Chiến tranh qua tiểu thuyết Chân trời mùa hạ của Hữu Phương - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THỊ THANH HIỀN
chiÕn tranh qua tiÓu thuyÕt
ch©n trêi mïa h¹ cña h÷u ph¬ng
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGHỆ AN - 2014
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ THANH HIỀN
chiÕn tranh qua tiÓu thuyÕt
ch©n trêi mïa h¹ cña h÷u ph¬ng
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.01.21
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. BIỆN MINH ĐIỀN
NGHỆ AN - 2014
4
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 8
1. Lý do chọn đề tài 8
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 10
3. Đối tượng nghiên cứu và giới hạn của đề tài 12
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 12
5. Phương pháp nghiên cứu 13
6. Đóng góp và cấu trúc của luận văn 13
Chương 1

Chương 3
CHIẾN TRANH QUA NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN
CỦA HỮU PHƯƠNG Ở TIỂU THUYẾT CHÂN TRỜI MÙA
HẠ 61
3.1. Nghệ thuật tạo dựng bối cảnh, cốt truyện và xung đột 61
3.1.1. Nghệ thuật tạo dựng bối cảnh và cốt truyện cho tiểu thuyết
61
3.1.2. Nghệ thuật tạo dựng tình huống và xung đột 63
3.2. Nghệ thuật xây dựng nhân vật 65
3.2.1. Từ cái nhìn đa chiều về con người đến tìm kiếm lựa chọn
các thủ pháp xây dựng nhân vật 65
6
3.2.2. Nghệ thuật khắc hoạ cá tính nhân vật 70
3.3. Nghệ thuật trần thuật và tổ chức giọng điệu, ngôn ngữ 75
3.3.1. Nghệ thuật trần thuật 75
3.3.2. Nghệ thuật tổ chức giọng điệu và ngôn ngữ 79
KẾT LUẬN 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
7
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Kể từ 1975, bốn mươi năm đã đi qua, cuộc chiến đã lùi về dĩ
vãng Nhưng những đau thương mất mát trong chiến tranh và sự khốc liệt
của nó còn ám ảnh dai dẳng trong tâm trí bao người. Dư chấn chiến tranh vẫn
còn đó, hiển hiện, nghiệt ngã với bao sắc màu khác nhau Tất cả như trên cơ
thể chưa lành vết sẹo, và bao nhiêu câu hỏi về nó, chưa có lời giải
Cuộc chiến tranh vệ quốc mà chúng ta đã tiến hành suốt ba mươi năm
(1945 - 1975) đáng ngợi ca hay phê phán? Những cái giá phải trả cho nó? Mặt
phải, mặt tích cực của chiến tranh? Mặt trái, mặt tiêu cực của nó? Những vinh
quang và cay đắng, những chiến thắng đáng tôn vinh và những mất mát hy

giúp người đọc hiểu đúng bản chất chiến tranh hơn, hiểu cái giá mình phải trả
để có được Độc lập Tự do. Chính cách phản ánh hiện thực đó làm người đọc
hôm nay và mai sau biết trân trọng hơn thế hệ cha anh chúng ta đã phải hi
sinh như thế nào để giành cuộc sống hòa bình Tiểu thuyết chiến tranh trong
văn học Việt Nam sau 1975, đặc biệt từ 1986 đến nay đang đặt ra bao nhiêu
vấn đề cho giới nghiên cứu và đông đảo công chúng độc giả.
