1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LÊ THỤY MỴ CHÂU
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ NỮ Ở CÁC TRƯỜNG
TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN HÓC MÔN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành : Quản lý giáo dục
Mã số : 60.14.01.14
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS THÁI VĂN THÀNH
NGHỆ AN - 2013
2
MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
Giáo dục đào tạo có sứ mạng nâng cao dân trí, phát triển nhân lực, bồi
dưỡng nhân tài đồng thời cũng chính là nhân tố quan trọng hàng đầu tạo ra
những giá trị và hoàn thiện nhân cách con người. Sinh thời Bác Hồ đã từng dạy:
“Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” do đó giáo dục - đào tạo luôn được coi là
“quốc sách hàng đầu”, là sự nghiệp của toàn Đảng và của toàn dân. Đầu tư thỏa
đáng cho giáo dục là một động lực đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu,
vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới và là điều kiện cơ bản đảm bảo cho việc
thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của nước ta, nhất là trong thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Đảng ta luôn khẳng định cách mạng khoa học – kỹ thuật giữ vai trò then
chốt, giáo dục – đào tạo là nền tảng văn hóa dân tộc. Do vậy, Đại hội Đại biểu
toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã xác định một trong ba khâu đột phá của Chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 là: “Phát triển nhanh nguồn nhân lực,
nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và
toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với
vùng ven thành phố (như ở huyện Hóc Môn).
4
Trong những năm qua, Huyện Hóc Môn đã tích cực triển khai nhiều
chương trình, kế hoạch nhằm lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao chất lượng của đội ngũ
cán bộ quản lý nữ ở các trường Trung học cơ sở. Tuy nhiên trước những yêu cầu,
đòi hỏi ngày càng cao của xã hội trong công cuộc đổi mới và bảo vệ đất nước thì
chất lượng của đội ngũ cán bộ quản lý nữ trên địa bàn huyện nói chung và đội
ngũ cán bộ quản lý nữ ở các trường Trung học cơ sở nói riêng vẫn còn nhiều bất
cập về chất lượng, số lượng và điều này đã ảnh hưởng quan trọng đến chất lượng
và hiệu quả đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội. Theo đó, xây dựng đội ngũ cán
bộ quản lý nữ có đủ phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, có trình độ chuyên
môn, nghiệp vụ là vấn đề cốt lõi, mang tính cấp thiết mà địa phương cần tập
trung lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý, nhất là cán
bộ nữ. Từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Một số giải pháp nâng cao chất
lượng cán bộ quản lý nữ ở các trường Trung học cơ sở huyện Hóc Môn,
thành phố Hồ Chí Minh”.
II. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu và làm rõ một số lý luận, đánh giá đúng thực trạng
chất lượng cán bộ quản lý nữ ở các trường Trung học cơ sở huyện Hóc Môn, từ
đó đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý nữ ở các
trường Trung học cơ sở huyện Hóc Môn.
III. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Vấn đề quản lý nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý nữ ở các
trường Trung học cơ sở.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
5
Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý nữ ở các trường
Trung học cơ sở huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh.
IV. Giả thuyết khoa học
6.2.3. Phương pháp chuyên gia: xin ý kiến các chuyên gia (cán bộ quản lý
các trường THCS, lãnh đạo và các tổ bộ môn thuộc Phòng Giáo dục – Đào tạo
huyện) về tính hợp lý và tính khả thi của các giải pháp quản lý được đề xuất tại
luận văn này.
6.3. Phương pháp thống kê toán học: phương pháp này được sử dụng với
mục đích xử lý các kết quả điều tra, phân tích nghiên cứu đồng thời để đánh giá
mức độ tin cậy của phương pháp điều tra.
VII. Những đóng góp mới của luận văn
- Luận văn làm sáng tỏ một số khái niệm về quản lý, quản lý giáo dục,
quản lý nhà trường, người cán bộ quản lý giáo dục, cán bộ quản lý nữ và nữ cán
bộ quản lý giáo dục, yêu cầu phẩm chất năng lực của cán bộ quản lý nữ.
7
- Xây dựng các tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý nữ ở
các trường Trung học cơ sở để từ đó có cơ sở vững chắc cho việc đánh giá thực
trạng.
- Nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ
quản lý nữ ở các trường Trung học cơ sở trong những năm qua.
- Đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý
nữ ở các trường Trung học cơ sở huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh.
VIII. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn
gồm 03 chương
Chương 1. Cơ sở lý luận về chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý nữ ở các
trường Trung học cơ sở
Chương 2. Thực trạng công tác nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản
lý nữ ở các trường Trung học cơ sở huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh.
Chương 3. Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý
nữ ở các trường Trung học cơ sở huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh.
8
Chương 1
1.1.2. Các nghiên cứu trong nước
Trong những năm 1970, có các giáo sư Nguyễn Minh Đức, Hà Thế Ngữ,
Hà Sĩ Hồ,… đã có nhiều công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục, quản lý
trường học phù hợp với thực tiễn tại Việt Nam. Từ những sau năm 1990 cho đến
nay, đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu có giá trị: “Giáo trình khoa học
quản lý” của Phạm Trọng Mạnh (NXB ĐHQG Hà Nội - Năm 2001), “Khoa học
10
tổ chức và quản lý - Một vấn đề lý luận và thực tiễn” của Trung tâm Nghiên cứu
Khoa học tổ chức quản lý (NXB Thống kê Hà Nội năm 1999), “Quản lý giáo
dục và quản lý nhà trường” của tác giả Thái Văn Thành (NXB Đại học Huế -
Năm 2004).
Đi sâu vào nghiên cứu về cán bộ quản lý và chất lượng cán bộ giáo dục
gần đây có các công trình nghiên cứu “cán bộ quản lý giáo dục và đào tạo trước
yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” của cố Thứ
trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo Lê Vũ Hùng đăng trên Tạp chí giáo dục số 60
(tháng 6/2003), “Đánh giá người Hiệu trưởng nhà trường phổ thông theo hướng
chuẩn hóa” của TS Đặng Xuân Hải đăng trên Tạp chí Giáo dục số 119 (tháng
8/2005), “Năng lực của người quản lý giáo dục” của PGS.TS Nguyễn Lộc đăng
trên Tạp chí Giáo dục số 207 (tháng 2/2009), “Hoạt động của các cơ sở đào tạo
bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục ở Việt Nam” của PGS.TS Hà Thế Truyền
đăng trên Tạp chí Giáo dục số 209 (tháng 3/2009), “Bồi dưỡng, phát triển đội
ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục trong thời kỳ hội nhập” của ThS. Thân
Văn Quân đăng trên Tạp chí Giáo dục số 209 (tháng 3/2009), “Một số giải pháp
nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường trung học cơ sở huyện Lang
Chánh, tỉnh Thanh Hóa” của PGS.TS Thái Văn Thành - Hà Thị Tuyết, trường
Đại học Vinh đăng trên Tạp chí Giáo dục số 56 - tháng 12/2011), K.B. Everard,
Geoffrey Morris, Ian Wilson “Quản trị hiệu quả trường học”. Nhà xuất bản Hà
Nội - 2009: với những nội dung đề cập trong công trình nghiên cứu của tác giả
về quản lý con người; quản lý tổ chức; quản lý sự thay đổi, được dự án SREM
(Dự án hỗ trợ đổi mới quản lý giáo dục) do cộng đồng châu Âu tài trợ đã triển
khuyến nghị trong thời gian tới [25].
Như vậy từ trước đến nay đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về
quản lý giáo dục, quản lý nhà trường hết sức công phu, có tính lý luận và thực
tiễn cao, đã đóng góp vào việc nghiên cứu nâng cao chất lượng QLGD. Song vấn
đề nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý nói chung, đội ngũ cán bộ quản lý
nữ nói riêng chưa được đề cập sâu rộng, chưa mang tính toàn diện để có thể ứng
dụng vào điều kiện thực tế ở từng địa phương. Trên địa bàn huyện Hóc Môn,
chưa có đề tài nào đi sâu vào nghiên cứu nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ
quản lý nữ. Chính vì lẽ đó, việc đề ra các giải pháp khoa học để nâng cao chất
lượng đội ngũ cán bộ quản lý nữ ở các trường Trung học cơ sở huyện Hóc Môn,
thành phố Hồ Chí Minh là nội dung nghiên cứu cần được tiếp tục quan tâm.
