BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
!"
!#
$%&'()
*+,-.+/0*12034.5.67.80.
*.90:;<"=
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
!"
!#
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
.5>?00*70.3 -@A1BC.DCEFGC-H5.DCI
JKL3 M<"=<"<"
*+,-.+/0*1203 4.5.67.80.
*+,-.+/0*12034.5.67.80.
1. *.90:;<"=
4
NO
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn, tôi đã nhận được nhiều sự hỗ trợ,
động viên, khuyến khích của các cấp lãnh đạo, các thầy cô giáo, bạn bè và đồng nghiệp.
Với tình cảm chân thành, tôi xin bảy tỏ lời cảm ơn tới TS. Chu Thị Hà Thanh, người đã trực
tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành bản luận văn này.
Tôi cũng chân thành gửi lời cảm ơn tới:
- Ban giám hiệu, các thầy cô giảng viên khoa Giáo dục học của trường Đại học Vinh;
- Lãnh đạo phòng Tổ chức – Cán bộ trường Đại học Sài Gòn;
- Lãnh đạo, cán bộ chuyên viên Phòng Giáo dục Tiểu học Quận 2, TP.HCM;
tộc thiểu số cũng như cho người nước ngoài ở Việt Nam. Ngay khi mới thành
lập (1956), ở trường Đại học Tổng hợp Hà Nội đã có bộ phận chuyên dạy TV
cho người nước ngoài, sau đó phát triển thành Khoa TV và Văn hoá Việt Nam
cho người nước ngoài ở Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Quốc gia Thành
phố Hồ Chí Minh (TP.HCM). Ngoài ra, nhiều trường Đại học và Viện nghiên
cứu ở Việt Nam cũng mở các Trung tâm dạy TV cho người nước ngoài, và
trên Đài truyền hình Việt Nam cũng đã có chương trình dạy TV cho đồng bào
Việt Nam ở xa Tổ quốc.
Theo nghị quyết số 36/NQ-TW của Bộ Chính trị ban hành vào ngày
26/3/2004, thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta đối với cộng đồng
người Việt Nam ở nước ngoài, đặc biệt là đối với việc dạy TV cho các thế hệ
trẻ, chương trình dạy tiếng Việt cũng bắt đầu được phát trên VTV4 và Đài
Tiếng nói Việt Nam, điều đó đã khích lệ các tổ chức, hiệp hội và cá nhân
người Việt ở khắp mọi nơi tham gia vào sự nghiệp cao cả này.
Trong bối cảnh đó, việc dạy TV cho người nước ngoài (cũng như cho
con em của họ đang sinh sống và theo học tại một số trường) ở Việt Nam nói
chung và TP.HCM nói riêng hiện nay đang phát triển mạnh mẽ. Điều này gợi
ra nhiều vấn đề liên quan đến phương pháp giảng dạy TV cho HSNNN vốn
còn khá mới mẻ với người Việt Nam.
7
Trong lịch sử dạy ngôn ngữ thứ hai, đã từng ra đời những phương pháp
khác nhau ở những nước khác nhau.Thậm chí có những thời kỳ các phương
pháp dạy ngoại ngữ xuất hiện nhiều đến mức khiến cho người dạy học không
dễ dàng gì khi chọn lựa, bởi lẽ mỗi phương pháp đều có mặt mạnh, mặt yếu
nhất định.Vấn đề là ở chỗ vận dụng phương pháp sao cho phù hợp với đối
tượng học cụ thể, để truyền đạt một mô hình ngôn ngữ nào đó.
Thế nhưng hiện nay chưa có một phương pháp giảng dạy TV cụ thể
nào dành cho học sinh người nước ngoài ở độ tuổi bắt đầu đi học, học sinh
(HS) lớp 1, được chính thức đưa ra và áp dụng, mà mới chỉ dừng lại ở những
giáo trình, những phương pháp dạy TV cho người nước ngoài ở độ tuổi cấp 2
6. @C].+c0*].@]0* ?0CZ5
6.1. .d_].+c0*].@]0* ?0CZ5eUe5G0
Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá, khái quát
hoá những tài liệu lý luận để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài.
6.2. .d_].+c0*].@]0* ?0CZ5X.fCX-g0
6.2.1. Phương pháp quan sát
9
Tìm hiểu thực trạng giảng dạy TV cho người nước ngoài và các giáo
trình dạy TV cho người nước ngoài ở Quận 2,TP.HCM hiện nay, đó là cơ sở
để kh„ng định, kiểm chứng các biện pháp đề xuất.
