BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN VĂN HIẾU
NGHIÊN CỨU SỰ TÍCH LŨY CÁC KIM LOẠI CADIMI,
CHÌ, ĐỒNG, KẼM TRONG MỘT SỐ LOÀI NHUYỄN
THỂ Ở VÙNG BIỂN CỬA HỘI, TỈNH NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ HÓA HỌC
NGHỆ AN, 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN VĂN HIẾU
NGHIÊN CỨU SỰ TÍCH LŨY CÁC KIM LOẠI CADIMI,
CHÌ, ĐỒNG, KẼM TRONG MỘT SỐ LOÀI NHUYỄN THỂ
Ở VÙNG BIỂN CỬA HỘI, TỈNH NGHỆ AN
Chuyên ngành: Hóa vô cơ
Mã số: 60.44.01.13
LUẬN VĂN THẠC SĨ HÓA HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. PHAN THỊ HỒNG TUYẾT
NGHỆ AN, 2014
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên cho tôi được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cô giáo PGS.TS. Phan
Thị Hồng Tuyết đã tận tình hướng dẫn, đóng góp ý kiến ý quý báu, tạo mọi điều
kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài và viết luận văn.
Tôi xin tỏ lòng biết ơn tới các thầy giáo, cô giáo giảng dạy tại Khoa Hóa
học - Trường Đại học Vinh, đặc biệt là các thầy giáo, cô giáo trong bộ môn Hóa vô
cơ đã cho tôi những kiến thức quý giá, tạo điều kiện cho tôi được rèn luyện, học tập
và nghiên cứu trong môi trường hiện đại.
Tôi xin cảm ơn lãnh đạo Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Nghệ An,
Viện Khoa học và Công nghệ môi trường - Trường Đại học Bách khoa Hà Nội,
cũng như các đồng nghiệp đã hỗ trợ thời gian, công việc, tạo mọi điều kiện thuận
1.2.4. Sự xâm nhập của kim loại nặng vào cơ thể 12
1.2.5. Qui trình tích luỹ kim loại nặng theo dây chuyền thực phẩm [15] 13
1.2.6. Sự tích tụ các nguyên tố Pb, Cd, Zn, Cu trong nhuyễn thể 14
1.2.7. Tình hình ô nhiễm kim loại nặng trên thế giới và Việt Nam [22] 16
1.2.8. Giới hạn ô nhiễm kim loại nặng trong thực phẩm: Cu, Zn, Cd, Pb: [4,5]
20
1.3.1. Nguyên tố đồng [13, 14, 36] 21
1.3.2. Nguyên tố kẽm [13,14,36] 24
d. Tác dụng sinh hóa của cadimi [25] 31
1.4.1. Phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử AAS 36
1.4.2. Phương pháp phổ khối lượng nguyên tử ICP - MS 38
* Một số công trình nghiên cứu xác định kim loại nặng bằng phương pháp ICP-
MS 43
1.5. Các phương pháp xử lý mẫu[18] 44
1.5.1. Nguyên tắc xử lý mẫu 44
Kỹ thuật xử lý ướt: 46
1.5.2. Một số phương pháp xử lý mẫu xác định hàm lượng kim loại nặng trong
nhuyễn thể 48
1.5.3. Một số phương pháp xử lý mẫu đất, trầm tích xác định hàm lượng kim
loại nặng 49
CHƯƠNG 2: THỰC NGHIỆM 51
2.1. Hóa chất, thiết bị và dụng cụ 51
2.1.1. Hóa chất 51
2.1.2. Dụng cụ 51
2.1.3. Thiết bị 51
2.2. Lấy mẫu, xử lý mẫu, bảo quản mẫu 55
2.2.1. Lấy mẫu 55
2.2.1.1. Đối tượng mẫu 55
2.2.1.2. Địa điểm lấy mẫu 57
2.2.2. Xử lý mẫu sơ bộ và bảo quản mẫu 58
nhuyễn thể hai mảnh vỏ vùng ven biển Đà Nẵng (năm 2008) . 14
Bảng 1.3: Hàm lượng chì và cadimi trong một số loài nhuyễn thể ở vùng
biển Đà Nẵng (năm 2007) 15
Bảng 1.4: Hàm lượng đồng và kẽm trong một số loài nhuyễn thể ở vùng
biển Đà Nẵng (năm 2008). 15
Bảng 1.5: Tải lượng chất gây ô nhiễm đổ ra biển Hải Phòng – Quảng Ninh 19
Bảng 1.6: Tải lượng một số chất gây ô nhiễm đổ ra biển của một số hệ
thống sông 19
Bảng 1.7: Lượng ăn vào hàng tuần có thể chấp nhận được tạm thời đối
với kim loại chì và cadimi trong thực phẩm.
