SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Trường THPT Nam Hà
Mã số:
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ỨNG DỤNG MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP
VÀ KỸ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC
TRONG DẠY ĐỌC HIỂU VĂN BẢN TỰ
SỰ DÂN GIAN LỚP 10
Người thực hiện: NGUYỄN THỊ TI NA
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục
- Phương pháp dạy học bộ môn: VĂN
- Lĩnh vực khác:
Có đính kèm:
Mô hình Phần mềm Phim ảnh Hiện vật khác
Năm học: 2014 – 2015
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên: NGUYỄN THỊ TI NA
2. Ngày tháng năm sinh: 15 / 09 / 1978
3. Nam, nữ: Nữ
4. Địa chỉ: 57 A1, Tổ 9, Khu phố 1, TP Biên Hòa, T Đồng Nai
5. Điện thoại: 0918445466
6. Fax: E-mail:
7. Chức vụ: Giáo viên
8. Đơn vị công tác: Trường THPT Nam Hà
II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO
- Học vị (hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất: Thạc sĩ
- Năm nhận bằng: 2014
- Chuyên ngành đào tạo: Văn học Việt Nam.
1. Giới thiệu một số phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực có thể ứng dụng
trong dạy học đọc hiểu văn bản tự sự dân gian lớp 10 5
1.1.Giới thiệu một số phương pháp dạy học tích cực ứng dụng trong dạy đọc hiểu
văn bản tự sự dân gian lớp 10…………………………………………………… 5
1.1.1. Phương pháp vấn đáp 5
1.1.2. Phương pháp thảo luận nhóm 7
1.1.3. Phương pháp đóng vai 9
1.2.Giới thiệu một số kỹ thuật dạy học tích cực ứng dụng trong dạy đọc hiểu văn
bản tự sự dân gian lớp 10…………………………………………………………11
1.2.1. Kỹ thuật các mảnh ghép 11
1.2.2. Kỹ thuật lược đồ tư duy 12
1.2.3. Kỹ thuật khăn trải bàn 12
2. Giáo án thực nghiệm 14
HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI 21
ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG 24
I. Bài học kinh nghiệm 24
II. Những kiến nghị sau khi thực hiện đề tài 24
KẾT LUẬN 25
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 26
ỨNG DỤNG MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP VÀ KỸ THUẬT DẠY
HỌC TÍCH CỰC TRONG DẠY ĐỌC HIỂU VĂN BẢN TỰ SỰ
DÂN GIAN LỚP 10
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong những năm gần đây, đổi mới phương pháp dạy và học là mục tiêu
phù hợp với xu thế phát triển của xã hội và việc thực hiện giảm tải chương trình do
Bộ GD và ĐT đề ra. Đặc biệt là phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân
thiện, học sinh tích cực”, thực hành thi, kiểm tra, đánh giá theo hướng khuyến
khích tinh thần tự học và ý thức sáng tạo của HS. Xuất phát từ mục tiêu trên, giáo
viên (GV) phải có sự thay đổi từ lối dạy học truyền thụ một chiều sang dạy học
theo “Phương pháp dạy học tích cực” (PPDHTC) với các kỹ thuật dạy học tích cực
1. Hội nghị ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII phân tích và nhận
định sâu sắc thực trạng phương pháp giảng dạy ở nước ta thời gian qua còn chậm
đổi mới, chưa phát huy được khả năng sáng tạo của người học và yêu cầu đổi mới
mạnh mẽ phương pháp giáo dục đoà tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn
luyện thành lối tư duy sáng tạo ở người học.
2. Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định trong
Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII (1 - 1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII
(12 - 1996), được thể chế hóa trong Luật Giáo dục (2005), được cụ thể hóa trong
các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đặc biệt là chỉ thị số 15 (4 - 1999). Luật
Giáo dục, điều 28, khoản 2, 2005 chỉ rõ: "Phương pháp giáo dục phổ thông phải
phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc
điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm
việc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến
tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh". [1, 17]
II. Cơ sở thực tiễn:
1. Thuận lợi:
Là giáo viên trực tiếp giảng dạy, trong quá trình thực hiện chuyên đề tôi đã có một
số thuận lợi sau:
- Trường có cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học tương đối đầy đủ. Và đặc biệt
là sự chỉ đạo tổ chức hướng dẫn sâu sắc của Sở giáo dục, tôi luôn có điều kiện nắm
bắt các chuyên đề.