1.3. Hữu Phương thuộc thế hệ nhà văn thời chống Mỹ, là một một cây
bút kỳ cựu của Văn học nghệ thuật Quảng Bình, một gương mặt đáng chú ý
của văn xuôi Việt Nam hiện đại với khá nhiều tác phẩm được dư luận chú ý:
Con người thánh thiện (tập truyện ngắn, Hội VHNT Quảng Bình 1991), Đêm
hoa quỳnh nở (tập truyện ngắn, Nxb Thanh Niên 1995), Hoa cúc dại (tập
truyện ngắn, Nxb Văn Học 1997), Khách má hồng (tập truyện ngắn, Nxb
Thuận Hóa 2002), Anh bộ đội và cô gái mặc quân phục xanh (tập truyện
ngắn, Nxb Thanh niên 2011),
Chân trời mùa hạ là cuốn tiểu thuyết của ông gần đây (Nxb Hội Nhà
văn 2007, Nxb Quân đội Nhân dân 2011; Giải thưởng Hội Nhà văn 2011 và
9
cúp Bông lúa vàng do Bộ NN& PTNT trao tặng) đã gây được sự chú ý sâu
sắc đối với giới nghiên cứu và đông đảo công chúng độc giả. Chân trời mùa
hạ tiếp tục đi trên con đường truyền thống của tiểu thuyết viết về chiến tranh
nhưng với cái nhìn rất riêng và những khám phá mới Chiến tranh qua tiểu
thuyết Chân trời mùa hạ của Hữu Phương là vấn đề có ý nghĩa sâu sắc, cần
phải được nghiên cứu, tìm hiểu.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1. Các ý kiến đã có về tiểu thuyết “Chân trời mùa hạ”
Chân trời mùa hạ vừa xuất hiện đã gây được sự chú ý của công luận,
trước hết là ở vùng tuyến lửa trước đây - Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa
Thiên. Nhiều địa phương đã tổ chức Hội thào về cuốn tiểu thuyết này
Ngày 14/11/2011, Hội thảo, tọa đàm về tiểu thuyết tại Chân trời mùa
hạ được tổ chức tại Hà Nội (do Hội Nhà văn Việt Nam chủ trì). Đông đảo các

Ngọc Yên, thì, Tiểu thuyết Chân trời mùa hạ có vẻ phẳng phiu, tròn trịa quá,
hệ thống nhân vật chưa được đẩy lên đến tận cùng, điều đó khiến cho sức ám
ảnh bị giảm đi
Cuối buổi tọa đàm, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều tổng kết các ý kiến
và khẳng định: Nhà văn Hữu Phương đã chọn lựa không gian làng quê nhỏ bé
làm không gian nghệ thuật của tác phẩm. Từ không gian hẹp đó tác giả khai
thác đến tận cùng số phận con người, vì thế từ mỗi số phận lại mở rộng ra cả
dân tộc. Bút pháp cổ điển là sự chọn lựa thích hợp cho tiểu thuyết này. “Chân
trời mùa hạ” đã chạm được đến vấn đề của cuộc chiến, vấn đề nhân cách con
người: hèn hạ hay kiêu hãnh, hiến dâng hay ích kỷ, tiểu nhân hay anh hùng…
2.2. Vấn đề chiến tranh qua tiểu thuyết “Chân trời mùa hạ”
Vấn đề chiến tranh qua tiểu thuyết Chân trời mùa hạ cũng đã được một
số tác giả nêu ra trong cuộc tọa đàm (đã nêu ở trước). Cũng đã xuất hiện một
vài bài viết ít nhiều có đề cập đến vấn đề này. Có thể kể đến “Cuộc sống và
11
con người miền trung trong tiểu thuyết Chân trời mùa hạ” của Hoàng Thụy
Anh [2]; “Chiến tranh đi qua một vùng đất, một vùng văn hóa (Đọc tiểu
thuyết Chân trời mùa hạ của Hữu Phương) của Hoàng Đăng Khoa (Báo
Quảng Bình); “Chân trời mùa hạ” - chiến tranh qua một ngôi làng” của
Dương Tử Thành ()
Chưa có một công trình, tiểu luận khoa học nào tìm hiểu, nghiên cứu
đầy đủ, nghiêm túc, hệ thống về vấn đề chiến tranh qua tiểu thuyết Chân trời
mùa hạ. Tuy nhiên những nhận xét, đánh giá của người đi trước, người viết
luận văn xem như những gợi ý bổ ích, cần tham khảo.