21
Bảng 1.8: Giới hạn cho phép của hàm lượng đồng và kẽm trong một số
loại thực phẩm 21
Bảng 1.9: So sánh LOD của các phương pháp phân tích, ppb 39
Bảng 1.10: So sánh các loại phổ nguyên tử với nguồn khác nhau 39
Bảng 2.1: Thành phần dinh dưỡng của ngao vân 56
Bảng 2.2: Thành phần dinh dưỡng của sò huyết 57
Bảng 2.3: Thông tin các loại mẫu được lấy đợt 1 58
Bảng 2.4: Thông tin các loại mẫu được lấy đợt 2 58
Bảng 2.5: Chương trình vô cơ hóa mẫu nhuyễn thể bằng lò vi sóng 60
Bảng 2.6: Chương trình vô cơ hóa mẫu nước bằng lò vi sóng 61
Bảng 2.7: Chương trình vô cơ hóa mẫu bùn (đất) bằng lò vi sóng 62
Bảng 3.1: Hàm lượng tương đối của Pb, Cd, Cu, Zn trong tự nhiên 63
Bảng 3.2: Các thông số tối ưu cho máy đo ICP-MS 65
Bảng 3.3: Đường chuẩn của các nguyên tố đồng, chì và cadimi 69
Bảng 3.4: Kết quả xác định hàm lượng đồng (Cu) trong một số loài
nhuyễn thể ở vùng biển Cửa Hội - Nghệ An 69
Bảng 3.5: Kết quả xác định hàm lượng đồng (Cu) trong môi trường
sống của các loài nhuyễn thể ở vùng biển Cửa Hội - Nghệ An 70
Bảng 3.6: Kết quả xác định hàm lượng kẽm (Zn) trong một số loài 73
tiêu chuẩn 71
Hình 3.7: Biểu đồ hàm lượng Cu trong các mẫu nước biển và giới hạn
tiêu chuẩn 71
Hình 3.8: Biểu đồ hàm lượng Cu trong các mẫu bùn (đất) và giới hạn
tiêu chuẩn 72
Hình 3.9: Biểu đồ hàm lượng Zn trong các mẫu nhuyễn thể và giới hạn tiêu
chuẩn 74
Hình 3.10: Biểu đồ hàm lượng Zn trong các mẫu nước biển và giới hạn tiêu
chuẩn 75
Hình 3.11: Biểu đồ hàm lượng Zn trong các mẫu đất và giới hạn tiêu chuẩn 75
Hình 3.12: Biểu đồ hàm lượng Cd trong các mẫu nhuyễn thể và giới hạn
tiêu chuẩn 77
Hình 3.13: Biểu đồ hàm lượng Cd trong các mẫu nước biển và giới hạn
tiêu chuẩn 78
Hình 3.14: Biểu đồ hàm lượng Cd trong các mẫu bùn (đất) và giới hạn
tiêu chuẩn 78
Hình 3.15: Biểu đồ hàm lượng Pb trong các mẫu nhuyễn thể và giới hạn
tiêu chuẩn 80
Hình 3.16: Biểu đồ hàm lượng Pb trong các mẫu nước biển và giới hạn 81
tiêu chuẩn
Hình 3.17: Biểu đồ hàm lượng Pb trong các mẫu bùn (đất) và giới hạn
tiêu chuẩn 81
DANH MỤC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Tiếng Anh Tiếng Việt
AOAC
Association of Official
Analytical Chemists
Hiệp hội các nhà hóa học
phân tích chính thống
FAO
thiết. Nhu cầu về thực phẩm sạch, đảm bảo sức khỏe đã trở thành nhu cầu thiết yếu,
cấp bách và được toàn xã hội quan tâm. Các loài động vật nhuyễn thể như: trai, ốc,
nghêu, sò, hàu, cũng là một trong những nguồn thực phẩm thiết yếu và được ưa
chuộng ở nước ta. Tuy nhiên trong những năm gần đây một số nghiên cứu đã chỉ ra
rằng các loài động vật này có thể tích tụ một số chất ô nhiễm, đặc biệt là các kim
loại nặng trong cơ thể chúng với hàm lượng cao hơn nhiều lần so với hàm lượng ở
môi trường bên ngoài và được xem là ô nhiễm của khu vực nghiên cứu [27,29,30].