1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1. Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường
1.2.1.1. Quản lý
Trong xã hội loài người, khi xuất hiện sự phân công lao động thì đồng thời
cũng xuất hiện sự hợp tác lao động, do đó cần có sự điều hành chung chính là
quản lý. Quản lý là một chức năng xuất hiện cùng với sự hình thành và phát triển
xã hội loài người, quản lý là một hoạt động bao trùm lên mọi mặt đời sống xã
hội. Trong tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại và
phát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của cá nhân, của mọi tổ chức, từ một nhóm
nhỏ đến phạm vi rộng lớn hơn ở tầm quốc gia, quốc tế và tất cả đều phải thừa
nhận và chịu sự quản lý nào đó.
13
Trong sự tồn tại và phát triển của quản lý, đặc biệt trong quá trình xây
dựng lý luận quản lý, nhiều nhà nghiên cứu lý luận và thực tiễn, từ nhiều góc độ
và bằng nhiều phương pháp tiếp cận khác nhau nhưng đều thống nhất công tác
quản lý chính là tính tự giác, tính mục đích và sự tác động qua lại trong công tác
quản lý. Quản lý vừa là khoa học vừa là nghệ thuật. Quản lý là hành động đưa
các cá nhân trong tổ chức làm việc cùng nhau để thực hiện, hoàn thành mục tiêu
chung. Do vậy có nhiều cách hiểu khác nhau về quản lý như:
khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức đó
vận hành và đạt được mục đích của mình”.
Mặt khác, quản lý có 4 chức năng cơ bản: Kế hoạch hoá (lập kế hoạch), tổ
chức, chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá. Lập kế hoạch: bao gồm xác định được mục
tiêu của tổ chức, thiết lập chiến lược tổng thể để đạt được mục tiêu đó và phát
triển một hệ thống thứ tự rõ ràng của kế hoạch để gắn kết và đan xen các hoạt
động. Cụ thể là: xác định sứ mệnh chức năng nhiệm vụ; dự báo, đánh giá triển
vọng; xác định mục tiêu (xa và gần); tính toán các nguồn lực, các giải pháp. Tổ
chức (công việc và các nguồn lực): là quá trình sắp xếp và phân bổ công việc,
quyền hành và nguồn lực cho các bộ phận, các thành viên của tổ chức để họ có
thể hoạt động và đạt được mục tiêu của tổ chức một cách có hiệu quả. Các nội
dung của tổ chức gồm: phân tích công việc bằng nhiệm vụ; lựa chọn người vào
việc; phân bố các nguồn lực khác; xây dựng cơ chế làm việc. Chỉ đạo: là quá
15
trình tác động đến các thành viên của tổ chức, làm cho họ gắn kết, nhiệt tình tự
giác và nỗ lực phấn đấu đạt được mục tiêu của tổ chức. Kiểm tra, đánh giá: là
các hoạt động của chủ thể quản lý nhằm tìm ra mặt ưu điểm, mặt hạn chế, qua đó
đánh giá điều chỉnh và xử lý các kết quả của quá trình vận hành trong tổ chức,
làm cho mục tiêu của quản lý được thực hiện đúng hướng và có hiệu quả. Nội
dung chức năng kiểm tra: là xác định tiêu chí (chuẩn mực, đạo đức); sử dụng
phương pháp phù hợp, thu thập thông tin, phân tích thông tin và đánh giá, sử
dụng kết quả đánh giá sao cho có lợi.
