BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
PHẠM TIẾN NAM
ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN VIÊN NÉN NHẢ
CHẬM ĐẾN MỘT SỐ GIỐNG LÚA VỤ XUÂN
TẠI HUYỆN THẠCH HÀ, HÀ TĨNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
NGHỆ AN, 2014
i
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
PHẠM TIẾN NAM
ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN VIÊN NÉN NHẢ
CHẬM ĐẾN MỘT SỐ GIỐNG LÚA
VỤ XUÂN TẠI HUYỆN THẠCH HÀ, HÀ TĨNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 60 62 01 10
Người hướng dẫn khoa học: TS Trương Xuân Sinh
ii
NGHỆ AN, 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là
trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn
này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được
chỉ rõ nguồn gốc.
Tác giả
P1000 : Khối lượng 1000 hạt
CCCC : Chiều cao cuối cùng
NHH : Nhánh hữu hiệu
TSC : Tuần sau cấy
LA : Diện tích lá
LAI : Chỉ số diện tích lá
KTT : Kết thúc trỗ
ĐNHH : Đẻ nhánh hữu hiệu
v
MỤC LỤC
* Khí hậu 18
Kết luận: 71
vi
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đã từ lâu, cây lúa trở thành cây lương thực chủ yếu, có ý nghĩa đáng kể trong
nền kinh tế và xã hội nước ta. Với địa bàn trải dài trên 15 vĩ độ Bắc bán cầu, từ Bắc
vào Nam đã hình thành những vùng đồng bằng châu thổ trồng lúa phì nhiêu.
Trong những năm qua, chính phủ đã quan tâm cải tạo cơ sở hạ tầng cho
các công trình thuỷ lợi, diện tích gieo trồng lúa đã mở rộng hơn và hệ số luân
canh tăng theo. Nhiều vùng trước đây chỉ trồng một vụ lúa nay đã trồng được 2-3
vụ. Từ 1989 Việt Nam đã tự túc được lương thực và duy trì lượng gạo xuất khẩu
ngày một tăng. Cộng đồng quốc tế đánh giá cao những thành tựu của Việt Nam
trong việc giải quyết các vấn đề an ninh lương thực. Sản lượng lúa của Việt Nam
từ 24,9 triệu tấn năm 1995 đã tăng lên 35,9 triệu tấn năm 2007, bình quân tăng
1,1 triệu tấn/năm, đạt mức tăng trưởng cao nhất khu vực và trên thế giới.
Điều đáng chú ý là trong khi diện tích lúa giảm từ 7.666 nghìn ha năm
2000 xuống 7.201 nghìn ha năm 2007, nhưng sản lượng lúa vẫn tăng từ 32.529
nghìn tấn năm 2000 lên 35.927 nghìn tấn năm 2007 (Niên giám thống kê, 2007).
Tuy nhiên trong điều kiện hiện nay, xu hướng đô thị hoá, công nghiệp hoá đang
3
-
), bay
hơi dưới dạng N
2
do hiện tượng phản nitrat hoá.
Theo kết quả nghiên cứu của trung tâm phát triển phân bón quốc tế
(IFDC) thì cây lúa chỉ hút được 30% lượng đạm được bón cho lúa nếu bón theo
phương pháp vãi trên mặt ruộng. Do vậy, để đáp ứng nhu cầu về dinh dưỡng đạm
cho cây lúa, người nông dân phải bón lượng đạm gấp 3 lần lượng đạm cây lúa
cần hút. Điều đó dẫn đến tăng chi phí, tăng giá thành trong sản xuất lúa. Hơn
nữa, nó có thể gây ô nhiễm nước ngầm bởi NO
3
-
bị rửa trôi theo chiều sâu. Quá
trình mất đạm xảy ra mạnh hay yếu chủ yếu phụ thuộc vào loại hệ thống nông
nghiệp, đặc điểm đất đai, phương thức canh tác, biện pháp bón phân và điều kiện
thời tiết. Đối với đất ngập nước, việc mất đạm dưới dạng khí NH
3
và phản đạm
hoá là hai quá trình chủ yếu.
Ở lúa cấy, lượng NH
3
mất đi do bay hơi có thể từ 20% đến trên 80% tổng
lượng đạm mất từ phân bón. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc mất NH
3
là nồng độ
amôn, nhiệt độ và pH của dung dịch đất hoặc nước tưới. Ở nước ta hầu hết phân
đạm bón được sử dụng là dạng phân amôn, do vậy việc giải phóng đạm dưới
2
Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi đề xuất thực hiện đề tài “Ảnh
hưởng của phân bón viên nén nhả chậm đến một số giống lúa vụ Xuân tại
huyện Thạch Hà, Hà Tĩnh”.
2. Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá được tác dụng của phân viên nén nhả chậm đến sự sinh trưởng,
phát triển và năng suất lúa trồng ở vụ xuân 2014 của huyện Thạch Hà;
3
- So sánh hiệu quả kinh tế và năng suất của một số giống lúa vụ Xuân tại
Thạch Hà, Hà Tĩnh được bón phân viên nén nhả chậm so với việc bón các loại
phân thông thường.
- Đồng thời chọn ra được giống lúa thích hợp với bón phân viên nén cho
địa phương.
3. Nội dung nghiên cứu
- Ảnh hưởng của phân viên nén nhả chậm đến sinh trưởng, phát triển và
năng suất của một số giống lúa vụ Xuân ở huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
* Ý nghĩa khoa học
Đưa ra những dẫn liệu khoa học về ảnh hưởng của phân viên nén nhả
chậm đến sinh trưởng và phát triển của các giống lúa nghiên cứu trồng trên địa
bàn huyện Thạch Hà tỉnh Hà Tĩnh.
Bổ sung những kiến thức mới trong sử dụng phân viên nén bón cho cây
lúa tại Hà Tĩnh cho cán bộ nghiên cứu, giảng dạy và chỉ đạo sản xuất.
* Ý nghĩa thực tiễn.
Khẳng định hiệu quả của phân bón viên nén nhả chậm đến sinh trưởng,
phát triển, năng suất của cây lúa trên địa bàn huyện Thạch Hà nói riêng và Hà
Tĩnh nói chung; Làm cơ sở để nhân rộng phương pháp bón phân viên nén trong
thâm canh lúa áp dụng cho địa bàn huyện Thạch Hà - Hà Tĩnh.
Góp phần thực hiện Đề án tái cấu trúc ngành nông nghiệp của UBND
Tỉnh, Đề án phát triển sản xuất trong xây dựng nông thôn mới. Thực hiện thắng
lợi Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ huyện khóa XXVIII về phát triển nông
Bảng 1.1. Lượng phân bón vô cơ đã sử dụng ở Việt Nam
Đơn vị tính: nghìn tấn
Năm N P
2
O
5
K
2
O NPK N+P
2
O
5
+K
2
O
2000 1332,0 501,0 450,0 180,0 2283,0
2005 1155,1 554,1 354,4 115,9 2063,6
2007 1357,5 551,2 516,5 179,7 2425,2
(Nguồn: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn)
Tuy nhiên không phải cứ bón nhiều phân hoá học thì năng suất cây trồng
5
cứ tăng lên mãi và càng không phải là tất cả lượng phân bón được cho vào đất,
được phun trên lá….cây sẽ hấp thụ hết để nuôi cây lớn lên từng ngày.
Bảng 1.2. Lượng dinh dưỡng cây lúa cần để tạo ra 1 tấn thóc
Yếu tố dinh dưỡng Lượng dinh dưỡng cần để tạo ra 1 tấn thóc (kg)
Tổng cộng Hạt Rơm rạ
N 22,2 14,6 7,6
P
2
O
lượng oxy được giải phóng ra trong nước bị giảm, các lớp nước này trở nên thiếu
oxy. Mặt khác, khi tảo và thực vật bậc thấp bị chết, xác của chúng bị phân hủy
yếm khí, tạo nên các chất độc hại, có mùi hôi, gây ô nhiễm nguồn nước.
Nồng độ Nitrat trong nước cao (do phân đạm chứa Nitrat) làm ảnh hưởng
đến sức khỏe con người, đặc biệt đối với trẻ em dưới 4 tháng tuổi. Trong đường
ruột, các Nitrat bị khử thành Nitrit, các Nitrit được tạo ra được hấp thụ vào máu
kết hợp với hemoglobin làm khả năng chuyên chở oxy của máu bị giảm. Nitrit
còn là nguyên nhân gây ung thư tiềm tàng.
Phân bón bị rửa trôi theo chiều dọc xuống tầng nước ngầm chủ yếu là phân
đạm vì các loại phân lân và kali dễ dàng được giữ lại trong keo đất. Ngoài phân
đạm đi vào nguồn nước ngầm còn có các loại hóa chất cải tạo đất như vôi, thạch
cao, hợp chất lưu huỳnh, Nếu như phân đạm làm tăng nồng độ nitrat trong nước
ngầm thì các loại hóa chất cải tạo đất làm tăng độ mặn, độ cứng nguồn nước.