3. Đối tượng nghiên cứu và giới hạn của đề tài
3.1. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là Chiến tranh qua tiểu thuyết Chân
trời mùa hạ của Hữu Phương
3.2. Giới hạn của đề tài:
Đề tài bao quát tiểu thuyết Chân trời mùa hạ của Hữu Phương (đặt

6.2. Cấu trúc của luận văn
Ngoài Mở đầu và Kết luận, nội dung chính của luận văn được triển khai
trong ba chương:
Chương 1. Chân trời mùa hạ của Hữu Phương trong bối cảnh tiểu
thuyết Việt Nam sau 1975 viết về chiến tranh
Chương 2. Chiến tranh qua cái nhìn của Hữu Phương ở tiểu thuyết
Chân trời mùa hạ
Chương 3. Chiến tranh qua nghệ thuật thể hiện của Hữu Phương ở tiểu
thuyết Chân trời mùa hạ
Cuối cùng là Tài liệu tham khảo.
13
Chương 1
CHÂN TRỜI MÙA HẠ CỦA HỮU PHƯƠNG
TRONG BỐI CẢNH TIỂU THUYẾT VIỆT NAM SAU 1975
VIẾT VỀ CHIẾN TRANH
1.1. Nhìn chung tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 viết về chiến tranh
1.1.1. Chiến tranh cách mạng - nguồn cảm hứng và là đề tài lớn của
tiểu thuyết Việt Nam sau 1975
Chiến tranh là sự cô đặc của cuộc sống và tất cả những gì diễn ra trong
cuộc sống đời thường đều có thể tìm thấy trong chiến tranh. Ở đó cuộc sống
con người trở nên mạnh mẽ hơn, quyết liệt hơn, gấp gáp hơn. Vì cuộc sống
của thời chiến nên họ ít có thời gian để cân nhắc, lựa chọn kỹ càng cho một
hành động, nhất là ở những thời khắc giao thời, ở ranh giới giữa sự sống và
cái chết, sự bộc lộ và hướng về cái bản năng, cái tự nhiên là một điều dễ hiểu.
Khi chiến tranh đã kết thúc và trong sự nhìn nhận, đánh giá, chiêm nghiệm về
“những ngày tháng đau thương nhưng huy hoàng” đó, tiểu thuyết về chiến
tranh đã chạm đến những vấn đề thuộc về đời tư, cá nhân của con người. Đặc
biệt là từ sau 1986, trong tinh thần đổi mới, cùng với sự thay đổi quan niệm
về hiện thực chiến tranh cũng như quan niệm nghệ thuật về con người, những
yếu tố của đời sống cá nhân ngày càng được đào sâu hơn và trở thành một đề

1975 qua các sáng tác của Nguyễn Trọng Oánh và Bảo Ninh đã có những sự
thay đổi mới mẻ trong phong cách biểu hiện mới, các tác phẩm của các nhà
văn này đã ghi nhận và phát huy những giá trị lịch sử của dân tộc và thể hiện
một quan niệm mới về hiện thực chiến tranh. Đó là một hiện thực chiến tranh
được soi chiếu toàn diện với cái nhìn toàn cảnh về chiến tranh với các cặp
15
phạm trù đối lập: cái anh hùng bên cạnh sự phản bội, cái cao cả bên cạnh cái
thấp hèn, sự chiến thắng vinh quang bên cạnh sự huỷ diệt tàn phá, khốc liệt,
Sau năm 1975, đề tài chiến tranh tuy không còn chiếm vị trí quan trọng
hàng đầu như giai đoạn trước nhưng những vấn đề chiến tranh, những tổn thất
nặng nề, những mất mát đau thương vẫn được các nhà văn, nhất là những nhà
văn mặc áo lính chú ý khai thác. Khi tiếp tục đề tài này họ, những người từng
vào sinh ra tử ấy đã sáng tạo được nhiều tác phẩm để lại nhiều dấu ấn trong
lòng bạn đọc. Suốt ba mươi năm kháng chiến chống ngoại xâm, tiểu thuyết về
chiến tranh đã góp phần quan trọng vào việc hình thành diện mạo nền văn học
dân tộc. Sau năm 1975, trên tinh thần đổi mới tư duy nghệ thuật, tiểu thuyết
về chiến tranh vẫn tiếp tục phát triển và góp phần không nhỏ vào sự đổi mới
thể loại tiểu thuyết ở Việt Nam
1.1.2. Bức tranh chung của tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 viết về
chiến tranh
Ở nước ta, tiểu thuyết chỉ thực sự được khẳng định nhờ tài năng của các
cây bút Tự lực Văn đoàn và các nhà văn hiện thực giai đoạn 1930 - 1945.