6.2.2. Phương pháp đi'u tra
Nhằm làm sáng tỏ thực trạng giảng dạy TV cho người nước ngoài và
các phương pháp chính, các giáo trình dạy TV cho người nước ngoài ở Quận
2, TP.HCM trong thời gian qua.
6.2.3. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục
6.3. .+c0*].@]X.L0*b?XA@0.DC
7. h5XijC0k-150*Cl8e5G0\m03
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
Chương 2: Thực trạng dạy học Tiếng Việt lớp 1 cho học sinh người
nước ngoài ở Quận 2, TP.HCM
Chương 3: Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học Tiếng Việt
lớp 1 cho học sinh người nước ngoài
Ngoài ra còn có: phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ
lục.
10
O"
OSP$%no#
1.1. 6C.Kp0* ?0CZ5\h0VW
1.1.1. Các nghiên cứu v' phương pháp dạy học TV
Với tư cách là một khoa học, phương pháp dạy học TV được xem là
ngoài
Các nghiên cứu về phương pháp dạy học TV cho người nước ngoài
hiện nay tập trung chủ yếu vào các nghiên cứu và giáo trình dạy TV cho sinh
viên người nước ngoài đang theo học tại các trường đại học ở Việt Nam, hay
người trưởng thành muốn làm quen với TV.
- Dưới đây là một số nghiên cứu tiêu biểu như:
Nghiên cứu Học TV qua tiếng Anh của Mai Ngọc Chừ, Nxb Thế Giới,
2010;
Nghiên cứu về Phương pháp dạy phát âm cho người bắt đầu học TV từ
lý thuyết đến thực tế dạy tiếng của Phan Trần Công, Khoa Việt Nam học,
Trường ĐH KHXH&NV- ĐHQG TP. Hồ Chí Minh;
Nghiên cứu về Thủ thuật dạy viết TV cho người nước ngoài của
Nguyễn Thị Thanh Trúc, Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế 2009, Nghiên
cứu, giảng dạy Việt Nam học và TV – Phương pháp và kỹ năng, Nxb Khoa
học Xã hội Hà Nội, 2010;
Nghiên cứu về Các yếu tố phi ngôn ngữ và việc dạy học ngoại ngữ của
Kiều Thị Thu Hương, tạp chí Ngôn ngữ, số 9/2001;
Nghiên cứu về Dạy TV với tư cách một ngoại ngữ của Mai Ngọc Chừ,
tạp chí Ngôn ngữ số 5/2002;
Nghiên cứu về Phương pháp dạy viết cho học viên nước ngoài hệ
chính quy của Nguyễn Thị Hoàng Yến, trường Đại học Ngoại ngữ
KANDA;
12
Các nghiên cứu này là cơ sở cho việc thiết kế hoạt động dạy học TV
cho HS với tư cách là ngôn ngữ thứ 2, được giảng dạy thông qua tiếng mẹ đẻ
của HS là tiếng Anh; giúp hình thành những nội dung dạy phát âm cho HS
nhỏ, cũng như cung cấp thêm những thủ thuật cần thiết cho việc thiết kế bài
dạy TV cho HSNNN trong đề tài.
- Một số giáo trình dạy TV cho người nước ngoài thông dụng hiện nay
như:
TV nào dành cho lứa tuổi HS Tiểu học (hay cụ thể hơn là đối tượng HS ở lứa
tuổi bắt đầu đi học-lớp 1-mà chúng tôi đang nghiên cứu) thì hoàn toàn không
có.
1.1.3. Ưu điểm và hạn chế của các nghiên cứu nói trên
1.1.3.1. Ưu điểm
Ưu điểm của các nghiên cứu nói trên là đưa ra được những phương
pháp dạy học cùng với các biện pháp, thủ thuật để hỗ trợ việc dạy từng kỹ
năng nghe, nói, đọc, viết TV cho người nước ngoài, có giáo trình hướng dẫn
cụ thể để người dạy có thể nghiên cứu và áp dụng cho phù hợp với đối tượng
học viên của mình; ngoài ra, cũng có phương pháp dạy TV cho HS người Việt
ở độ tuổi tiểu học đi sâu vào từng kỹ năng (nghe, nói, đọc, viết) thông qua
phương pháp dạy TV ở các phân môn cụ thể.
