Bài kiểm tra viết và kiếm tra nói. Các bài kiểm tra có thể đưa ra được chứng cứ
trực tiếp về khả năng tiếp thu kiến thức và hiểu kiến thức của học sinh.
- Sổ ghi chép. Sổ ghi chép là những phản ánh về việc học và những hồi đáp với
những gợi ý ở dạng viết. Ngoài những phản hồi, các gợi ý giúp thể hiện rõ các kỹ năng
tư duy cụ thể ở những phần quan trọng của dự án.
- Phỏng vấn và quan sát dựa trên kế hoạch đã chuẩn bị. Các cuộc phỏng vấn miệng
chính thức, được lên lịch với các thành viên trong nhóm để thăm dò sự hiểu bài của học
sinh. Thể thức câu hỏi phỏng vấn là yêu cầu học sinh giải thích và đưa ra lý do về cách
hiểu vấn đề. Các quan sát cũng được tiến hành tương tự nhưng dùng cho việc đánh giá
kỹ năng, tiến trình và sự thể hiện năng lực và cũng có thể được thực hiện bởi học sinh.
- Sự thể hiện – là những bài trình bày, các sản phẩm và các sự kiện mà học sinh
thiết kế và thực hiện để thể hiện quá trình học tập của các em.
- Kế hoạch dự án. Kế hoạch dự án giúp học sinh tự chủ trong học tập. Học sinh xác
định mục tiêu, thiết kế chiến lược để đạt mục tiêu, đặt thời gian biểu và xác định các
tiêu chí để đánh giá.
- Phản hồi qua bạn học. Phản hồi của bạn học giúp cho học sinh tiếp thu được đặc
điểm về chất lượng học tập qua đánh giá việc học của bạn học.
- Quan sát các nhóm làm việc để hỗ trợ đánh giá kỹ năng cộng tác.
- Các sản phẩm. Sản phẩm là những gì học sinh sáng tạo ra hoặc xây dựng nên thể
hiện việc học tập của các em.
Các công cụ đánh giá này phải được sử dụng trong suốt quá trình thực hiện dự án, tại
các thời điểm quan trọng hay vào giai đoạn cuối của dự án.
Những kĩ thuật đánh giá trên cung cấp thông tin có giá trị cho cả giáo viên và học
sinh. Mỗi kĩ thuật đưa ra những phương pháp và công cụ đồng nhất. Điều then chốt là
phải hiểu được các mục đích khác nhau của chúng, chúng được thiết kế như thế nào, và
cuối cùng, xử lí kết quả thu được ra sao.
Chuẩn kiến thức cơ bản
Chuẩn nội dung và quy chuẩn
Tìm hiểu thông tin một số tật và bệnh di truyền ở người: khái niệm, nguyên nhân,
cơ chế, hậu quả, cách phòng và chữa bệnh.
Hiểu sơ lược về di truyền y học tư vấn, sàng lọc trước sinh, liệu pháp gen.
Hiểu việc bảo vệ vốn gen của loài người liên quan tới một số vấn đề: tác động của
môi trường sống và xã hội đến di truyền học, di truyền học với ung thư và bệnh
AIDS, di truyền trí năng.
Mục tiêu đối với học sinh / kết quả học tập
- Nêu được một số tật và bệnh di truyền ở người: khái niệm, nguyên nhân, cơ
chế, hậu quả, cách phòng và chữa bệnh.
- Trình bày được các biện pháp bảo vệ vốn gen của loài người.
Trang 11/ 39
- Nêu được một số vấn đề xã hội của di truyền học.
- Hiểu được vai trò của tư vấn di truyền và việc sàng lọc trước khi sinh.
- Tạo được sản phẩm (bài trình diễn, clip, tờ rơi, ) đầy thuyết phục phù hợp
với nội dung.
- Sử dụng được các phương tiện thông tin truyền thông và công nghệ.
- Thích nghi với vai trò và trách nhiệm khác nhau.
- Sử dụng tốt kỹ năng giao tiếp, có trách nhiệm với tập thể.
Bộ câu hỏi định hướng
Câu hỏi
khái quát
Điều gì làm cho con người trở nên đặc biệt trên hành tinh này?
Câu hỏi
bài học
Làm sao để tạo ra được những thế hệ loài người ngày càng thông
minh hơn và khỏe mạnh hơn?