Trên những kinh nghiệm khá phong phú nhưng ít nhiều còn mới mẻ đó, tiểu
thuyết Việt Nam sau 1945 tự điều chỉnh hướng đi để trở thành một vũ khí đa
dụng trước yêu cầu phục vụ kháng chiến và công cuộc xây dựng xã hội chủ
nghĩa. Các tác phẩm mang tinh thần sử thi trở thành dạng thức tiểu thuyết
điển hình trong giai đoạn hai cuộc kháng chiến vệ quốc. Tiểu thuyết từ sau
1975 đến nay không cắt lìa truyền thống đã có nhưng ý thức làm mới, làm
giàu, làm khác truyền thống đã và đang trở thành khát vọng và nhu cầu mạnh
mẽ của hầu hết người viết. Tuy vẫn có nhiều lời phàn nàn, nhiều cái nhìn hoài

của Nguyễn Khải, Mưa mùa hạ, Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn
17
Kháng, Cù lao Tràm của Nguyễn Mạnh Tuấn, Thời xa vắng của Lê Lựu, bên
cạnh cảm hứng ngợi ca đã xuất hiện cảm hứng phê phán, nhận thức lại; góc
độ quan sát, đánh giá con người đã có sự dịch chuyển dần về phía đạo đức
sinh hoạt. Trong định hướng thế sự, đời tư, nhiều chủ đề mới được nhấn
mạnh: giáo dục gia đình, bản lĩnh cá nhân, cái ngẫu nhiên may rủi trong đời
sống, khả năng thích ứng với thời thế… là những yếu tố có vai trò rất quan
trọng đối với quá trình hình thành giá trị của một con người, số phận riêng
của nó. Nhân vật xuất hiện lúc bấy giờ có hình thức tồn tại phổ biến của kiểu
nhân vật tiểu thuyết. Đó là một số dấu hiệu cho thấy ý thức đổi mới thể loại
đang rõ dần.
Có thể nói tiểu thuyết chặng này viết về mọi đề tài nhưng hệ quy chiếu
phổ biến là các giá trị nhân bản. Giai đoạn nay không phải sự kiện lịch sử
chiến tranh mà số phận cá nhân mới là trung tâm chú ý của tiểu thuyết. Chính
những câu hỏi về con người (trạng thái tồn tại của nó, ý nghĩa cuộc sống của
nó) tạo ra nhiều cảm hứng cho đội ngũ sáng tác, từ đó xuất hiện nhiều chủ đề,
nảy sinh nhiều loại nhân vật, nhiều sắc thái ngôn ngữ, nhiều cảm thức văn
học. Sự phân biệt đề tài chiến tranh, đề tài sản xuất, đề tài tình yêu… thực ra
chỉ có ý nghĩa hình thức vì mối bận tâm của cá nhân sáng tác lẫn người đọc
nằm ở cái nhìn hiện thực cuộc sông sau chiến tranh, ở quan niệm nghệ thuật
về con người mà mỗi tác phẩm đề xuất. “Nỗ lực đổi mới chặng đường này
chủ yếu dồn vào cách xử lý chất liệu hiện thực: một hiện thực đa chiều, hiện
thực vừa có tính tất định, vừa đáng ngờ, vừa hữu lý vừa phi lý, vừa trật tự vừa
hỗn loạn, vừa thuộc về cái rành rõ lý trí vừa như thuộc cõi siêu linh bí ẩn
huyền hồ… đó là sự nới rộng đáng kể biên độ hiện thực so với tiểu thuyết
trước 1975. Soi qua “tấm gương” tiểu thuyết, có thể thấy các mối quan hệ
giữa văn chương với hiện thực, nhà văn với bạn đọc đều được dân chủ hoá
mạnh mẽ. Nhà văn có quyền xem hiện thực là mục đích phản ánh hay chỉ là
18

thuyết viết về chiến tranh thời kì này: cảm hứng bi kịch. Nếu như trước đây
chúng ta nói nhiều đến chiến thắng, niềm vui, sự hân hoan trong kháng chiến
chống giặc ngoại xâm thì bây giờ, sau ngày giải phóng các trang viết đã ghi
lại rất đỗi chân thực những mất mát đau thương vốn dĩ rất thường tình của