- Sở giáo dục và đào tạo Đồng Nai thường xuyên tổ chức các chuyên đề văn học,
các lớp tập huấn thay sách, ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy, đặc biệt
là đổi mới phương pháp dạy và học …
- Được sự hướng dẫn, đóng góp ý kiến nhiệt tình của quý Thầy, cô trong tổ chuyên
môn.
- Tài liệu, sách, báo viết về việc đổi mới phương pháp dạy học khá phong phú, đa
dạng.
- Đối tượng học hiện nay cũng có nhiều điều kiện để tự chủ trong việc tiếp cận một
tác phẩm văn học.
và tạo điều kiện về vật chất lẫn tinh thần cho các em HS để giúp các em học tốt.
GV văn của trường có chuyên môn, nghiệp vụ tốt, nhiệt tình trong công tác,
luôn quan tâm đến HS, có ý thức giáo dục HS trở thành công dân tốt, có ích cho xã
hội . Hàng năm, GV được tham gia học chuyên đề thay sách, bồi dưỡng chính trị,
tập huấn bồi dưỡng các PPDH tích cực, chuyên đề tích hợp các kiến thức môi
trường, giao thông, giáo dục giới tính, bồi dưỡng các phần mềm soạn giảng giáo án
điện tử do nhà trường và Sở Giáo dục và Đào tạo tổ chức.
Tất cả những yếu tố ấy đã tạo điều kiện để GV nâng cao chuyên môn,
nghiệp vụ, có điều kiện thuận lợi trong quá trình thực hiện đổi mới PPDH và ứng
dụng các phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực nhằm nâng cao kết quả giảng
dạy.
2. Thực trạng của việc ứng dụng các phương pháp và kỹ thuật dạy học tích
cực trong dạy học ở trường THPT Nam Hà
Đa số giáo viên giảng dạy ở trường đều luôn có ý thức đổi mới phương pháp
dạy học, biết sử dụng các phương pháp dạy học tích cực bên cạnh các PPDH
truyền thống, đã biết cách phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học
sinh, trong đó, GV đóng vai trò là người hướng dẫn, còn HS là chủ thể chiếm lĩnh
tri thức một cách sáng tạo.
Trong quá trình dạy học, GV đã biết vận dụng các PPDH tích cực phù hợp
với tiết học, bài học và đối tượng HS, đồng thời, tiến hành đổi mới kiểm tra, đánh
giá HS nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn Văn ở trường, tạo sự say mê,
yêu thích học tập bộ môn cho HS.
Bên cạnh những thuận lợi thì quá trình vận dụng các PPDH tích cực trong
giảng dạy môn Văn ở trường THPT Nam Hà còn gặp phải nhiều khó khăn: hạn
định về thời gian của tiết học và dung lượng kiến thức ở mỗi tiết học, không gian
lớp học nhỏ, số lượng HS tương đối đông dẫn đến tình trạng GV ngại ứng dụng PP
và KTDH tích cực hoặc ứng dụng chiếu lệ. Trong quá trình giảng dạy, ở một số bài
học, tiết học mặc dù không nhiều song vẫn còn tồn tại tình trạng GV chưa nhận
thức đầy đủ về PPDH mới, chưa hiểu thấu đáo bản chất của các PPDH tích cực nên
khi vận dụng vào bài giảng, GV không tránh khỏi sự lúng túng, khó triển khai, khả
* Sự đối lập giữa Đăm Săn và Mtao – Mxây được thể hiện như thế nào?
(Cảnh múa khiên của Đăm Săn và Mtao – Mxây )
* Qua lời nói và hành động của Mtao – Mxây, em thấy hắn là một tù trưởng
như thế nào?
- Vấn đáp tìm tòi (đàm thoại Ơxrixtic ): giáo viên dùng một hệ thống câu
hỏi được sắp xếp hợp lý để hướng học sinh từng bước phát hiện thực chất vấn đề
đang tìm hiểu, kích thích sự ham muốn hiểu biết. Trong trường hợp này, GV chỉ là
người tổ chức hoạt động còn HS chính là người tự lực phát hiện kiến thức. Do đó,
HS sẽ có sự hứng thú và trưởng thành về trình độ tư duy. Vẫn với ví dụ trên, GV
tiếp tục hướng dẫn học sinh khám phá ý nghĩa các chi tiết và sự kiện.
* Chi tiết ông trời mách nước cho Đăm Săn thể hiện điều gì?