Theo đó chức năng quản lý làm nên bản chất quản lý. Nó nâng cao hiệu
quả hoạt động của bộ máy và là nhân tố thúc đẩy sự phát triển của tổ chức. Các
chức năng này của hoạt động quản lý được thực hiện liên tiếp, đan xen vào nhau,
phối hợp và bổ sung cho nhau tạo thành chu trình quản lý. Trong chu trình quản
lý có một yếu tố không thể thiếu được, nó có mặt trong tất cả các giai đoạn, nó
vừa là điều kiện, vừa là phương tiện cho nhà quản lý thực hiện các chức năng
quản lý và ra quyết định quản lý đó là thông tin. Mối liên hệ giữa các chức năng
quản lý được thể hiện thông qua sơ đồ sau:
dục con người nói chung về lý tưởng, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ, đạo đức trong
toàn bộ các quan hệ xã hội. Hồ Chí Minh coi giáo dục là một vũ khí sắc bén,
phải thông qua giáo dục, mở mang dân trí mới lấy lại được tinh thần phấn chấn
của dân tộc.
Từ nhiều cách hiểu khác nhau về giáo dục và xuất phát từ thực tế của nền
giáo dục nước ta hiện nay, có thể hiểu: Giáo dục là quá trình đào tạo con người
một cách có mục đích, theo kế hoạch và chương trình do thực tiễn đòi hỏi nhằm
trang bị cho người học những kỹ năng cần thiết, chuẩn bị cho họ tham gia vào
đời sống xã hội, lao động sản xuất. Giáo dục là hoạt động đặc trưng của xã hội
loài người, được sinh ra cùng với con người và tồn tại song song cùng với quá
trình phát triển xã hội. Giáo dục là một hiện tượng mang tính lịch sử và tính thời
đại. Mục đích của giáo dục là yếu tố tương đối ổn định, nhưng phương pháp
giáo dục và chương trình giáo dục luôn biến đổi theo chế độ chính trị và hoàn
cảnh kinh tế - xã hội. Giáo dục là một thành quả quan trọng của văn hóa dân tộc
[50,tr.183]. Theo tác giả, giáo dục là sự tương quan giữa thầy và trò trong việc
dạy và học. Người thầy phải là người có kiến thức, tư duy sáng tạo, có tâm với
nghề, luôn tìm ra cái mới, cái tích cực hơn trong dạy học. Còn trò là chủ thể của
việc tiếp thu kiến thức, nên đòi hỏi trò phải là người có ý thức chủ động, tích cực
học tập.
18
Quản lý giáo dục là một bộ phận quan trọng của hệ thống quản lý xã hội,
đã xuất hiện từ lâu và tồn tại dưới mọi chế độ xã hội. Với nhiều cách tiếp cận
khác nhau nên có các khái niệm như sau:
- Theo M.I.Koonđacốp:“Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế
hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất
cả mắt xích của hệ thống (Từ bộ đến Trường) nhằm mục đích đảm bảo việc hình
thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật
của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực và tâm lý của trẻ em”.
- Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống tác
động có mục đích, kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ giáo dục)
thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý theo những quy luật khách quan
nhằm đảm bảo sự vận hành của các cơ quan trong hệ thống giáo dục đạt đến hiệu
quả mong muốn. Qua đó, khái niệm quản lý giáo dục có thể hiểu một cách chung
nhất là một quá trình mà trong đó luôn luôn diễn ra những tác động quản lý của
nhà quản lý. Quản lý giáo dục là quản lý một lĩnh vực cụ thể trong đời sống xã
hội.
1.2.1.3. Quản lý nhà trường
Quản lý nhà trường là quản lý vi mô, nó là một hệ thống con của quản lý
vĩ mô: Quản lý giáo dục; quản lý nhà trường có thể hiểu là một chuỗi tác động
20
hợp lý (có mục đích, tự giác, hệ thống, có kế hoạch) mang tính tổ chức – sư
phạm của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên và học sinh, đến những lực lượng
giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm huy động họ cùng cộng tác, phối hợp,
tham gia vào mọi hoạt động của nhà trường nhằm làm cho quá trình này vận
hành tối ưu để đạt được những mục tiêu dự kiến [47]. Vì nhà trường là thực thể
trung tâm của bất kỳ sự biến đổi nào trong hệ thống giáo dục. Nhà trường là đơn
vị cấu trúc cơ bản của hệ thống giáo dục quốc dân, là cơ quan Nhà nước thành
lập nên hoặc cho phép thành lập để chuyên trách việc đào tạo con người theo yêu
cầu của nền kinh tế - xã hội của đất nước theo từng giai đoạn lịch sử.