1.1.3.2. Hạn chế
Hạn chế lớn nhất của các nghiên cứu nói trên là thiếu sự kết hợp giữa
các phương pháp dạy học TV cho HS tiểu học người Việt với các phương
pháp dạy học TV cho học sinh người nước ngoài (HSNNN), việc này tạo ra
khó khăn cho người dạy khi muốn lựa chọn giáo trình và phương pháp dạy
TV cho HSNNN ở độ tuổi bắt đầu đi học này.
14
1.2. kXKLb.@-0-9_CcF`0Cl8VWX7-
1.2.1. Chất lượng, chất lượng dạy học
1.2.1.1. Chất lượng
Theo Đại từ điển TV, chất lượng có nghĩa là: Thứ nhất, cái làm nên
phẩm chất, giá trị của con người, sự vật, như: chất lượng hàng hóa, nâng cao
chất lượng học tập. Thứ hai, cái tạo nên bản chất sự vật, làm cho sự vật này
khác với sự vật kia; phân biệt với số lượng, như: tăng trưởng số lượng đến
mức nào thì làm thay đổi chất lượng [26, tr331].
Theo quan điểm triết học, chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật.
Nó là cái liên kết các các thuộc tính của sự vật, gắn bó với sự vật, không tách
rời khỏi sự vật. Sự vật trong khi vẫn còn là bản thân nó thì không thể mất chất
phương pháp giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó: giải pháp kinh tế, giải
pháp chính trị. Cả biện pháp và giải pháp đều có chung một nhiệm vụ là giải
quyết một vấn đề cụ thể. Tuy nhiên, khái niệm biện pháp có nội hàm hẹp hơn
khái niệm giải pháp. Nói đến biện pháp là nói đến cách giải quyết cụ thể cho
từng đối tượng cụ thể. Cách giải quyết này mang tính đặc thù và sử dụng
trong phạm vi hẹp, tính phổ biến không cao. Giải pháp có tính phổ biến hơn,
nó có thể được vận dụng để giải quyết cho nhiều đối tượng khác nhau. Vấn đề
được giải quyết rộng hơn và có thể bao gồm nhiều vấn đề cụ thể khác.
1.2.2.2. Biện pháp nâng cao chất lượng dạy học
Biện pháp nâng cao chất lượng dạy học là cách thức tác động vào các
yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dạy học nhằm khắc phục những tác động
tiêu cực của các yếu tố đó đối với chất lượng dạy học và nâng cao chất lượng
dạy học đáp ứng nhu cầu đề ra.
Từ cách hiểu trên, đề tài chúng tôi nghiên cứu các biện pháp nâng cao
chất lượng dạy học TV1CHSNNN tại TP.HCM, chính là nghiên cứu cách
16
thức tác động vào các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dạy học
TV1CHSNNN nhằm khắc phục những tác động tiêu cực của các yếu tố đó và
nâng cao chất lượng dạy học TV1CHSNNN trên địa bàn TP.HCM nói chung,
Quận 2 nói riêng.
1.2.3. Học sinh người nước ngoài
HSNNN là con em của những người nước ngoài, thường được sinh ra ở
nước ngoài, nên tiếng mẹ đẻ của các em là ngôn ngữ của quốc gia đó, nhưng
do đặc thù công việc của bố mẹ mà các em di chuyển đến Việt Nam theo bố
mẹ và hiện đang sinh sống, theo học tại một số trường ở Việt Nam.
Đối tượng cụ thể ở đây là HSNNN ở độ tuổi bắt đầu đi học, cùng độ
tuổi với HS lớp 1 ở Việt Nam hiện nay (khoảng 6 tuổi), hầu hết hiện đang
theo học chương trình của các trường quốc tế và xem TV là ngôn ngữ thứ hai,
là môn ngoại ngữ đối với các em.