* Nhận xét về cuộc chiến đấu và chiến thắng của Đăm Săn (Cuộc chiến có
gây cảm giác ghê rợn không? Sau khi giết Mtao – Mxây, Đăm Săn có giết tôi tớ,
đốt nhà của Mtao – Mxây không? Chàng chiến đấu vì mục đích gì?)
* Trong tiệc mừng chiến thắng, những chi tiết, hình ảnh nào dùng để miêu
tả sức mạnh và vẻ đẹp của Đăm Săn, qua những chi tiết ấy, tác giả dân gian muốn
thể hiện điều gì?
* Những tình tiết nào trong đoạn trích chứng tỏ cuộc chiến đấu của Đăn
Săn tuy có mục đích riêng nhưng lại có ý nghĩa và tầm quan trọng đối với lợi ích
của toàn thể cộng đồng?
* Qua đoạn trích, những đặc trưng nghệ thuật của sử thi được thể hiện như
thế nào?
Ưu điểm
Với phương pháp vấn đáp, tôi nhận thấy phương pháp đã khắc phục được
điểm yếu của phương pháp thuyết trình nhờ có sự tương tác giữa GV và HS thông
qua việc truyền thụ và lĩnh hội. Việc cùng tham gia giải quyết các vấn đề giữa GV
và HS đã khắc phục được lối truyền thụ một chiều của phương pháp thuyết trình.
Đồng thời khi ứng dụng phương pháp này, GV kích thích được sự năng động
và sáng tạo của HS nhờ quá trình tự lực tìm ra bản chất vấn đề dưới sự gợi ý,
hướng dẫn của mình. Qua đó, GV dễ dàng đánh giá được năng lực nhận thức và
sử dụng phương pháp này bằng cách đặt câu hỏi để các em thảo luận và trình bày
suy nghĩ của mình.
* Em có suy nghĩ gì về hành động trả thù của Tấm? Tại sao Tấm trả thù?
Hành động như thế có độc ác không? Thử so sánh với cách kết thúc của truyện
Thạch Sanh và Sọ Dừa?
Ưu điểm
Trong số PPDH đang được sử dụng, phương pháp thảo luận nhóm có nhiều
ưu thế trong việc thực hiện các mục tiêu giáo dục mới hiện nay.
Kiến thức mà HS thu nhận được không chỉ là kết quả của hoạt động riêng
biệt của cá nhân mà thu nhận được thông qua quá trình cọ xát hợp tác, vì thế kiến
thức của HS sẽ giảm bớt tính chủ quan, phiến diện và tăng tính khách quan khoa
học.
Kiến thức trở nên sâu sắc bền vững, dễ nhớ và nhớ nhanh do được giao lưu,
học hỏi giữa các thành viên trong nhóm.
Giúp HS phát triển năng lực giao tiếp thông qua sự cộng tác làm việc trong
nhóm, giúp HS phát triển năng lực giao tiếp như biết lắng nghe, chấp nhận và phê
phán ý kiến của người khác, biết trình bày và bảo vệ ý kiến của mình trong nhóm.
Tăng cường sự tự tin cho HS. HS được liên kết với nhau qua giao tiếp xã hội
khiến các em sẽ mạnh dạn hơn và ít sợ mắc sai lầm.
Nhược điểm
Tuy nhiên, tôi nhận thấy khi ứng dụng phương pháp thảo luận nhóm đòi hỏi
nhiều thời gian. Thời gian 45 phút của một tiết học cũng là trở ngại gây khó khăn
trên con đường đạt được thành công cho công việc nhóm.
Thảo luận nhóm nhưng chưa được luyện tập sẽ dễ gây ra hỗn loạn. Thí dụ có
thể xảy ra trường hợp một HS phụ trách nhóm theo kiểu độc đoán, các thành viên
trong nhóm không làm bài mà quan tâm đến vấn đề khác. Giữa các nhóm có thể
phát sinh sự đối địch và giận dữ.
Sự thụ động hoặc hăng hái quá mức của các nhóm sẽ gây khó khăn cho sự
điều khiển của GV.
1.1.3. Phương pháp đóng vai
không gian lớp học rộng và HS mạnh dạn trong quá trình tham gia các vai diễn.
Đồng thời, GV sẽ mất nhiều thời gian nếu không có kinh nghiệm tổ chức hoặc HS
quá nhút nhát. Bên cạnh đó, nếu tình huống đóng vai được lặp đi, lặp lại giữa các
nhóm có thể gây nên sự nhàm chán đối với HS.