Tùy thuộc vào dạng sống và cơ chế lấy thức ăn của mỗi loài sinh vật mà sự
tích lũy kim loại nặng trong mô của chúng khác nhau. Môi trường biển chứa nhiều
kim loại nặng, một trong số các kim loại nặng được cho là ô nhiễm khi hàm lượng
đủ lớn làm ảnh hưởng đến hệ sinh thái. Các kim loại nặng trong môi trường biển
1
thường tồn lưu trong cơ thể sinh vật biển và có khả năng tích lũy, khuếch đại trong
mô cơ thể chúng. Tính độc hại của các kim loại nặng tồn tại lâu dài, và khuếch đại
trong chuỗi thức ăn, là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức
khỏe của con người.
Việc nghiên cứu các loài không di trú biển, khả năng tích lũy kim loại nặng
theo vị trí địa lý đã được nghiên cứu ở nhiều nước trên thế giới và kết quả được
công bố trong rất nhiều công trình. Ở Việt Nam, vấn đề nghiên cứu về sinh vật điển
hình, như các loài sinh vật tích tụ đang là vấn đề nghiên cứu khá mới mẻ. Một vài
nghiên cứu về sự tích lũy các kim loại nặng được tiến hành trên các loài thực vật
như các loại rau. Các loài động vật như: ngao, sò huyết cũng đã được sử dụng như
những sinh vật tích tụ để nghiên cứu ô nhiễm kim loại nặng trong môi trường đất và
nước. Tuy nhiên, các nghiên cứu này chưa nhiều, đặc biệt là môi trường biển ở Việt
Nam nói chung và Nghệ An nói riêng [19,20,22,24]. Các kim loại nặng như Zn, Cd,
Pb, Cu, As, Hg, … được đánh giá là các nguyên tố độc ở dạng vết và có thể gây ngộ
độc tức thời hoặc ảnh hưởng lâu dài đến sinh vật và con người. Trong đó Cu, Zn là
các nguyên tố vi lượng có lợi, chỉ khi hàm lượng vượt giới hạn cho phép mới gây
độc; Pb và Cd là các kim loại nặng độc hại, chúng được đánh giá là các nguyên tố
độc ở dạng vết và có thể gây ngộ độc tức thời hoặc ảnh hưởng lâu dài đến sinh vật
- Xác định hàm lượng các kim loại nặng Zn, Cu, Cd, Pb trong mô của một số
loài nhuyễn thể phân bố ở vùng biển Cửa Hội - Nghệ An, cụ thể là:
+ Loài Meretrix lusoria (ngao (nghêu) vân)
+ Loài Andara granosa (sò huyết)
- Xác định hàm lượng các kim loại nặng Zn, Cu, Cd, Pb trong môi trường
sinh sống của 2 loài trên: bùn, nước tại địa điểm lấy mẫu của các loại nhuyễn thể
trên.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Nghiên cứu các tài liệu liên quan từ sách
báo, internet để giải quyết vấn đề đặt ra trong luận văn.
3
- Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa: Đối với mẫu sinh vật nhuyễn thể:
thu mẫu trực tiếp bằng vợt, cào, bằng tay hoặc thu mua lại từ các ngư dân; đồng thời
trực tiếp hoặc thuê ngư dân lấy mẫu môi trường sống (đất, nước) của sinh vật
nhuyễn thể.
- Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm
+ Xác định kích thước của mẫu sinh vật nhuyễn thể bằng thước đo thông
thường.
+ Vô cơ hóa mẫu và tiến hành phân tích hàm lượng các kim loại nặng trong
mô mềm của sinh vật nhuyễn thể và mẫu môi trường sống của nhuyễn thể bằng
phương pháp phổ khối nguyên tử ICP-MS.
+ Xử lý số liệu thống kê và vẽ biểu đồ bằng các phần mềm MS Excell ….
6. Giả thuyết khoa học
Từ cơ sở khoa học của những nghiên cứu trên, trong đề tài này tôi nghiên
cứu về mức độ tích lũy kim loại nặng ở loài nhuyễn thể hai mảnh vỏ, cụ thể là loài
Meretrix lusoria và Anadara granosa phân bố ở vùng biển Cửa Hội - Nghệ An.