chiến tranh được nhà văn phản ánh sống động, chân thực với đầy đủ vẻ gai
góc của nó. Sự vận động của cảm hứng sáng tác về đề tài chiến tranh trong
tiểu thuyết sau 1975 đã đem lại cho tiểu thuyết nói riêng và văn học thời kì
này nói chung một diện mạo hết sức mới mẻ. Viết về chiến tranh sau 1975
phần lớn các tác giả đều có sự gặp gỡ chung là hứng thú viết về nỗi buồn, về
sự mất mát, đau thương, những cảnh đời éo le. Chiến tranh không còn được
nhìn bằng cái nhìn ngợi ca lãng mạn nữa mà thay vào đó là những góc khuất
đen tối, những đau thương của hiện thực cuộc sông sau ngày giải phóng bắt
đầu được bày lên trang viết của các cây bút sau 1975. Các tác giả đã thể hiện
nỗ lực bổ sung những phương diện hiện thực trước đây ít được đề cập tới
như: những gay cấn của lịch sử, cái giá phải trả cho chiến thắng, số phận bi
kịch của con người khi chiến tranh kết thúc Hầu hết các tiểu thuyết viết về
chiến tranh sau 1975 đã mở ra những bình diện đổi mới đa dạng, phong phú,
nhiều vẻ của mảng văn học chiến tranh mà sự đổi mới cảm hứng sáng tác là
một bình diện tiêu biểu. Cũng như nhiều bình diện đổi mới khác của văn học
sau 1975 nói chung và tiểu thuyết chiến tranh nói riêng, sự chuyển hướng
cảm hứng sáng tác đã tạo được nhiều sự quan tâm, chú ý của giới nghiên
cứu, phê bình.
Có thể nói trong quá trình vận động và đổi mới của thể loại tiểu thuyết
không phải một sớm một chiều, trong quá trình đổi mới ấy đã trải qua “những
bước thăng trầm”. Song so với những loại hình, thể loại văn xuôi khác, tiểu
20
thuyết với những thành tựu và hạn chế của nó luôn là vấn đề “nóng” lôi cuốn
sự quan tâm và kích thích cảm hứng “đối thoại” của cả giới sáng tác, lý luận,
phê bình và công chúng độc giả. “Trong những năm đổi mới này không ít lần
đã xuất hiện các ý kiến tỏ ra băn khoăn, lo lắng cho sự dẫm chân tại chỗ hoặc

Dương Hướng, Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, Ăn
mày dĩ vãng, Phố, Cuộc đời dài lắm của Chu Lai Có thể nhận thấy các nhà
văn đã có cái nhìn phóng khoáng, cởi mở hơn trong đời sống văn học, điều
này cho thấy tiểu thuyết đã vận hành trong cơ chế vận động và đổi mới của
văn xuôi đương đại. Tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới đã đứng trước nhu
cầu đổi mới tư duy tiểu thuyết. Điều này chứng tỏ sự đòi hỏi thái độ, tinh thần
và quá trình sáng tác phải nghiêm khắc và tâm huyết với thể loại của các tiểu
thuyết gia đương đại. Trên phương diện đề tài, tiểu thuyết thời kỳ đổi mới đã
tiếp cận và khai thác sâu hơn vào cái hiện thực hàng ngày đời thường của đời
sống cá nhân. Các nhà tiểu thuyết đã nhìn thẳng vào những “mảnh vỡ”, những
bi kịch nhân sinh, mổ xẻ, phơi bày nó bằng cái nhìn trung thực, táo bạo. Các
đề tài truyền thống hay hiện đại đều được đưa vào trường nhìn mới, hướng tới
những gấp khúc trong đường đời và thân phận con người, thấm đẫm cảm
hứng nhân văn. Nhìn từ góc độ thể loại, trong những năm đổi mới, tiểu thuyết
đã có những tìm tòi, cách tân thể hiện ở một số phương diện: cốt truyện, nhân
vật, ngôn ngữ.