1.2. Giới thiệu một số kỹ thuật dạy học tích cực ứng dụng trong dạy đọc
hiểu văn bản tự sự dân gian lớp 10
1.2.1. Kĩ thuật “Các mảnh ghép”
Kĩ thuật này áp dụng cho hoạt động nhóm với nhiều chủ đề nhỏ trong tiết học,
học sinh được chia nhóm ở vòng 1 (chuyên gia) cùng nghiên cứu một chủ đề.
Sau khi các nhóm ở vòng 1 hoàn tất công việc giáo viên hình thành nhóm mới
(mảnh ghép) theo số đã đánh, có thể có nhiều số trong 1 nhóm mới (vòng 2).
Vòng 1
(chuyên
gia)
Vòng 2
Ví dụ: Dạy văn bản Tấm Cám, GV chia lớp thành 3 nhóm làm việc ở ba
góc.
Nhóm 1: Tìm liệt kê những chi tiết liên quan đến nhân vật tấm? Nhận xét về sự
phát triển của các chi tiết đó. Tại sao Tấm được giúp đỡ? Điều đó thể hiện quan
niệm gì của nhân dân?
Nhóm 2: Tấm hoá thân mấy lần? Những lần nào? Cho biết ý nghĩa các lần hoá
thân của Tấm? Quá trình biến hoá đó thể hiện ước mơ gì của nhân dân ?
Nhóm 3: Truyện Tấm Cám tập trung miêu tả vấn đề gì? Qua diễn biến cốt truyện,
nhận xét về mâu thuẫn giữa Tấm và mẹ con Cám. Bản chất của sự mâu thuẫn và
xung đột đó là gì?
Sau một khoảng thời gian làm việc nhất định, các nhóm sẽ hoán đổi vị trí
theo chiều kim đồng hồ để trải nghiệm các nhiệm vụ. Cuối cùng đại diện các nhóm
sẽ trình bày hiểu biết của mình về cuộc đời và con đường đấu tranh giành lại hạnh
phúc của Tấm.
Nhược điểm
thành lập sơ đồ tư duy với các vấn đề như hình vẽ [ Phụ lục, tr.27 - 28]
Ưu điểm:
Khi sử dụng kỹ thuật hỗ trợ này, tôi nhận thấy với hướng tư duy được để mở
ngay từ đầu HS phát huy được khả năng sáng tạo của cá nhân; Mối quan hệ của
các nội dung trong bài học trở nên rõ rang, sinh động vì thế các em có khả năng
ghi nhớ vấn đề trọng tâm nhanh và sâu; Đồng thời kỹ thuật này cũng cho phép các
em có thể bổ sung, phát triển, sắp xếp lại nội dung khi cần. Qua đó, giúp HS luyện
tập được khả năng phát triển và sắp xếp các ý tưởng.
1.2.3.Kỹ thuật khăn trải bàn
GV chia lớp thành 5 đến 6 nhóm, mỗi nhóm khoảng 6 HS.
Vấn đề liên quan 1
Vấn đề liên quan 4
Chủ đề
Vấn đề liên quan 2
Vấn đề liên quan 3
Mỗi nhóm sẽ được phát 1 tờ giấy A0. Mỗi HS trong nhóm sẽ viết ý kiến của
mình vào một góc của tờ giấy, sau đó sẽ thống nhất ý kiến chung ghi vào phần giữa
trang giấy A0 và cử đại diện trình bày.
Kỹ thuật này có thể vận dụng trong đọc hiểu một chi tiết nghệ thuật của văn
bản hoặc nêu chủ đề của tác phẩm
Kỹ thuật này áp dụng cho hoạt động nhóm với một chủ đề nhỏ trong tiết
học, toàn thể học sinh cùng nghiên cứu một chủ đề.
Lưu ý: Sau khi các nhóm hoàn tất công việc giáo viên có thể gắn các mẫu
giấy “khăn trải bàn” lên bảng để cả lớp cùng nhận xét. Có thể dùng giấy nhỏ hơn,
dùng máy chiếu phóng lớn. Có thể thay số bằng tên của học sinh để sau đó giáo
viên có thể đánh giá được khả năng nhận thức của từng học sinh về chủ đề được
nêu.
Ví dụ: Vận dụng kĩ thuật này vào dạy một nội dung ở văn bản Tấm Cám khi
tìm hiểu ý nghĩa các hình thức hoá thân của Tấm. GV nêu vấn đề: Tấm đã hoá
thân thành những gì? Ý nghĩa những lần hoá thân ấy.
