Quy hoạch phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học huyện hưng nguyên, tỉnh nghệ an đến năm 2020 - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN XUÂN THỦY
QUY HOẠCH
PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TIỂU HỌC
HUYỆN HƯNG NGUYÊN, TỈNH NGHỆ AN
ĐẾN NĂM 2020
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN - 2014
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN XUÂN THỦY
QUY HOẠCH
PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TIỂU HỌC
HUYỆN HƯNG NGUYÊN, TỈNH NGHỆ AN
ĐẾN NĂM 2020
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Nguyễn Thị Mỹ Trinh
NGHỆ AN - 2014
4
LỜI CẢM ƠN
Đề tài “Quy hoạch phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học huyện Hưng
Nguyên, tỉnh Nghệ An đến năm 2020” được thực hiện trong thời gian không
nhiều, điều kiện không ít khó khăn. Để Đề tài được hoàn thành, tôi xin trân
trọng cảm ơn sâu sắc Hội đồng khoa học, chuyên ngành “Quản lý giáo dục”
trường Đại học Vinh. Các thầy, các cô đã trực tiếp giảng dạy, tham gia quản
lý, tư vấn, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu; đặc biệt cô giáo
PGS.TS. Nguyễn Thị Mỹ Trinh người đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong

GV : Giáo viên
HĐH : Hiện đại hoá
HS : Học sinh
HTCTTH : Hoàn thành chương trình tiểu học
KHCN : Khoa học công nghệ
KT : Kinh tế
KT – XH : Kinh tế - xã hội
PCGDTH : Phổ cập giáo dục tiểu học
PCGDTHCS : Phổ cập giáo dục trung học cơ sở.
QLGD : Quản lý giáo dục
SKKN : Sáng kiến kinh nghiệm
TB : Trung bình
TH : Tiểu học
THCS : Trung học cơ sở
THPT : Trung học phổ thông
TNTH : Tốt nghiệp tiểu học
VH : Văn hoá
XHH : Xã hội hoá
vii
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng số 2.1. Hệ thống trường lớp, học sinh tiểu học huyện Hưng Nguyên 47
Bảng số 2. 2. Thống kê trình độ đào tạo, trình độ chính trị, ngoại ngữ, tin học,
độ tuổi đội ngũ CBQL, GV, NV tiểu học huyện Hưng Nguyên hiện nay 49
Bảng số 2.3. Tỉ lệ xếp loại hạnh kiểm của học sinh Tiểu học qua các năm .53
Bảng số 2.4. Tỉ lệ xếp loại học lực của HSTH huyện Hưng Nguyên qua các
năm 53
Bảng số 2.5. Tỉ lệ lên lớp, lưu ban, bỏ học và hiệu quả đào tạo.
54
Bảng số 3.1. Thống kê dân số, tỉ lệ sinh, dân số độ tuổi, học sinh TH trên địa
bàn huyện Hưng Nguyên 73

đào tạo (GD-ĐT) là quốc sách hàng đầu và là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn
dân, toàn xã hội. Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh, căn cứ vào thực tiễn tình
hình GD-ĐT của đất nước, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI
của Đảng tiếp tục khẳng định và chỉ rõ: “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng
đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn
hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi
mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là
khâu then chốt”. Đây là tư duy mang tầm chiến lược, thể hiện quan điểm toàn
diện, khách quan, khoa học của Đảng Cộng sản Việt Nam. Bởi phát triển đội
ngũ giáo viên vững mạnh, toàn diện, vừa hồng vừa chuyên là yêu cầu cấp
thiết của giáo dục Việt Nam hiện tại. Yêu cầu phát triển đội ngũ giáo viên
được Đại hội Đảng ta chỉ rõ là phải "xây dựng đội ngũ giáo viên đủ về số
lượng, đáp ứng yêu cầu về chất lượng", đây là khâu then chốt trong đổi mới
GD-ĐT.
Để GD-ĐT xứng tầm với vị thế nêu trên, từ Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp
hành Trung ương Đảng (khoá VIII) đề ra Nghị quyết “Định hướng phát triển
giáo dục và đào tạo trong thời kỳ CNH-HĐH, Nghị quyết đã khẳng định: Một
trong 4 giải pháp quan trọng để thực hiện Nghị quyết là “Phải đổi mới công
tác quản lý giáo dục, mà trước hết là tăng cường công tác dự báo và kế hoạch
hoá sự phát triển. Đưa giáo dục vào quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã
hội (KT-XH) của cả nước và của từng địa phương. Có chính sách điều tiết
1
quy mô và cơ cấu đào tạo cho phù hợp với nhu cầu phát triển KT-XH, khắc
phục tình trạng mất cân đối như hiện nay.
Tại Điều 99 (Luật Giáo dục sửa đổi năm 2005) quy định nội dung
quản lý Nhà nước về giáo dục bao gồm “Trước hết là việc xây dựng và chỉ
đạo chiến lược quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển giáo dục”
(Điều luật này được thực hiện từ ngày 01 tháng 6 năm 1999). Điều đó
chứng tỏ việc lập dự báo, quy hoạch, kế hoạch phát triển giáo dục là một
trong những chức năng quản lý quan trọng hàng đầu của các cấp quản lý