Phân bón trong quá trình bảo quản hoặc bón vãi trên bề mặt gây ô nhiễm
không khí do bị nhiệt làm bay hơi khí amoniac có mùi khai, là hợp chất độc hại
cho người và động vật. Mức độ gây ô nhiễm không khí trường hợp này nhỏ, hẹp
không đáng kể so với mức độ gây ô nhiễm của các nhà máy sản xuất phân đạm
nếu như không xử lý triệt để.
Phân bón gây ô nhiễm môi trường là do lượng dư thừa các chất dinh
dưỡng do cây trồng chưa sử dụng được hoặc do bón không đúng cách… Nguyên
nhân chính là do chưa nắm bắt được số lượng, chất lượng và cách bón phân đúng
cách để cây cối hấp thụ.
Phần lớn bà con nông dân sử dụng phân đạm (urê) là chính với số lượng
lớn mà không cân đối với kali, lân… nên hiện tượng lúa lốp, cây dễ nhiễm sâu
bệnh, dễ bị đổ ngã, mía dể đỗ ngã
Cách bón phân hiện nay chủ yếu là bón vãi trên mặt đất, phân bón ít được vùi
7
vào trong đất. Xét về mặt hoá học đất, các keo đất là những keo âm (-) còn các yếu
tố dinh dưỡng hầu hết là mang điện tích dương (+). Khi bón phân vào đất, được vùi
lấp cẩn thận thì các keo đất sẽ giữ lại các chất dinh dưỡng và nhả ra từ từ tuỳ theo
lúa lai có tiềm năng năng suất cao đòi hỏi nhu cầu dinh dưỡng rất cao, gấp 3 lần
các giống lúa cũ (DeDatta, 1984) [33]. Những giống lúa có năng suất đạt 5 tấn/ha
và lượng rơm rạ tương đương lấy đi 110 kg N, 45 kg P
2
O
5
, 130 kg K
2
O, 14 kg
Ca, 12 kg Mg, 5 kg S, 1 kg Fe, 2 kg Mn, 0,2 kg Zn, 0,15 kg Cu, 0,15 kg Bo, 250
kg Si và 25 kg Cl từ đất (Pillai, 1996) trích dẫn qua [27]. Bón phân không cân
đối là nguyên nhân chính dẫn đến không phát huy hết tiềm năng năng suất của
các giống lúa.
Nhu cầu dinh dưỡng của lúa không chỉ phụ thuộc vào giống mà còn phụ
thuộc vào các giai đoạn sinh trưởng. Giai đoạn mạ cần nhiều lân và kali, đặc biệt
là mạ Xuân. Giai đoạn đẻ nhánh, lúa cần nhiều đạm, lân và kali. Phân tích hàm
lượng đạm và lân trong cây cho thấy: Khi hàm lượng đạm > 3% khối lượng chất
khô thì lúa đẻ nhánh mạnh; < 2,5% lúa không đẻ nhánh; < 1,6% thì các nhánh
nhỏ bắt đầu chết lụi. Hàm lượng lân trong lá > 0,25% thì lúa đẻ nhánh và <
0,25% thì lúa không đẻ nhánh (Matsushima,1995) trích dẫn qua [27]. Giai đoạn
lúa làm đòng là giai đoạn tạo nên các yếu tố cấu thành năng suất như số
bông/khóm, số hạt chắc/bông và khối lượng 1000 hạt vì vậy lúa cần đầy đủ 3
nguyên tố đa lượng NPK. Giai đoạn lúa trỗ, hạt lớn nhanh, các chất hữu cơ mà
cây quang hợp và tích lũy trước thời kỳ trỗ bông đều được chuyển về hạt (De
Datta, 1984) [33]. Do nhu cầu dinh dưỡng của lúa khác nhau qua các giai đoạn
sinh trưởng nên cần có chế độ dinh dưỡng phù hợp yêu cầu dinh dưỡng của các
giai đoạn đó
Lúa có 2 thời kỳ khủng hoảng dinh dưỡng là thời kỳ đẻ nhánh và làm
đòng. Lúa hút dinh dưỡng mạnh nhất vào thời kỳ làm đòng đến trỗ, còn thời kỳ
đầu lúa hấp thu dinh dưỡng rất kém (Hung, 2006); Kim, 2004; Yanagisawa và
đoạn cuối và lượng lân hút ở giai đoạn đầu chủ yếu phân phối ở các cơ quan sinh
trưởng. Do đó, phải bón lót để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cho cây lúa”.