Câu hỏi
nội dung
Đánh giá Tiến trình và mục đích đánh giá
Phiếu thăm dò nhu cầu học
sinh
Trước khi bắt đầu dự án, học sinh trả lời
những gợi ý liên quan đến dự án. Giáo viên
xem lại để kiểm tra mức độ tiếp thu và có thể
đưa ra những bài học bổ sung nếu cần thiết.
Công cụ đánh giá sản phẩm
học sinh
Học sinh sử dụng để định hướng công việc
cần làm trong quá trình thực hiện dự án.
Tiêu chí tự đánh giá
Học sinh sử dụng tiêu chí tự đánh giá để
đánh giá các kỹ năng hợp tác của mình trong
suốt thời gian làm việc nhóm. Giáo viên sẽ sử
dụng bảng đánh giá này cho đánh giá cuối
cùng.
Phản hồi của học sinh
Một cách định kỳ, học sinh gặp nhau theo
từng nhóm nhỏ để chia sẻ bài làm của họ và
vận dụng phiếu tự đánh giá để đưa ra phản hồi
về nội dung, cấu trúc, hình thức và những lỗi
thường gặp.
Thảo luận nhóm
Giáo viên tiếp xúc nhanh mỗi nhóm để kiểm
tra tiến độ công việc của các em và đảm bảo
các bản kiểm mục của các em là chính xác và
được cập nhật.
Đánh giá quá trình
Học sinh sử dụng phiếu này để tự định hướng
các em trong suốt bài học và đặt mục tiêu cho
kinh nghiệm học tập trong tương lai. Học sinh
phản hồi những điều các em đã học trong bài
học, trở lại các Câu hỏi khái quát và Câu hỏi
bài học. Học sinh đưa ra chứng cứ từ bài
nghiên cứu và các bài thuyết trình của bạn học.
Giáo viên sử dụng những phản hồi này để đánh
giá tiến bộ của học sinh trong suốt bài học.
Chi tiết bài dạy
Các kỹ năng thiết yếu
Kiến thức về di truyển học người và kỹ năng công nghệ mà học sinh cần có để có
thể tham gia vào bài học.
Các bước tiến hành bài dạy
Trang 14/ 39
Sau khi GV khảo sát nhu cầu học sinh, nắm được tầm hiểu biết của học sinh về
vấn đề thảo luận, tiến hành liệt kê chi tiết những phần cần quan tâm, cần làm rõ.
Soạn một số nguồn thông tin cần giới thiệu. Và bắt đầu giao dự án cho HS.
Dự kiến công việc trong 6 tuần, GV giao việc vào tuần 1, HS có 4 tuần để hoàn tất
dự án, tuần cuối cùng (tuần 6) HS sẽ báo cáo dự án. Như vậy, tuần 1 GV có 1 tiết để
giao việc cho HS; tuần 2,3,4,5 HS thực hiện dự án ở nhà, và các tiết dạy trên lớp
vẫn học các bài trước đó; đến tuần 6 HS sẽ báo cáo sản phẩm.
Bài 21: Di truyền y học; Sinh học 12.
Bài 22: Bảo vệ vốn gen của loài người và một số vấn đề xã hội của di truyền học;
Sinh học 12.
Tuần 1
Giới thiệu về dự án và nội dung cơ bản
Bắt đầu giới thiệu dự án, GV đặt câu hỏi: “Điều gì làm cho con người trở nên đặc
biệt trên hành tinh này?”. Cho HS thảo luận và đưa ra ý kiến theo nhóm. HS có thể
đưa ra những câu trả lời từ nhiều góc độ, GV chú ý chi tiết những thảo luận và ý
kiến của HS dần dần hướng HS về với chủ đề sắp đưa ra. Tiếp theo, GV cho HS
● Giải thích các kỹ năng đòi hỏi phải có trong quá trình làm việc.
● Kể ra những yếu tố thuận lợi và khó khăn của bản thân khi làm dự án.
● Đưa ra một gợi ý.
Giới thiệu cho các em về trang web cộng tác, trang facebook phản hồi chung của
lớp, hộp mail chung của lớp.
Tuần 2
GV dành ra 5 phút cuối giờ dạy để các em chia sẻ ý tưởng khi thực hiện dự án với
nhau.