Trong cái “thời của tiểu thuyết” hôm nay, người đọc đã có hứng thú đi
tìm những cuốn sách hay, những cuốn sách trở về với chức năng thẩm mỹ và
giải trí, tôn trọng vai trò của người đọc, khêu gợi ở họ những suy ngẫm, liên
tưởng và đồng sáng tạo Tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới đã đứng
trước nhu cầu đổi mới tư duy tiểu thuyết.
22
1.2. Chân trời mùa hạ của Hữu Phương trong bức tranh chung của
tiểu thuyết sau 1975 viết về chiến tranh
1.2.1. Cơ sở ra đời của tiểu thuyết “Chân trời mùa hạ” (Hữu Phương)
Chân trời mùa hạ được viết trong 5 năm (2001- 2006), nhà văn Hữu
Phương đã tái tạo cả một bức tranh rộng lớn về chiến tranh nhân dân qua bối
cảnh một làng quê Quảng Bình từ năm 1968 đến sau đất nước thống nhất vài
ba năm.
Tiểu thuyết của ông đã ghi lại những gì mà Hữu Phương chứng kiến,

của họ cứ khát cháy nụ hôn. Mặc cuộc chiến tàn khốc, mặc lam lũ đời thường,
bất chấp thời gian nắng chan bom dội, những mối tình thanh khiết cứ đằm
thắm trung trinh (mối tình giữa bác Niệm và bà Thảo, mối tình giữa Thiện và
Cẩm…). Những con người xứ sở này mang một vẻ đẹp khỏe khoắn và rực rỡ,
một vẻ đẹp vừa mang chất phồn thực của người nông dân chất phác, vừa cao
khiết của thánh thần. Chính những tấm lòng nông dân thơm thảo và thuần hậu
của những con người dũng cảm và mưu trí, bao dung và độ lượng, cô đơn và
mất mát, run rẩy trắc ẩn đa mang, tràn ngập tình cảm làng quê lối xóm, đau
đáu với đồng đất quê hương, đã làm nên kì tích trong cuộc chiến tàn khốc
này.” (Dẫn theo: Chiến tranh đi qua một vùng đất, một vùng văn hóa Hoàng
Đăng Khoa).
1.2.1.1. Hữu Phương - người con của vùng đất lửa miền trung Quảng Bình
Hữu Phương tên thật là Nguyễn Hữu Thê, quê ở Đại Trạch, Bố Trạch,
Quảng Bình. Ông tốt nghiệp Khoa toán Đại học Sư phạm Vinh năm 1972.
Năm 1980 ông vào Hội Văn nghệ Bình Trị Thiên. Năm 1996 ông vào Hội
Nhà văn Việt Nam. Trình độ chuyên môn là Cử nhân Toán, Cử nhân Chính
trị. Chuyên ngành: Văn học. Tác phẩm chính của ông đã được công bố: Con
24
người thánh thiện,Đêm hoa quỳnh nở, Hoa cúc dại, Khách má hồng, Chân
trời mùa hạ, Văn học dân gian vùng sông Dinh, Anh bộ đội và cô gái mặc
quân phục xanh
Ông đã từng nhận các giải thưởng: Giải nhì cuộc thi tiểu thuyết lần thứ
III (2006 - 2010) của Hội Nhà văn Việt Nam, kỷ niệm 1000 năm Thăng Long -
Hà Nội cho tiểu thuyết Chân trời mùa hạ; Cúp Bông Lúa Vàng của Bộ Nông
Nghiệp & PTNT cho tác phẩm xuất sắc về đề tài Nông nghiệp, Nông thôn,
Nông dân Việt Nam giai đoạn (1981 - 2011) cho tiểu thuyết Chân trời mùa hạ;
Giải thưởng cuộc thi truyện ngắn của Tạp chí Văn Nghệ Quân Đội (1989 -
1990) cho truyện ngắn Đêm hoa quỳnh nở; Giải ba Giải Cây Bút Vàng lần thứ
hai của Bộ Công An (1998 - 2001) cho truyện ngắn Hoa sim tím; Giải thưởng
của Bộ Tư lệnh Biên Phòng cho bút ký Cha Lo mùa mua đến sớm; Giải A Giải


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status