1.3. k-150*\7].+c0*].@]1^>.DCe/]"
sau:
LCVkCq0V^X
r-8-VA^0
-s8.DCbt" 5L-.DCbt" -s8.DCbt; 5L-.DCbt;
DC Khoảng 15
tiếng/phút
Khoảng 20
tiếng/phút
Khoảng 25
tiếng/phút
Khoảng 30
tiếng/phút
-aX Khoảng 15
chữ/15phút
Khoảng 20
chữ/15phút
Khoảng 25
chữ/15 phút
Khoảng 30
chữ/15phút
Dựa vào đối tượng và điều kiện dạy học cụ thể, trong từng giai đoạn
HS có thể đạt tốc độ quy định như trên sớm hay muộn. GV có thể vận dụng
linh hoạt, xác định tốc độ cần đạt sau từng bài học đối với HS lớp mình phụ
trách.
18
Bên cạnh đó, tiến hành điều chỉnh một số yêu cầu cần đạt trong nội
dung Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng theo hướng: Không dạy
một số bài khó, chưa thực sự cần thiết với HS; giảm một số câu hỏi, bài tập
theo hướng tinh giản, thiết thực.
1.3.1.2. Mục tiêu của môn TV ở trường tiểu học
Thông qua việc dạy và học TV, góp phần rèn luyện các thao tác tư duy.
2. Cung cấp cho HS những kiến thức sơ giản về TV và những hiểu biết
sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, văn hóa, văn học của Việt Nam và
nước ngoài.
3. Bồi dưỡng tình yêu TV và hình thành thói quen giữ gìn sự trong
sáng, giàu đẹp của TV, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam
xã hội chủ nghĩa”.
1.3.1.3. Nội dung dạy học TV cho HS tiểu học
Nội dung dạy học là một yếu tố rất quan trọng của quá trình dạy học.
Nội dung dạy học cùng với phương pháp dạy học có vai trò quyết định,
hướng hoạt động của GV và HS đạt được mục tiêu của giáo dục. Theo Điều
24 - Luật Giáo dục, 1998, Yêu cầu về nội dung dạy học ở tiểu học: “Giáo dục
tiểu học phải đảm bảo cho HS có hiểu biết đơn giản, cần thiết về tự nhiên, xã
hội và con người; có kĩ năng cơ bản về nghe, đọc, nói, viết và tính toán; có
thói quen rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh; có hiểu biết ban đầu về nghệ
thuật”.
Nội dung dạy học TV ở tiểu học được thể hiện thông qua các phân môn
Tập đọc, Kể chuyện, Luyện từ và câu, Chính tả, Tập làm văn. Sách giáo khoa
tổ chức rèn luyện kĩ năng sử dụng TV cho HS thông qua các phân môn như:
-Phân môn Tập đọc rèn cho HS các kĩ năng đọc, nghe và nói.
20
-Phân môn Luyện từ và câu, cung cấp kiến thức về TV, rèn cả 4 kĩ năng
đọc, viết, nghe, nói.
-Phân môn Chính tả rèn kĩ năng viết và nghe.
-Phân môn Tập viết chủ yếu rèn kĩ năng viết.
-Phân môn Kể chuyện rèn kĩ năng nói và nghe.
-Phân môn Tập làm văn rèn tất cả các kĩ năng nghe, nói, đọc và viết.
Cấu trúc hai giai đoạn của chương trình
Giai đoạn 1 (các lớp 1,2,3)
Nội dung dạy học giai đoạn này có nhiệm vụ: Hình thành những cơ sở
1.3.1.4. Phương pháp dạy học TV cho HS tiểu học
Phương pháp dạy học TV ở Tiểu học gồm các phương pháp chính là:
+ Phương pháp phân tích ngôn ngữ
+ Phương pháp rèn luyện theo mẫu
+ Phương pháp giao tiếp
Các phương pháp này được áp dụng vào trong từng phân môn, góp
phần hình thành nên phương pháp dạy học của mỗi phân môn riêng biệt:
Phương pháp dạy học Học Vần, Phương pháp dạy học Tập viết, Phương
pháp dạy học Chính tả, Phương pháp dạy học Tập đọc, Phương pháp dạy
học Luyện từ và câu, Phương pháp dạy học Tập làm văn, Phương pháp dạy
học Kể chuyện.