1.2.2. Tình hình và kết quả nghiên cứu phân bón ở Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của phân đạm đến sự sinh trưởng và phát
triển của cây lúa, Bùi Huy Đáp cho biết: “Phân hoá học cung cấp từ 1/3 đến 1/2
10
lượng phân đạm cho lúa”. Những năm gần đây việc bón phân chuồng cho lúa
không đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng cho cây nên con người đã sử dụng phân
đạm hoá học để bón. Mỗi giống lúa khác nhau cần một lượng phân bón nhất định
vào các thời kỳ cây đẻ nhánh, đẻ nhánh rộ và giảm dần khi lúa đứng cái [5].
Theo Lê Văn Căn (1964) trích dẫn qua [27]: Nếu cứ bón đơn thuần đạm
thì sau 3 - 4 vụ việc phối hợp bón lân và kali sẽ làm tăng năng suất một cách
đáng kể. Cũng theo tác giả khi bón một lượng đạm lớn là 50 - 60 kg, nhất là các
giống lúa mới thì hiện tượng thiếu kali xảy ra chủ yếu là khô đầu lá và hạt bị lép.
Nếu bón kali trên nền đạm cao kết hợp kỹ thuật bón lót và bón thúc kali lúc lúa
sắp đứng cái sẽ cho hiệu quá tốt hơn rất nhiều. Tại hội nghị khoa học về nghiên
cứu phân bón toàn miền Bắc tháng 12/1959 tổng kết nhìn chung đất Việt Nam
giàu kali và sự phục hồi kali khá nhanh chóng. Trừ đất bạc màu nghèo kali còn
các loại đất khác hiệu suất sử dụng kali 3 - 5 kg thóc/1kg K
2
O.
Khi cây lúa được bón đủ đạm thì nhu cầu tất cả các chất dinh dưỡng khác
như lân và kali đều tăng - Nguyễn Hữu Tề và cộng sự (1997) [23]. Theo Bùi Huy
Đáp [5] , đạm là yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến năng suất lúa, cây có đủ đạm thì
các yếu tố khác mới phát huy hết được tác dụng.
Hiện nay ở Việt Nam, bón phân kali đã cho mùa màng bội thu, có trường
hợp vượt cả đạm và lân. Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Bộ (2003) [1]
cho thấy: Bội thu do có đạm và lân trên đất phù sa là 11,7 tạ/ha trên đất bạc màu
với lượng tương tự chỉ cho 1,2 tạ/ha. Nguyên nhân ở đây là do trong đất phù sa
giàu kali, cây trồng khi đã đủ đạm và lân tự cân đối nhu cầu về kali trong đất nên
Yêm - 1995) [30]. Thiếu kali lá có màu xanh đậm, cây thấp, lúa trỗ sớm hơn,
năng suất giảm. Thiếu kali quá trình tổng hợp protein bị trở ngại, đạm amin và
đạm hoà tan trong cây tăng lên, sức chống chịu của cây bị giảm.
Võ Minh Kha (1996) [12] khi nghiên cứu quan hệ giữa năng suất với lượng kali
bón cho thấy: hiệu lực của kali còn phụ thuộc rất lớn vào năng suất, trên đất phù
sa Sông Hồng khi năng suất dưới 2.5 tấn/ha hiệu lực của kali thường không rõ;
năng suất từ 2,5 - 4,5 tấn/ha, bón 20 - 30 kg K
2
O có hiệu lực rõ; năng suất lớn
hơn 4,5 tấn/ha nhất thiết phải bón kali.
Cũng theo Võ Minh Kha [12], trên ruộng lúa năng suất 8 tấn/ha số
12
lượng kali lấy đi trong hạt thóc khoảng 40 - 45 K
2
O. Nếu vùi trả lại rơm rạ và
bón 10 tấn phân chuồng thì sự thâm hụt về kali không lớn, vì vậy nước tưới có
thể là nguồn kali chính cho lúa. Hàm lượng kali trong nước tưới đạt 40 ppm
có thể đáp ứng nhu cầu kali cho lúa ở mức năng suất 10 tấn/ha. Nguyễn Như
Hà, 1999 [9] đưa ra kết luận: khi năng suất lúa vượt trên 5 tấn/ha (vụ mùa) và
trên 6 tấn/ha (vụ xuân), lượng kali cây hút vượt quá khả năng tối đa của đất có
thể cung cấp, nhất thiết phải bón kali sẽ có hiệu quả cao.