Kỹ thuật này giúp cho hoạt động nhóm có hiệu quả hơn, mỗi học sinh đều
phải suy nghĩ để đưa ra ý kiến của mình về chủ đề đang thảo luận, không ỷ lại vào
các bạn học khá, giỏi.
Ngoài những kỹ thuật và phương pháp dạy học vừa nêu, trong quá trình
giảng dạy, giáo viên có thể sử dụng các phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực
khác như: Suy nghĩ - Cặp đôi - Chia sẻ; Hỏi - Đáp; Tranh luận; Báo cáo, phát biểu,
trình bày một phút; Thuyết trình tích cực; Đặt câu hỏi tích cực; Tóm tắt nội dung
theo nhóm; Viết tương tác; Giải quyết vấn đề theo nhóm; Học sinh phụ đạo lẫn
nhau; Điền khuyết
2.Giáo án thực nghiệm:
Tiết 10, 11
AN DƯƠNG VƯƠNG – MỊ CHÂU – TRỌNG THUỶ
(Truyền thuyết)
I. Mục tiêu bài học:
1. Về kiến thức:
- Nắm được những đặc trưng cơ bản của truyền thuyết
- Thấy được bi kịch nước mất nhà tan và ý thức lịch sử của nhân dân trong tác
phẩm.
- Vai trò của An Dương Vương trong sự nghiệp giữ nước; bi kịch tình yêu của
Mị Châu – Trọng Thuỷ gắn với bi kịch Âu Lạc rơi vào thảm hoạ mất nước cũng
như ý thức lịch sử của nhân dân được phản ánh trong truyền thuyết.
- Một số nét đặc sắc về nghệ thuât: kết cấu chặt chẽ, nhiều chất kì ảo, xây dựng
nhân vật truyền thuyết tiêu biểu.
- Sự kết hợp hài hoà giữa cốt lõi lịch sử và yếu tố hư cấu, tưởng tượng
2. Về kỹ năng:
- Đọc kể diễn cảm truyền thuyết dân gian.
- Phân tích văn bản truyền thuyết theo đặc trưng thể loại
3. Về thái độ:
- Có thái độ đúng đắn với những nhân vật lịch sử và sự kiện lịch sử
- Hình thành ý thức trách nhiệm với đất nước, dân tộc
tích Cổ Loa Thành
Hướng dẫn học sinh đọc hiểu văn bản
HS kể lại câu chuyện kết hợp diễn minh hoạ
Phương pháp vấn đáp – HS hoạt động cá
nhân
Yêu cầu học sinh tóm tắt tác phẩm.
Theo em vấn đề văn bản muốn thể hiện là
gì?
GV hướng dẫn HS tìm hiểu văn bản
I. Tìm hiểu chung
1. Truyền thuyết
- Định nghĩa: sgk
- Đặc trưng:
+ Đề tài: lấy từ lịch sử, thường là
những vấn đề có tính chất trọng đại
+ Sử dụng nhiêu yếu tố tưởng
tượng, hư cấu
+ Nhân vật được xây dựng hết sức
đơn giản
+ Cốt truyện đơn giản, ít tình tiết,
được tổ chức theo hướng thắt nút,
mở nút
+ Gắn với lễ hội dân gian, phong
tục, các di tích lịch sử…
- Giá trị: Phản ánh và lí giải các
nhân vật, sự kiện lịch sử, có ảnh
hưởng to lớn đến đời sống cộng
đồng, gắn với truyền thống dựng
nước và giữ nước của dân tộc
2. Văn bản
trong việc xây thành và chiến thắng Triệu
Đà? Qua đó, cho thấy An Dương Vương có
những phẩm chất như thế nào?
Vấn đáp- nêu vấn đề
Hình ảnh thần Kim Quy và nỏ thần có ý
nghĩa gì?
Học sinh thảo luận nhóm (thời gian 3 phút)
Vì sao An dương Vương nhanh chóng thất
bại? Sự mất cảnh giác của nhà vua được
biểu hiện ở những chi tiết nào?
Qua chi tiết nhà vua chém đầu con gái rồi
theo gót Rùa vàng xuống biển, nhân dân thể
hiện thái độ như thế nào đối với nhân vật
lịch sử ADV và việc mất nước?