Quản lý nhà trường là một bộ phận trong quản lý giáo dục và phải vận
dụng tất cả các nguyên lý chung của quản lý giáo dục để đẩy mạnh hoạt động
của nhà trường theo mục tiêu giáo dục đề ra. Tác giả Nguyễn Ngọc Quang đã
đưa ra nội dung khái quát về quản lý nhà trường: “Quản lý trường học là thực
hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là
đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục,
mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh”
[42,tr.19].
- Theo GS.TSKH Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường, quản lý giáo
dục là tổ chức hoạt động dạy học. Có tổ chức được hoạt động dạy học, thực hiện
được các tính chất của nhà trường phổ thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa mới
Kết quả
Nội
dung
Học
sinh
Quản lí
22
Theo đó chúng tôi cho rằng: Quản lý nhà trường là những tác động hợp
quy luật của chủ thể quản lý nhà trường (hiệu trưởng) đến khách thể quản lý
nhà trường (giáo viên, nhân viên và học sinh, ) nhằm đưa các hoạt động giáo
dục và dạy học của nhà trường đạt tới mục tiêu phát triển giáo dục của nhà
trường.
1.2.2. Cán bộ quản lý, cán bộ quản lý nữ
Theo từ điển tiếng Việt, cán bộ quản lý là “người làm công tác có chức vụ
trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người không có chức vụ”
[50,tr.105]. Thuật ngữ cán bộ còn chỉ chung cho những người mang trọng trách,
công vụ và có những quyền hạn nhất định. Cán bộ cũng là danh xưng thường
được những người dân chỉ về những người có quyền hành (cán bộ lãnh đạo, cán
bộ cao cấp, cán bộ quản lý, cán bộ nguồn ) hay đang thụ lý giải quyết một vụ
việc cho người dân (cán bộ thuộc dịch vụ công cộng). Theo đó, CBQL là chủ thể
quản lý, là người có chức vụ trong tổ chức, được cấp trên ra quyết định bổ nhiệm,
là người chỉ huy, giữ vai trò lãnh đạo, dẫn dắt, tác động, ra lệnh, kiểm tra đối
tượng quản lý nhằm thực hiện các mục tiêu của đơn vị; người quản lý vừa là
người lãnh đạo, quản lý của cơ quan, đơn vị, vừa chịu sự chỉ đạo, quản lý của cấp
23
trên. Cán bộ quản lý có thể là cấp trưởng hoặc cấp phó của một tổ chức được cơ
quan cấp trên bổ nhiệm bằng quyết định hành chính nhà nước. Cấp phó giúp việc
cho cấp trưởng, chịu trách nhiệm trước cấp trưởng và chịu trách nhiệm trước
pháp luật về công việc được phân công.
Theo Điều 1, Pháp lệnh Cán bộ công chức sửa đổi năm 2003 quy định cán
ngân sách nhà nước.
2. Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào
ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà
nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ
quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân
chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an
nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy
lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam,
Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công
lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức
trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được
bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp
luật” [44].
25
Ngày 15 tháng 11 năm 2010, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 8 thông qua Luật Viên chức và có hiệu lực thi
hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2012. Theo đó, tại Điều 2 Luật Viên chức quy
định: “Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm
việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương
từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”. Và
Điều 3: “Viên chức quản lý là người được bổ nhiệm giữ chức vụ quản lý có thời
hạn, chịu trách nhiệm điều hành, tổ chức thực hiện một hoặc một số công việc
trong đơn vị sự nghiệp công lập nhưng không phải là công chức và được hưởng
phụ cấp chức vụ quản lý” [46]. Theo đó, sau khi Luật Viên chức ra đời thì khái
niệm Viên chức, Viên chức quản lý được quy định và xác lập địa vị pháp lý của
họ.
Như vậy, từ khái niệm cán bộ, công chức của Pháp lệnh Cán bộ, công
chức đến khái niệm cán bộ, công chức của Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và
Luật Viên chức năm 2010 là một quá trình có tính lịch sử. Do vậy, trong phạm vi
luận văn này, chúng tôi sử dụng khái niệm cán bộ, cán bộ quản lý xin được hiểu