Các em sẽ tự thảo luận với nhóm của mình sau khi trao đổi với nhóm khác, những
điều cần sửa chữa.
HS sẽ phải xây dựng một kế hoạch thực hiện và nộp để giáo viên duyệt. Sau đó,
học sinh sẽ chọn thiết kế ấn phẩm, trang Web hay là bài trình bày đa phương tiện.
Giới thiệu với HS những dự án của những năm trước (chi tiết phải xem trên trang
facebook, mail chung).
Viết phản hồi lên trang facebook chung nếu có những vấn đề cần hỗ trợ.
Tuần 3
Cho HS chia sẻ những khó khăn gặp phải trong quá trình làm bài, nhận ý kiến
đóng góp từ nhóm khác; chia sẻ tài nguyên cần thiết cho việc tạo sản phẩm.
Tuần 4
Cho HS chia sẻ những thành quả sau 3 tuần làm việc cũng trong vòng 5ph. Viết
nhận xét của mình gửi cho nhóm đã chia sẻ.
Viết phản hồi lên trang facebook chung về quá trình làm việc.
Tuần 5
Chia sẻ sản phẩm dự án, những khó khăn, những gì đạt được trong quá trình làm
dự án.
Phản hồi cuối cùng về yêu cầu, mong muốn thấy được sau quá trình làm dự án.
Cho HS biết địa chỉ đọc thông tin chi tiết đánh giá, phiếu đánh giá, hình thức báo
Trang 16/ 39
cáo, thời gian báo cáo, cách tính điểm.
Sau khi thông báo, HS có nhiệm vụ đọc, thảo luận với nhóm, đưa ra quyết định
● Hỗ trợ từ các giáo viên tiếng Anh.
● Ghép cặp học sinh đó với một học sinh có khả năng tiếng Anh.
● Cung cấp danh mục các từ vựng và định nghĩa.
● Cung cấp các trang web dịch, vd:
…
Trang 17/ 39
Học
sinh
năng
khiếu
● Khuyến khích học sinh tham gia vào các dự án cộng tác trực tuyến
có liên quan đến Tư vấn di truyền nếu học sinh có năng khiếu và hiểu
biết về CNTT như thiết kế web, giọng đọc truyền cảm phù hợp với trả
lời thắc mắc thính giả,
● Cho phép học sinh có thể lựa chọn việc đưa ra một cách thức mới
về sử dụng kiến thức ở lập trường cụ thể nào đó mà có thể giúp làm
cho công việc dễ dàng hơn hoặc có năng suất hơn và thiết kế các tài
liệu phù hợp thay cho việc báo cáo với các cách thức hiện có. Như các
học sinh có năng khiếu sắm vai thì các em sẽ tự viết kịch và dựng
thành các vở kịch diễn trực tiếp trên lớp hoặc quay phim lại,
2.3 Triển khai dự án
Phát phiếu thăm dò tìm hiểu nhu cầu học sinh để biết học sinh có sự hiểu biết và
quan tâm như thế nào đến nội dung bài học sắp được thực hiện dự án và triển khai dự
án theo các bước đã xây dựng trong kế hoạch. (Phiếu thăm dò tìm hiểu nhu cầu học
sinh đính kèm ở phần phụ lục)
Phiếu thăm dò ban đầu này còn giúp giáo viên đánh giá được một phần hiệu quả
của dự án, bằng cách so sánh sự hiểu biết nội dung bài học của học sinh trước và sau
khi thực hiện dự án.
mới
Em tình
nguyện giải
quyết những
nhiệm vụ khó.
Em đặt ra các
câu hỏi
Em tìm kiếm
các sự kiện
Em yêu cầu
làm rõ
Em tìm và chia
sẻ các nguồn
tài nguyên
Em đóng góp
các sự kiện và
các quan điểm
Em đáp lại các
ý kiến khác
một cách nhiệt
tình
Em mời tất cả
thảo luận đúng
tiến độ và nội
dung
Em giúp nhóm
tạo một thời
gian biểu và
đặt thứ tự các
ưu tiên.
Em giúp nhóm
điều khiển sự
phân chia các
nhiệm vụ.
Em giúp nhóm
xác định các
Trang 20/ 39
Luôn luôn Thỉnh thoảng
Không bao
giờ
Nhận xét
thay đổi cần
thiết để khuyến
khích nhóm
thay đổi.