Trên cơ sở đó đưa ra các nhận xét ban đầu về sự tích luỹ kim loại nặng trên loài
nghiên cứu ở vùng biển Cửa Hội - Nghệ An.
Kết quả của đề tài phản ánh hiện trạng ô nhiễm (nếu có) và qua đó cảnh báo
vấn đề sử dụng các loài sinh vật có khả năng tích lũy kim loại nặng làm thực phẩm
Môi trường biển là thành phần môi trường trong hệ môi trường sinh thái toàn
cầu, mặt khác nó cũng chính là một môi trường hoàn chỉnh. Trong môi trường này
có thành phần của môi trường vật lý như nước, như không khí, khí hậu, đất ven bờ,
đất đá đáy biển, đa dạng sinh học, dòng vật chất, năng lượng. Nó cũng có mối liên
hệ chằng chịt giữa các thành phần của "nội môi trường", sự liên hệ giữa chúng kể cả
nghĩa đen lẫn nghĩa bóng đã tạo nên một cấu trúc hoàn chỉnh. Biển có thể chia
thành 3 loại: Biển cạn, biển sâu và đại dương. [1]
Biển là nơi tiếp nhận phần lớn các chất thải từ lục địa theo các dòng chảy
sông suối, các chất thải từ các hoạt động của con người trên biển như khai thác
khoáng sản, giao thông vận tải biển. Trong nhiều năm, biển sâu còn là nơi đổ các
chất thải độc hại như chất thải phóng xạ của nhiều quốc gia trên thế giới. [1]
Các biểu hiện của sự ô nhiễm biển khá đa dạng, có thể chia ra thành một số
dạng như sau:[11]
• Gia tăng nồng độ của các chất ô nhiễm trong nước biển như dầu, kim loại
nặng, các hoá chất độc hại.
• Gia tăng nồng độ các chất ô nhiễm tích tụ trong trầm tích biển vùng ven bờ.
• Suy thoái các hệ sinh thái biển như hệ sinh thái san hô, hệ sinh thái rừng
ngập mặn, cỏ biển v.v
• Suy giảm trữ lượng các loài sinh vật biển và giảm tính đa dạng sinh học biển.
• Xuất hiện các hiện tượng như thuỷ triều đỏ, tích tụ các chất ô nhiễm trong
các thực phẩm lấy từ biển.
Công ước Luật biển năm 1982 đã chỉ ra 5 nguồn gây ô nhiễm biển: Các hoạt
động trên đất liền, thăm dò và khai thác tài nguyên trên thềm lục địa và đáy đại
dương, thải các chất độc hại ra biển, vận chuyển hàng hoá trên biển và ô nhiễm
không khí.
Các nguồn ô nhiễm từ lục địa theo sông ngòi mang ra biển như dầu và sản
phẩm dầu, nước thải, phân bón nông nghiệp, thuốc trừ sâu, chất thải công nghiệp, rò
rỉ phóng xạ, chất thải phóng xạ và nhiều chất ô nhiễm khác. Hàng năm, các chất thải
6
rắn đổ ra biển trên thế giới khoảng 50 triệu tấn, gồm đất, cát, rác thải, phế liệu xây
quyển trái đất do hiệu ứng nhà kính sẽ kéo theo sự dâng cao mực nước biển và thay
đổi môi trường sinh thái biển.
7
Bên cạnh các nguồn ô nhiễm nhân tạo trên, biển có thể bị ô nhiễm bởi các
quá trình tự nhiên như núi lửa phun, tai biến bão lụt, sự cố rò rỉ dầu tự nhiên v.v
Bảo vệ môi trường biển là một trong những nội dung quan trọng của các chương
trình bảo vệ môi trường của Liên Hợp Quốc và các quốc gia trên thế giới. Công ước
Luật biển năm 1982, Công ước Marpol 73/78 chống ô nhiễm biển, Công ước quốc
tế 1990 về việc sẵn sàng đối phó và hợp tác quốc tế chống ô nhiễm dầu đã thể hiện
sự quan tâm của quốc tế đối với vấn đề ô nhiễm biển.