1.3.1.5. Khả năng các trường quốc tế, các trung tâm có thể dạy học TV cho HSNNN ở
Việt Nam nói chung và TP.HCM nói riêng
Đã có nhiều công trình nghiên cứu cố gắng trình bày sự ích lợi của việc
học thêm một ngôn ngữ thứ hai tại trường mà không ảnh hưởng tiêu cực đến
22
khả năng ngôn ngữ của trẻ em. Trẻ em có khả năng nói tiếng mẹ đẻ, rất thuận
lợi để học thêm một ngôn ngữ thứ hai. Sự phát triển liên tục tiếng mẹ đẻ của
trẻ em song ngữ sẽ gia tăng khả năng cả tiếng Anh và tiếng mẹ đẻ của chúng
(Gibbons, 1991). Các HS đã học được một ngôn ngữ thứ hai sẽ học một ngôn
ngữ thứ ba có hiệu quả (Scarino et al, 1988a). Một số nhà nghiên cứu khác
cũng lập luận rằng học một ngôn ngữ thứ hai không ảnh hưởng tiêu cực đến
khả năng ngôn ngữ thứ nhất, mà trái lại nó bồi đắp thêm khả năng cho ngôn
ngữ thứ nhất "HS thuộc nhóm sắc tộc thiểu số có thể tiếp tục học hỏi và phát
triển tiếng mẹ đẻ của họ trong khi họ đang học tiếng Anh" (Gibbons, 1992:
231; Maughan, 1985: 23-26). Đa số các nghiên cứu kh„ng định rằng song ngữ
không phải là một nguyên nhân làm chậm phát triển nhận thức và học tập của
trẻ em; ngược lại, nó có thể ảnh hưởng tích cực đến khả năng ngôn ngữ và
phát triển trí tuệ. Một người có trình độ song ngữ có thể sử dụng hai ngôn
ngữ, nhưng "Song ngữ không nhất thiết có trình độ thông thạo cả hai ngôn
chọn lọc và điều chỉnh nội dung cho phù hợp với lứa tuổi của HS lớp 1 là
được.
Bộ giáo trình gồm 4 quyển, trong đó, quyển 1 – Stage 1 – dành cho đối
tượng là HS mới làm quen với TV, các quyển 2, 3 và 4 tiếp tục nâng cao hơn
về trình độ TV cho HS. Trong phạm vi giới hạn đề tài nghiên cứu về biện
pháp dạy TV1CHSNNN, chúng tôi chỉ trình bày cấu trúc nội dung cụ thể của
quyển 1, với những nội dung chính mà chúng tôi có thể sử dụng được trong
quá trình dạy học TV cho HS nhỏ.
Cấu trúc nội dung chính của quyển 1 giáo trình Tiếng Việt hiện đại bao
gồm 20 bài – 20 modules, mỗi bài gắn với một chủ đề gần gũi với HS như:
Chủ đề 1: Chào hỏi; Chủ đề 2: Giới thiệu mình và người khác; Chủ đề 3: Làm
24
quen với người nào; Chủ đề 4: Nói về thời gian; Chủ đề 5: Bạn đã nói, viết
được gì; Và cứ sau bốn chủ đề lại có một bài kiểm tra, nhắc lại những gì
HS vừa học được. Nghĩa là từ chủ đề 1 đến chủ đề 4 là giới thiệu những mẫu
câu đơn giản, hữu dụng trong cuộc sống và học tập của HS, rồi đến một chủ
đề về kiểm tra, ôn tập lại – chủ đề 5, sau đó lại đến chủ đề 6 đến chủ đề 9 là
học các mẫu câu, chủ đề 10 lại ôn tập. Cứ như vậy, toàn bộ quyển 1 có 16 chủ
đề cơ bản về nội dung bài mới với những mẫu câu thông dụng, những cấu trúc
ngữ pháp, những từ mới và hệ thống bảng chữ cái mà HS được học dần qua
từng chủ đề; cùng với 4 chủ để ôn tập kiểm tra là 20 chủ đề, được đưa vào
giảng dạy cho HS với thời lượng dạy học dự kiến là 2 năm. Nội dung mỗi chủ
đề cơ bản thường bao gồm các mục chính là:
+ Đàm thoại: cung cấp các mẫu câu thông dụng trong giao tiếp hằng
ngày bằng cách cho HS nghe băng và lặp lại hoặc luyện đọc theo cặp
+ Ngữ pháp: giải thích cách dùng và ý nghĩa của các yếu tố như cấu
trúc câu, phân loại câu, từ loại, cách dùng từ, cụm từ đặc biệt,
+ Từ ngữ: cung cấp vốn từ, giải nghĩa từ cùng với hình ảnh để minh
hoạ
+ Thực hành: gồm thực hành nói và thực hành viết các mẫu câu, cách