động tập thể sư phạm nhà trường. Thầy giỏi mới có trò giỏi, bất kỳ giáo viên
nào cũng có ảnh hưởng đến một tập thể học sinh…Vì thế chất lượng trong
nhà trường cao hay thấp phụ thuộc rất lớn vào đội ngũ giáo viên. Nếu có đội
ngũ giáo viên vững mạnh thì chất lượng giáo dục chắc chắn sẽ đạt hiệu quả
cao. Vì vậy việc quan tâm tới chất lượng đội ngũ giáo viên Tiểu học là rất
cần thiết.
Để góp phần giải quyết từng bước những bất cập và mất cân đối, đồng
thời để nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả GD-ĐT thì quy hoạch phát
triển giáo dục tiểu học nói chung, quy hoạch phát triển đội ngũ giáo viên Tiểu
học nói riêng càng trở nên quan trọng, thiết thực và cấp bách đối với việc phát
triển GD-ĐT và phát triển KT-XH trong thời kỳ CNH-HĐH.
1.2. Về thực tiễn
Hưng Nguyên là huyện thuần nông, vùng chiêm trũng của tỉnh Nghệ
An, điều kiện khó khăn để phát triển công nghiệp và kinh tế nông nghiệp.
Trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân
luôn quán triệt và thấm nhuần quan điểm của Đảng: “Đầu tư cho giáo dục là
3
đầu tư cho phát triển”, Giáo dục phải đi trước. Muốn vậy, trước hết giáo dục
phải được quy hoạch phù hợp với quá trình phát triển KT-XH của huyện.
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển của cả nước, của Tỉnh nói
chung, huyện Hưng Nguyên là một trong những địa phương có nhiều thành
tích nổi bật trong giáo dục - đào tạo. Thành tích đó đã góp phần quan trọng
vào việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo
an ninh - quốc phòng của địa phương. Tuy vậy, bên cạnh những thành tựu ấy,
giáo dục - đào tạo Hưng Nguyên vẫn còn nhiều khó khăn, tồn tại, hạn chế,
chưa đáp ứng được yêu cầu của xã hội, chưa tương xứng với tiềm năng và
truyền thống lịch sử, văn hóa, cách mạng, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển
trong giai đoạn mới.
Cụ thể:
- Đội ngũ giáo viên Tiểu học tuy đủ về số lượng và 100% đạt chuẩn,

đổi mới giáo dục. Đây là những vấn đề mà Lãnh đạo huyện và các nhà quản
lý giáo dục đang hết sức quan tâm. Tuy vậy, trên thực tế, từ trước đến nay
chưa có công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu về quy hoạch phát triển
giáo dục Tiểu học nói chung, quy hoạch phát triển đội ngũ giáo viên Tiểu học
nói riêng một cách quy mô và hệ thống. Vì thế, việc xây dựng quy hoạch và
thực hiện quy hoạch phát triển giáo dục Tiểu học nói chung, quy hoạch phát
triển đội ngũ giáo viên Tiểu học nói riêng trong giai đoạn hiện nay có một ý
nghĩa quan trọng và cần thiết. Từ những lý do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu
đề tài “Quy hoạch phát triển đội ngũ giáo viên Tiểu học huyện Hưng
Nguyên, tỉnh Nghệ An đến năm 2020” cho luận văn Thạc sĩ của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Xây dựng Quy hoạch phát triển đội ngũ giáo viên Tiểu học, góp phần
nâng cao chất lượng giáo dục huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3. 1. Khách thể nghiên cứu
Vấn đề quy hoạch phát triển đội ngũ giáo viên Tiểu học
5
3. 2. Đối tượng nghiên cứu
Xây dựng quy hoạch phát triển đội ngũ giáo viên Tiểu học huyện Hưng
Nguyên, tỉnh Nghệ An.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu bản quy hoạch được xây dựng cùng với các giải pháp thực hiện có
cơ sở khoa học, phù hợp với thực tiễn và có tính khả thi thì sẽ góp phần nâng
cao chất lượng đội ngũ giáo viên Tiểu học huyện Hưng Nguyên.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về vấn đề xây dựng quy hoạch phát triển
đội ngũ giáo viên Tiểu học.
5.2. Nghiên cứu thực trạng xây dựng quy hoạch phát triển đội ngũ
giáo viên tiểu học huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An đoạn từ 2006-2010;
2010-2013.

Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề xây dựng quy hoạch phát triển đội
ngũ giáo viên Tiểu học.
Chương 2: Thực trạng công tác xây dựng quy hoạch phát triển đội ngũ
giáo viên Tiểu học huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An.
Chương 3: Quy hoạch phát triển đội ngũ giáo viên Tiểu học huyện
Hưng Nguyên đến năm 2020.
7
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. SƠ LƯỢC LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Vấn đề dự báo, hoạch định chiến lược, quy hoạch phát triển giáo dục và
đào tạo có một tầm quan trọng đặc biệt, do vậy vấn đề này đã có nhiều nhà
khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu. Những công trình nghiên cứu của
các tác giả đã đề cập trong các hội thảo khoa học khu vực và quốc tế là: "Nền
giáo dục thế kỉ XXI"; "Những triển vọng của châu Á - Thái Bình Dương -
R.Roysngh. Hội thảo khoa học do UNESCO tổ chức năm 1997 về "Tương lai
của giáo dục và giáo dục tương lai". Ở nước ta có đề tài cấp Bộ "Dự báo nhu cầu
cán bộ, chuyên môn Việt Nam đến năm 2000" của viện nghiên cứu Đại học và
Trung học chuyên nghiệp do Đỗ Văn Chấn làm Chủ nhiệm, thực hiện 1984 [10].
Như vậy, từ trước đến nay đã có rất nhiều tác giả trong và ngoài nước
nghiên cứu quy hoạch và những vấn đề lý luận, giúp các nhà quản lý giáo dục
có những tư duy và cách nhìn biện chứng trong việc xác định trạng thái tương
lai của giáo dục - đào tạo. Song ở nước ta, mỗi tỉnh, huyện, khu vực có hoàn
cảnh địa lý và đặc điểm kinh tế - xã hội khác nhau nên việc quy hoạch và vận
dụng các phương pháp quy hoạch vào giáo dục - đào tạo cũng có những tính
đặc thù khác nhau. Trong quá trình thực hiện đề tài này tôi cũng tham khảo 2
luận văn thạc sĩ liên quan làm tài liệu nghiên cứu tham khảo:
“Quy hoạch phát triển Giáo dục Nghệ An đến năm 2020” (Nguyễn Thị
Minh - 2010, sở GD-ĐT Nghệ An).
“Quy hoạch phát triển Giáo dục tiểu học thành phố Thanh Hóa đến năm