Em kích thích
cuộc thảo luận
bằng cách giới
thời gian của mình.
Tôi đã làm một kế hoạch
hoạt động và chỉnh sửa lại
nó khi cần thiết.
Trang 21/ 39
Thường
xuyên
Thỉnh
thoảng
Không bao
giờ
Ghi chú
Tôi đã tạo được những tiêu
chí cho mình.
Tôi thấy được những điểm
mạnh, khả thi mà tôi có thể
thực hiện để đạt được tiêu
chí.
Tôi luôn luôn theo dõi tiến
trình mà tôi thực hiện trong
suốt quá trình làm dự án.
Tôi đã kiên nhẫn khi gặp
những cản trở hoặc những
vấn đề khó khăn.
Tôi luôn yêu cầu giúp đỡ
khi tôi cần thiết.
Tôi đã hoàn thành nhiệm vụ
của mình.
nhàm chán và
lãng phí thời
gian. Ít khi
lắng nghe
những gì bạn
học nói về
chủ đề.
Chủ động
lắng nghe
Không nói
chuyện riêng,
thể hiện sự
quan tâm cuộc
thảo luận thông
qua ngôn ngữ
cơ thể thích hợp
như ánh mắt, nụ
cười, và gật
đầu.
Cho thấy có
quan tâm thảo
luận.
Cho thấy có
quan tâm thảo
luận, nhưng
đôi khi không
chú ý.
Không quan
tâm đến cuộc
thảo luận, làm
góp xây dựng.
Vi phạm các
quy tắc thảo
luận của lớp.
Trang 23/ 39
Phản ánh Suy nghĩ về gì
học được từ
những chủ đề
cuộc thảo luận.
Áp dụng vào
học tập trong
tương lai.
Suy nghĩ về
những gì học
được từ những
chủ đề cuộc
thảo luận.
Ghi nhớ
những gì học
được qua
cuộc thảo
luận.
Sau khi thảo
luận, thường
không nghĩ về
những gì học
được từ nó.
Tự đánh
giá sự
tham gia
2.5. Nghiệm thu dự án
Sau quá trình học sinh thực hiện dự án dưới sự giám sát của giáo viên cho ra được
các sản phẩm, thì giáo viên phải tổ chức cho học sinh trình bày sản phẩm, góp ý, nhận
xét, đánh giá và cho điểm.
Để công bằng và khách quan hơn trong việc đánh giá thành quả lao động miệt mài của
học sinh trong nhiều tuần lễ, tôi quyết định cho các em học sinh tham gia đánh giá dự án
của nhau kết hợp với sự đánh giá của giáo viên để ra điểm số của cùng. Các nhóm sẽ có
vị trí theo sơ đồ bên dưới, mỗi nhóm cử hai chuyên gia tư vấn ngồi tại vị trí qui định để
giới thiệu các sản phẩm của nhóm mình (ấn phẩm quảng cáo và một laptop để chiếu
video) kết hợp tư vấn cho khách hàng của các nhóm khác tới; còn các thành viên còn lại
của nhóm sẽ di chuyển đến các nhóm khác làm khách hàng nghe tư vấn và đặt câu hỏi
thắc mắc để đánh giá vào phiếu. Vai trò chuyên gia tư vấn sẽ được luân chuyển để mọi
thành viên trong nhóm đều được tư vấn và nghe trả lời tư vấn từ các nhóm khác.
Bố trí sơ đồ lớp học:
Trang 24/ 39
Bàn GV Bảng
Cửa vào
Lối đi
Lối đi
G.1 G.2 G.3 G.4 G.1 G.2 G.3 G.4
G.5 G.6 G.7 G.8 G.5 G.6 G.7 G.8
G.9 G.10 G.11 G.12 G.9 G.10 G.11 G.12
Nhóm 1 Nhóm 3
G.1 G.2 G.3 G.4 G.1 G.2 G.3 G.4
G.5 G.6 G.7 G.8 G.5 G.6 G.7 G.8
G.9 G.10 G.11 G.12 G.9 G.10 G.11 G.12
Nhóm 2 Nhóm 4
Vị trí G6 và G7 là vị trí trung tâm đặt bàn tư vấn của các nhóm.
Trong khi các nhóm giới thiệu sản phẩm và tư vấn cho khách hàng thì giáo viên sẽ