1.1.3. Vài nét về động vật nhuyễn thể
Ngành thân mềm (hay còn gọi là nhuyễn thể hay thân nhuyễn) là một ngành
trong phân loại sinh học có các đặc điểm như: cơ thể mềm, có thể có vỏ đá vôi che
chở và nâng đỡ, tùy lối sống mà vỏ và cấu tạo cơ thể có thể thay đổi. Ngành thân
mềm có nhiều chủng loại rất đa dạng, phong phú và là nhóm động vật biển lớn nhất,
chiếm 23% tổng số các sinh vật biển được đặt tên. Trong các khu vực nhiệt đới,
bao gồm Việt Nam, ngành này có hơn 90 nghìn loài hiện hữu, trong đó có các loài
như trai, sò, ốc, hến, nghêu, hàu, mực, bạch tuộc. Chúng phân bố ở các môi trường
như biển, sông, suối, ao hồ và nước lợ. Một số sống trên cạn, một số chuyển sang
sống chui rúc, đục ruỗng các vỏ gỗ của tàu thuyền như con hà. Chúng còn có độ đa
dạng cao không chỉ về kích thước mà còn cấu trúc giải phẫu học, bên cạnh sự đa
dạng về ứng xử và môi trường sống. [2, 14]
Y học cổ truyền đã khẳng định các loài nhuyễn thể có vị ngọt, mặn, tính
lạnh. Các món ăn chế biến từ nhuyễn thể có tính thanh nhiệt, trừ thấp, giải độc. tính
chất này dùng để giải độc rượu. Người bị tiểu đường cũng nên ăn nghêu, sò, ốc,
hến. Ăn nhuyễn thể còn giúp bổ gan, bổ thận,…
Theo dược sĩ Bùi Kim Tùng ăn nhuyễn thể còn là giải pháp bổ sung kẽm và
iod. Các loài nhuyễn thể có nhiều iod gấp 200 lần so với trứng và thịt, thịt nhuyễn
thể có thể dùng làm thực phẩm hỗ trợ cho các bệnh tim mạch, bướu cổ, làm loãng
đờm giãi, tăng tính miễn nhiễm, tăng chuyển hóa chất dinh dưỡng và tăng nội tiết
Không giống với các chất ô nhiễm hữu cơ, các kim loại nặng không bị các vi
khuẩn phân hủy mà có khuynh hướng tích lũy trong cơ thể sống và nhiều kim loại
nặng đã được biết đến là độc và có thể gây ung thư.
9
1.2.2. Nguồn gốc xuất hiện các kim loại nặng [22]
a. Trong môi trường đất:
Nguồn gốc xuất hiện các kim loại nặng trong đất chủ yếu là nguồn ô nhiễm
nhân tạo, nguyên nhân chính là do nguồn nước thải bị nhiễm kim loại nặng từ hoạt
động sản xuất công nghiệp (khai khoáng, giao thông, chế biến quặng kim loại, ),
nước thải sinh hoạt, hoạt động sản xuất nông nghiệp (phân bón, hóa chất bảo vệ
thực vật, thuốc trừ sâu diệt cỏ )… chảy qua và ngấm vào môi trường đất. Hiện nay,
ở Việt Nam tình hình ô nhiễm đất bởi kim loại nặng nhìn chung chưa phổ biến. Tuy
nhiên trường hợp cục bộ gần khu công nghiệp, đặc biệt ở những làng nghề tái chế
kim loại, tình trạng ô nhiễm kim loại nặng diễn ra khá trầm trọng.
b. Trong môi trường nước:
Kim loại nặng tồn tại trong môi trường nước từ nhiều nguồn khác nhau như:
nước thải của hoạt động sản xuất công nghiệp (khai khoáng, giao thông, chế biến
quặng kim loại, ), nước thải sinh hoạt, hoạt động sản xuất nông nghiệp (phân bón,
hóa chất bảo vệ thực vật, thuốc trừ sâu diệt cỏ )… Nguồn nước mặt bị ô nhiễm kim
loại nặng sẽ kéo theo ô nhiễm môi trường đất, ô nhiễm nguồn nước ngầm, ô nhiễm
không khí.