Khi nghiên cứu về lúa lai các nhà khoa học Trung Quốc kết luận rằng: Với
cùng một mức năng suất, lúa lai hấp thu lượng đạm và lân thấp hơn lúa thuần, ở
mức 75 tạ/ha lúa lai hấp thu thấp hơn lúa thuần 4,8% về đạm, hấp thu P
2
O
5
thấp hơn
18,2% nhưng hấp thu K
2
Lúa yêu cầu đạm ngay từ lúc nảy mầm và gần như đến cuối cùng của thời
kỳ sinh trưởng sinh thực. Tỷ lệ đạm trong cây so với trọng lượng chất khô ở các
thời kỳ như sau: thời kỳ mạ 1,54%, đẻ nhánh 3,65%, làm đòng 3.06%, cuối làm
đòng 1,95%, trổ bông 1,17% và chín 0,4% [6].
Đối với nhiều loại đất, ngay từ đầu cần phải bón đạm kết hợp với lân mới
cho năng suất cao. Cũng theo nghiên cứu của Lê Văn Căn (1964) trích dẫn qua
[27]: Sự tích luỹ đạm, lân, kali ở các cơ quan trên mặt đất không kết thúc ở thời
kỳ trỗ mà còn được tiến hành ở giai đoạn tiếp theo của cây. Tuy nhiên, từ khi cây
bắt đầu đẻ nhánh đến làm đòng, cây lúa phản ứng mạnh với dinh dưỡng N, K
2
O
ở mức độ cao.
Theo Đào Thế Tuấn, 1980 [29], trong thí nghiệm 3 vụ liền ở đất phù sa
Sông Hồng đã rút ra kết luận: “Vụ lúa chiêm cũng như vụ lúa mùa, chia đạm ra
bón nhiều lần để bón thúc đẻ nhánh, nếu bón tập trung vào thời kỳ đầu đẻ nhánh
thì số nhánh tăng lên rất nhiều về sau lụi đi cũng nhiều và thiếu dinh dưỡng. Nếu
bón tập trung vào cuối thời kỳ đẻ nhánh thì số nhánh lụi đi ít nhưng tổng số
nhánh cũng ít vì vậy cần chú ý cả ai mặt. Trong trường hợp đạm bón tương đối ít
thì nên bón tập trung vào thời kỳ đẻ nhánh rộ.
Theo các công trình đã nghiên cứu, muốn đạt năng suất 50 tạ/ha/vụ
cần bón 100 - 120 kg N/ha. Lượng đạm này lấy từ các loại phân vô cơ và
hữu cơ bón cho lúa.
Cây lúa cần đạm ở tất cả các thời kỳ sinh trưởng, nhưng chủ yếu bón vào
thời kỳ bón lót, bón thúc khi đẻ nhánh và bón khi lúa bước vào thời kỳ đòng. Tuỳ
theo thời kỳ sinh trưởng của cây lúa mà bón, khi bón phải dựa vào thời tiết, khí
hậu, mùa vụ. Cần tập trung lượng đạm vào thời kỳ đẻ nhánh vì đây là thời kỳ
khủng hoảng đạm lớn nhất của cây lúa. Nếu bón đạm tập trung vào thời kỳ đẻ
14
nhánh sẽ kích thích cây lúa đẻ nhiều và tập trung, do đó số nhánh hữu hiệu tăng
lên. Đây chính là yếu tố quyết định năng suất của lúa [9].
4 Bỉ-Luxumboug 577 492 408
5 Costa Rica 145 213 402
6 Nhật Bản 372 400 352
7 Moritus 249 262 344
8 Liên hiệp Anh 294 356 328
9 Ai cập 271 364 306
10 Israel 192 235 274
(Nguồn: FAO Fertilizer Yearbook Vol. 48 – 1998)
Theo FAO Fertilizer Yearbook: Trong thời gian từ 1990 đến 1998 việc sử
dụng phân bón ở Châu Phi ít biến động, tăng giảm không đáng kể; so với 1990,
lượng phân bón năm 1998 giảm 1,4%. Việc dùng phân ở Châu Phi rất không đều
nhau, có nước bón rất cao đã bắt đầu giảm xuống (Algerie), có nước trong những
năm 1960 không bón phân nhưng đến thập kỷ 80 vào cuộc rất nhanh (Saudi
Arabica), năm 1990 nước này bón trên 500kg NPK/ha.