GV liên hệ, so sánh:
- Thánh Gióng: bay về trời (ngẩng mặt lên
mới nhìn thấy) -> Rực rỡ, hoành tráng vì
nhân vật không mắc phải sai lầm, thất bại
- An Dương Vương: cúi xuống sâu thẳm
mới nhận ra -> Không rực rỡ, hoành tráng vì
đã để mất nước.
chế nỏ, chống ngoại xâm
Bài học thành công: Quyết sách
sáng suốt, bản lĩnh vững vàng, kiên
trì vượt khó, có lòng yêu nước, có ý
thức trách nhiệm với nhân dân, dựa
vào sự giúp đỡ của thần linh
Yếu tố thần kì: rùa vàng, nỏ thần ->
Khẳng định việc làm của ADV là
chính nghĩa, được lòng trời, hợp
->huyền thoại hoá, bất tử hoá người
anh hùng
2. Nhân vật Mị Châu - Trọng
Phương pháp nêu vấn đề + kỹ thuật động
não, khăn trải bàn.
Quan điểm, tình cảm của nhân dân đối với
từng nhân vật?
Theo em Mi Châu là người như thế nào?
GV sử dụng phiếu học tập
Yêu cầu HS điền nhanh vào phiếu học tập
Số phận Bài học
lịch sử
Thái độ của
nhân dân
Câu hỏi gợi ý:
Số phận của Mị Châu như thế nào?
Lời nguyền của Mị Châu trước khi chết thể
hiện điều gì?
Qua chi tiết hư cấu “máu Mị Châu sau khi
chết biến thành hạt châu, xác hoá thành
ngọc thạch”, nhân dân ta muốn thể hiện điều
gì?
Qua nhân vật Mị Châu, nhân dân ta muốn
nhắn gởi điều gì đến thế hệ trẻ mai sau?
Ở phần đầu của truyện, Trọng Thủy là con
người như thế nào? Trọng Thuỷ đóng vai trò
gì trong việc mất nước Âu Lạc và cái chết
của cha con An Dương Vương?
Thuỷ
cách vô tình.
Lời nhắn nhủ cho thế hệ sau: Cần
giải quyết đúng đắn mối quan hệ
giữa “tình nhà” với “nợ nước”, giữa
cái riêng và cái chung.
b.Trọng Thủy
Giai đoạn đầu
- Lợi dụng sự ngây thơ của Mị Châu
đã đánh tráo lẫy nỏ thần theo âm
mưu của cha mình
- Tấn công nước Âu Lạc và đuổi
theo cha con An Dương Vương
-> Là tên gián điệp nguy hiểm, kẻ
thù của dân tộc, trực tiếp gây ra bi
kịch mất nước và cái chết của hai
Khi nàng Mị Châu đã chết, Trọng Thủy có
những thái độ và hành động như thế nào?
GV cho HS thảo luận nhóm
Có ý kiến cho rằng hình ảnh ngọc trai –
giếng nước là biểu tượng cho tình yêu chung
thuỷ, ý kiến của em như thế nào?
Chi tiết ngọc trai đem rửa nước giếng lại
càng sáng đẹp hơn cần được hiểu như thế
nào?
- Hình ảnh ngọc trai: phù hợp với lời ước
nguyện của Mị Châu -> chứng minh cho tấm
lòng trong sáng của nàng
- Chi tiết nước giếng có hồn Trọng Thuỷ
-> là chứng nhận cho sự hối hận và ước
muốn hoá giải tội lỗi của Trọng Thuỷ
- Xây dựng nhân vật chứa đầy mâu
thuẫn
- Xây dựng chi tiết cô đọng, hàm
súc, ý nghĩa
- Nhiều hư cấu nghệ thuật
III. Tổng kết
An Dương Vương – Mị Châu –
Trọng Thuỷ
Thái độ
của
nhân
dân
Cốt lõi
lịch sử
Bài học
lịch sử
Chi tiết
kỳ ảo
2. Củng cố:
- Có ý kiến cho rằng truyền thuyết này là
một tiếng nói ca ngợi tình yêu và phản
kháng chiến tranh. Quan điểm của em như
thế nào?
- An Dương Vương đã tự tay chém đầu con
gái duy nhất của mình nhưng dân gian lại
dựng đền thờ hai cha con ngay cạnh nhau,
cách xử lý ấy nói lên điều gì trong đạo lý
truyền thống của dân tộc?
- So sánh cách kết thúc trong truyện và kết
thúc khác: Trọng Thuỷ không tự vẫn, khi