c. Trong môi trường không khí:
Kim loại nặng tồn dư trong không khí do các nguồn sau: Công nghiệp luyện
kim, cơ khí thải ra nhiều khói bụi kim loại, khói thải do dùng nhiên liệu hoá thạch,
khói thải của các phương tiện giao thông sử dụng nhiên liệu kém chất lượng có
chứa kim loại nặng, hoá chất độc hại trong quá trình luyện gang, thép, nhiệt luyện
kim loại, khí thải ở các nhà máy luyện kim thường có nhiệt độ cao 300 – 400
0
C nên
dễ dàng được phân tán ra nếu kết hợp được với ống khói cao
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng kim loại nặng có thể gây rối loạn hành vi của
con người do tác động trực tiếp đến chức năng tư duy và thần kinh. Gây độc cho các
cơ quan trong cơ thể như máu, gan, thận, cơ quan sản xuất hoocmon, cơ quan sinh
sản, hệ thần kinh gây rối loạn chức năng sinh hóa trong cơ thể do đó làm tăng khả
năng bị dị ứng, gây biến đổi gen. Các kim loại nặng còn làm tăng độ axit trong máu,
cơ thể sẽ rút canxi từ xương để duy trì pH thích hợp trong máu dẫn đến bệnh loãng
xương. Các nghiên cứu mới đây đã chỉ ra rằng hàm lượng nhỏ các kim loại nặng có
11
thể gây độc hại cho sức khỏe con người nhưng chúng gây hậu quả khác nhau trên
những con người cụ thể khác nhau.
- Đối với thức ăn:
Làm hư hỏng thức ăn, thí dụ chỉ cần cho lượng vết đồng sẽ kích thích quá
trình oxi hoá và tự oxi hoá của dầu mỡ. Làm giảm giá trị dinh dưỡng của thực
phẩm, thí dụ chỉ cần cho lượng vết kim loại nặng cũng đủ để kích thích sự phân huỷ
vitamin C, vitamin B
1
…
Sự nhiễm độc kim loại nặng đã tăng lên nhanh chóng từ những năm 50 của
thế kỷ trước do hậu quả của việc sử dụng ngày càng nhiều các kim loại nặng trong
các ngành sản xuất công nghiệp. Ngày nay sự nhiễm độc mãn tính có thể xuất phát
từ việc dùng chì trong sơn, nước máy, các hóa chất trong quá trình chế biến thực
phẩm, các sản phẩm “chăm sóc con người” (mỹ phẩm, dầu gội đầu, thuốc nhuộm
tóc, thuốc đánh răng, xà phòng,…). Trong xã hội ngày nay, con người không thể
tránh được sự nhiễm các hóa chất độc và các kim loại, vấn đề là bị nhiễm trong hay
vượt giới hạn cho phép mà thôi.
1.2.4. Sự xâm nhập của kim loại nặng vào cơ thể
Kim loại nặng xâm nhập vào cơ thể người qua đường hô hấp, tiêu hóa thức
ăn hay hấp thụ qua da (như Hg) được tích tụ trong các mô theo thời gian sẽ đạt tới
hàm lượng gây độc.
- Hô hấp: Không khí được cơ thể sống hít vào có những chất ô nhiễm không
Động vật
có vú
Chim ăn thịt
4,0
Tôm
0,16
Ốc sên bùn Trai, hến
0,42
Côn trùng
0,23 – 0,3
Mảnh vỡ
hữu sinh
Sinh vật hữu
sinh
0,03
Phiêu sinh
0,04
Thực vật vùng
đầm lầy
Dây chuyền thực phẩm là con đường chuyển năng lượng từ cơ thể sinh vật
này sang cơ thể sinh vật khác. Nếu trong cơ thể sinh vật của một mắt xích trong dây
chuyền thực phẩm nào đó có chất độc thì chất độc này sẽ được chuyển sang sinh vật
khác có bậc dinh dưỡng cao hơn, kế đó trong dây chuyền. Trong dây chuyền thực
phẩm ở hình 1.1, con người là sinh vật có bậc cao nhất trong các bậc dinh dưỡng.
Điều này có nghĩa là con người có khả năng tích luỹ nhiều nhất các chất độc cao
nhất trong dây chuyền thực phẩm.
1.2.6. Sự tích tụ các nguyên tố Pb, Cd, Zn, Cu trong nhuyễn thể
Việc nghiên cứu, kiểm tra hàm lượng kim loại nặng trong nhuyễn thể được
thực hiện ở nhiều quốc gia, với nhiều vùng biển khác nhau đối với một số loài
nhuyễn thể có nguy cơ nhiễm kim loại nặng cao. Sau đây là một số kết quả nghiên
Sò lông (Annadara
Subcrennata - Lischke)
Vẹm xanh (Perna viridis -
Linnd)
35 - 37
55 - 57
45 - 47
43 - 45
1,52 ± 0,21
1,85 ± 0,25
2,12 ± 0,27
1,65 ± 0,23
10,35 ± 0,22
14,72 ± 0,33
16,52 ± 0,38
12,23 ± 0,31
14