Đội ngũ GVTH là một bộ phận rất quan trọng trong một tập thể sư
phạm của trường tiểu học. Đội ngũ giáo viên trong một nhà trường tiểu học là
lực lượng chủ yếu để tổ chức quá trình dạy học - giáo dục trong nhà trường.
Chất lượng dạy học - giáo dục cao hay thấp trong nhà trường tiểu học
phụ thuộc rất lớn vào đội ngũ giáo viên. Một đội ngũ GVTH am hiểu công
việc, tâm huyết với nghề nghiệp có đủ phẩm chất đạo đức, nhân cách và kiến
thức, năng lực sư phạm thì nó đóng góp tích cực vào thành tích chung của
trường.
12.3. Quy hoạch
Trên thế giới, quy hoạch đã được khẳng định là có ý nghĩa quan trọng
trên cả hai bình diện lý luận và thực tiễn. Quy hoạch tạo ra những cơ sở khoa
học cho việc hoạch định các chính sách và xây dựng các chương trình phát
triển KT-XH cụ thể của mỗi quốc gia. Song, tùy theo mục đích quy hoạch và
đặc điểm KT - XH, quan niệm về quy hoạch ở các nước trên thế giới có
những điểm khác nhau:
- Liên Xô và các nước Đông Âu (cũ) quan niệm quy hoạch phát triển
sản xuất là tổng sơ đồ phát triển phân bố lực lượng sản xuất.
- Pháp: Quan niệm về quy hoạch được hiểu là dự báo phát triển và tổ
chức thực tiễn theo lãnh thổ.
- Anh: Quan niệm về quy hoạch là sự phân bố có trật tự, sự tiến hoá có
kiểm soát các đối tượng trong không gian nhất định.
- Trung Quốc: Quan niệm quy hoạch là dự báo kế hoạch phát triển, là
chiến lược để quyết định các hành động nhằm đạt tới mục tiêu, qua đó quyết
định các mục tiêu và biện pháp mới.
- Hàn Quốc: Coi quy hoạch là xây dựng chính sách phát triển với hai
nội dung cơ bản. Là dự báo phát triển và bố trí sắp xếp hợp lý hoạt động của
hệ thống theo thời gian và không gian nhằm đạt được mục tiêu đề ra.
10
- Việt Nam: Theo từ điển Tiếng Việt do Viện ngôn ngữ học xuất bản
năm 1998, định nghĩa: “Quy hoạch là sự bố trí sắp xếp toàn bộ theo một trình

không phải là một cái gì đó có thêm, đặt lên cái cũ mà cái mới là một cấu trúc
mới, cấu trúc mới này sẽ quy định một cơ chế, quy luật hoạt động của sự vật
và hiện tượng. Như thế khi muốn phát triển sự vật, hiện tượng nào đó thì cần
tái cấu trúc lại để tạo nên cơ cấu mới.
Động lực của sự phát triển là sự đấu tranh nhằm giải quyết những mâu
thuẫn giữa các mặt đối lập, nằm ngay trong bản thân sự vật và hiện tượng.
Phát triển có điểm giống với tăng trưởng là cùng hàm chứa ý nghĩa về
sự tăng lên, đi lên. Song phát triển khác với tăng trưởng ở chỗ: Sự tăng trưởng
đơn thuần chỉ mới là sự tăng thêm về số lượng mà chưa hẳn là sự thay đổi về
chất lượng. Muốn có sự phát triển thì trong tăng trưởng phải đảm bảo tính cân
đối, tính hiệu quả và tính mục tiêu. Tăng trưởng trước mắt phải đặt cơ sở cho
tăng trưởng trong tương lai thì sự tăng trưởng đó mới làm nền móng vững
chắc cho phát triển.
1.2.5. Quy hoạch phát triển Giáo dục
Từ quan niệm chung về quy hoạch phát triển KT-XH, ta thấy quy
hoạch phát triển GD-ĐT thuộc quy hoạch phát triển các ngành và là một bộ
phận cấu thành, không thể thiếu của quy hoạch phát triển KT-XH nói chung.
Quy hoạch phát triển ngành GD-ĐT chính là bản luận chứng khoa học
quá trình phát triển của hệ thống giáo dục trong thời kỳ quy hoạch. Trên cơ sở
đánh giá chính xác hiện trạng giáo dục, phân tích được những điểm mạnh,
điểm yếu, những cơ hội, những nguy cơ quy hoạch phát triển GD-ĐT phải
xác định các nguồn lực từ đó đưa ra các quan điểm, mục tiêu, phương hướng,
12
những giải pháp phân bố và phát triển toàn bộ hệ thống GD-ĐT trong đó đặc
biệt chỉ rõ cách thức phát triển đội ngũ cán bộ, giáo viên, xây dựng cơ sở vật
chất, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện phù hợp với khả năng, điều kiện
và xu thế thời đại.
Sự phát triển giáo dục cũng chứa đựng các đặc thù tương tự. Tuy nhiên
theo cách trình bày ở trên thì sự phát triển giáo dục còn là phương tiện, điều
kiện cho phát triển nói chung. Sự phát triển giáo dục còn bao hàm cả ý nghĩa