Châu Âu đến thời kỳ 1996-1998 lượng phân bón đi vào ổn định, so với thời kỳ
1990 giảm 5,3%. Bắc Mỹ thì tăng đều nhưng không nhiều, so với năm 1990 thì niên
độ 1997-1998 tăng 7,3%. Tăng mạnh là các nước khu vực đang phát triển: Châu Đại
Dương tăng 91%. Nam Mỹ tăng 64,5%, Châu Á tăng 27,8%.
1.3.2. Tình hình sử dụng phân bón ở Việt Nam
Trong những năm gần đây Việt Nam là nước sử dụng phân bón tương đối
cao so với những năm trước đây, một mặt do vốn đầu tư ngày càng cao, mặt khác
do người dân tiếp thu và áp dụng nhiều biện pháp kỹ thuật trong thâm canh. Theo
Vũ Hữu Yêm, 1995 [30], Việt Nam hiện đang là một trong 20 quốc gia sử dụng
phân bón cao nhất thế giới.
Bảng 1.4. Nhu cầu và cân đối phân bón ở Việt Nam đến năm 2020
16
ĐVT: nghìn tấn
Các loại phân bón
Năm
2005 2010 2015 2020
Đất sản xuất nông nghiệp là 13.809,84 ha, chiếm 39,96% tổng diện tích
17
đất tự nhiên và 63,48% đất nông nghiệp. Trong đó:
Quỹ đất trồng cây hàng năm là 10.779,04 ha, chiếm 93,38% diện tích đất
sản xuất nông nghiệp, trong đó: Đất có khả năng trồng lúa 9.373,75 ha.
Đất trồng cây lâu năm là 3.030,8 ha, chiếm 14,39% diện tích đất nông
nghiệp, những năm gần đây có một số hộ đã có xu hướng cải tạo đất cây lâu năm
để phát triển các loại cây ăn quả, cây có giá trị kinh tế cao.
- Đất lâm nghiệp:
Hiện nay toàn huyện có 8.313,0 ha đất lâm nghiệp, chiếm 27,25% diện
tích đất tự nhiên, trong đó: Diện tích đất rừng sản xuất là 4.974,44 ha, diện tích
đất rừng trồng phòng hộ 3.338,56 ha, chủ yếu là rừng trồng; rừng tự nhiên còn lại
rất thấp, là loại rừng phục hồi sau khi khai thác.
- Đất nuôi trồng thủy sản:
Diện tích là 824,95 ha, chiếm 2,57% diện tích đất tự nhiên, chiếm 0,011%
diện tích đất nông nghiệp toàn huyện. Trong thời gian tới với mục tiêu phát triển
nuôi trồng thủy sản, chuyển đổi sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hoá, nâng
cao thu nhập trên 1 đơn vị diện tích, huyện cần phải có các chính sách mở rộng
diện tích nuôi thuỷ sản.
- Đất làm muối 87,57 ha.
- Đất nông nghiệp khác 5,11 ha.
* Khí hậu
Thạch Hà là một huyện có khí hậu đặc trưng của khu vực nhiệt đới gió
mùa, chịu sự ảnh hưởng trực tiếp của loại khí hậu giao thoa, chuyển tiếp giữa hai
miền Bắc – Nam, có gió mùa Tây Nam vào mùa khô và gió mùa Đông Bắc về
mùa mưa. Do vậy, khí hậu có một số đặc điểm như sau:
Nhiệt độ
Nhiệt độ trung bình cả năm khoảng 23,5-25
0
C, chênh lệch nhiệt độ giữa
theo mùa vụ, tuy nhiên mùa đông phải bố trí cây trồng chịu hạn, chịu rét.
Chế độ gió
Chế độ gió biến đổi theo mùa trong năm và có 2 loại gió chính:
- Gió mùa Đông Bắc, hình thành từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau
- Gió Tây Nam (gió Lào) thịnh hành từ tháng 4 đến tháng 8 với đặc điểm
khô, nóng làm nền nhiệt độ trong ngày tăng cao.
Ngoài ra, mùa hè còn có gió Đông Nam thổi từ biển vào thịnh hành từ
tháng 5 đến tháng 10.
Tốc độ thổi trung bình từ 3-5m/s, có khi 7-10m/s có đặc trưng rất nóng và
khô. Từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau có gió Đông Bắc thổi mang theo hơi lạnh
19