Điều 27 Luật giáo dục (2005) ghi mục tiêu của giáo dục tiểu học: "Giáo
dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát triển
đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kỹ năng cơ
bản để học sinh tiếp tục học THCS. (Tr17- Luật GD) [34].
Do đó giáo dục Tiểu học có đặc điểm sau: Giáo dục Tiểu học phải đảm
bảo cho học sinh có hiểu biết đơn giản, cần thiết về tự nhiên, xã hội và con
người; có kĩ năng cơ bản về nghe, nói, đọc, viết và tính toán; có thói quen rèn
luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh; có hiểu biết ban đầu về múa hát, âm nhạc,
thẩm mĩ nhằm hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát triển nhân cách con
người Việt Nam XHCN. Chính vì vậy giáo dục Tiểu học là bậc học nền tảng,
có nhiệm vụ giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho việc phát triển
năng lực toàn diện, mỗi đứa trẻ chỉ có thể tiến bộ trong cấp học tiếp theo nếu
đạt kết quả tốt ở bậc Tiểu học.
1.3.2. Những yêu cầu cơ bản và nguyên tắc của quy hoạch
1.3.2.1. Những yêu cầu cơ bản của quy hoạch
14
- Việc xây dựng quy hoạch phải giúp các cơ quan lãnh đạo và nhà quản
lý có căn cứ khoa học để đưa các chủ trương, kế hoạch, giải pháp hữu hiệu để
điều hành quá trình phát triển KT - XH.
- Quy hoạch phải đảm bảo yêu cầu của nền kinh tế, tiến bộ khoa học,
công nghệ và yêu cầu phát triển nhanh, bền vững.
- Quy hoạch là một quá trình động, có trọng điểm trong từng thời kỳ.
Do đó quy hoạch phải đề cập được nhiều phương án, thường xuyên cập nhật,
bổ sung tư liệu cần thiết để có giải pháp kịp thời điều chỉnh cho phù hợp tình
hình thực tế; tìm ra giải pháp giải quyết các mâu thuẫn và tính tới những vấn
đề đã, đang và sẽ nảy sinh nhằm đảm bảo sự phát triển hài hòa của hệ thống
tự nhiên, kinh tế, xã hội (TN - KT - XH)
- Quy hoạch là kết quả của quá trình nghiên cứu đề xuất và lựa chọn
các giải pháp khác nhau cho các nhiệm vụ khác nhau.
- Phải tiến hành thường xuyên, điều chỉnh nhiều lần, cập nhật kịp thời.

a) Mục đích
Quy hoạch phát triển GDTH ở địa phương nhằm tạo cơ sở khoa học để
giúp các nhà quản lý giáo dục hoạch định chủ trương, chính sách, kế hoạch
phát triển cho từng giai đoạn; từng bước tạo thế chủ động trong điều hành hệ
thống giáo dục, tránh sự lúng túng, bị động, đồng thời góp phần phát triển
kinh tế - xã hội của địa phương, thực hiện chiến lược đi tắt, đón đầu.
b) Yêu cầu
Quy hoạch phát triển GDTH ở địa phương phải được xây dựng trên cơ
sở Cương lĩnh, đường lối, chiến lược phát triển KT-XH của Quốc gia và
đường lối, chiến lược, định hướng phát triển GD-ĐT của Đảng và Nhà nước.
Đó là phải bám sát "Định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong
16
thời kỳ CNH-HĐH đất nước" được đề cập trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ
hai Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII).
Quy hoạch phát triển GDTH ở địa phương là một bộ phận không thể
thiếu của quy hoạch KT - XH, chính vì thế, một mặt nó phải tuân theo các
nguyên tắc cơ bản chung của quy hoạch, một mặt khác nó trở thành cơ sở cho
các bộ phận khác của quy hoạch kinh tế - xã hội. Điều đó có nghĩa là, nó phải
gắn với quy hoạch dân cư, quy hoạch lao động, quy hoạch vùng kinh tế; Nó
phải kết hợp hài hòa giữa ngành và lãnh thổ; phải đảm bảo sự tương thích với
quy hoạch các ngành khác, lấy các ngành khác làm cơ sở và đồng thời là cơ
sở để quy hoạch các ngành khác.
Quy hoạch phát triển GDTH ở địa phương phải được xây dựng sao cho
các hệ thống con của hệ thống GDTH được phát triển cân đối, đồng bộ với
nhau, hỗ trợ và thúc đẩy nhau cùng phát triển, tạo cho hệ thống GDTH phát
triển bền vững.
c) Cấu trúc của bản quy hoạch phát triển GDTH ở địa phương
Một bản quy hoạch phát triển GDTH ở địa phương gồm các phần
chính:
- Đặc điểm tự nhiên, KT-XH tác động đến phát triển giáo dục


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status