BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
CỤT THỊ NGUYỆT
NHỮNG BIẾN ĐỔI VỀ ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA ĐỒNG BÀO
DÂN TỘC KHƠ MÚ Ở MIỀN TÂY NGHỆ AN TRONG QUÁ TRÌNH
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA HIÊN NAY
Chuyên ngành: CHÍNH TRỊ HỌC
Mã số: 60.14.10
LUẬN VĂN THẶC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. NGUYỄN LƯƠNG BẰNGNghệ An, 2014
1
LỜI CẢM ƠN
Tác giả rất vinh dự là một trong số học viên đầu tiên được học, nghiên
cứu về chuyên ngành Chính trị học thuộc chương trình đào tạo sau Đại học -
khóa XX của Trường Đại học Vinh. Xin trân trọng cảm ơn các đồng chí lãnh
đạo huyện ủy, UBND, các phòng, ban ngành liên quan của các huyện Kỳ Sơn,
Tương Dương, Quế Phong, Ủy ban dân tộc (UBDT) Chính Phủ, Ban Dân tộc
tỉnh Nghệ An đã nhiệt tình giúp đỡ, cung cấp thông tin tài liệu, tạo điều kiện và
hỗ trợ về mặt thực tiễn, đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho việc nghiên cứu và
hoàn thiện đề tài.
Tác giả xin chân thành cảm ơn: phòng Đào tạo sau Đại học, Hội đồng
khoa học, các giảng viên của trường Đại học Vinh đã tận tình, chu đáo giảng
dạy, giúp đỡ và hướng dẫn trong quá trình học tập và nghiên cứu. Tác giả xin
bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Lương Bằng,
người đã luôn quan tâm, theo dõi, động viên để tác giả có đủ sự tự tin vượt
qua những khó khăn. Đồng thời tận tâm bồi dưỡng kiến thức, năng lực tư duy,
UBDT : Ủy ban dân tộc
VHXH : Văn hóa xã hội
A. MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
(bổ sung, phát triển năm 2011), đã xác định: “Thực hiện chính sách bình
đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện
để các dân tộc cùng phát triển, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của
cộng đồng dân tộc Việt Nam. Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, ngôn ngữ,
truyền thống tốt đẹp của các dân tộc. Chống tư tưởng kỳ thị và chia rẽ dân
tộc. Các chính sách kinh tế - xã hội phải phù hợp với đặc thù của các vùng và
các dân tộc nhất là dân tộc thiểu số”. Trong Hội nghị đại biểu các dân tộc
thiểu số Việt Nam, Hồ Chí Minh đã nêu lên những chủ trương cụ thể, thiết
thực đối với đồng bào miền núi, Người nói: Anh em thiểu số chúng ta sẽ
được:
1. Dân tộc bình đẳng: Chính phủ sẽ bãi bỏ hết những điều hủ tệ cũ, bao
nhiêu bất bình trước sẽ sửa chữa đi.
4
2. Chính phủ sẽ gắng sức giúp cho các dân tộc thiểu số về mọi mặt:
a) Về kinh tế, sẽ mở mang nông nghiệp cho các dân tộc được hưởng.
b) Về văn hóa, Chính phủ sẽ chú ý trình độ học thức cho dân tộc.
Miền Tây tỉnh Nghệ An với tổng diện tích tự nhiên 13.747,69 km
2
,
chiếm 83,36% diện tích toàn tỉnh; có 11 đơn vị hành chính cấp huyện và 217
đơn vị hành chính cấp xã, trong đó có 195 xã miền núi, 27 xã biên giới với
419 km đường biên với nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào, có 01 cửa
khẩu quốc tế (Nậm Cắn, huyện Kỳ Sơn), 01 cửa khẩu quốc gia (Thanh Thuỷ,
huyện Thanh Chương) và 03 cửa khẩu phụ (Tam Hợp, huyện Tương Dương;
Thông Thụ, huyện Quế Phong và Cao Vều, huyện Anh Sơn). Dân số toàn
sách dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam”, Ban Tư tưởng Văn hóa Trung
ương, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, cuốn sách đã đề cập một số vấn
đề chung về dân tộc, quan hệ dân tộc trên thế giới và tình hình đặc điểm chủ
yếu, mối quan hệ giữa các dân tộc ở Việt Nam, cùng những chính sách dân
tộc của Đảng và Nhà nước ta; “Truyền thống văn hóa các dân tộc Việt Nam”
của GS.Vũ Ngọc Khánh, Nxb. Thanh Niên, 2004, tác giả đã khái quát một số
tri thức về đất nước, con người, văn hóa, phong tục, lễ hội… của các dân tộc
ít người ở nước ta; “Công bằng và bình đẳng xã hội trong quan hệ dân tộc ở
các quốc gia đa dân tộc”, PGS.TS. Nguyễn Quốc Phẩm (chủ biên), Nxb Lý
luận Chính trị, Hà Nội, 2006, trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh về công bằng, bình đẳng xã hội, từ góc độ dân tộc
và giai cấp các tác giả công trình đã đề xuất một số kiến nghị thực hiện công
bằng, bình đẳng xã hội trong các dân tộc, trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở
các vùng dân tộc thiểu số và miền núi nước ta; “Những vấn đề cơ bản về
chính sách dân tộc ở nước ta hiện nay”, PGS.TSKH. Phan Xuân Sơn - ThS.
Lưu Văn Quảng (chủ biên), Nxb. Lý luận Chính trị, Hà Nội, 2006, cuốn sách
đã giúp cho chúng ta nắm được những nội dung cơ bản về dân tộc, chính sách
dân tộc của Đảng và Nhà nước ta qua các giai đoạn cách mạng và những vấn
đề đang đặt ra cho việc thực hiện chính sách dân tộc, cùng những quan điểm,
nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện tốt chính sách dân tộc hiện nay;
6
“Bảo đảm bình đẳng và tăng cường hợp tác giữa các dân tộc trong phát triển
kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay”, GS.TS. Hoàng Chí Bảo (chủ biên), Nxb.
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, cuốn sách đề cập vấn đề bức xúc về dân tộc
trong quá trình đổi mới ở nước ta hiện nay, như vấn đề bình đẳng, công bằng
và hợp tác giữa các dân tộc, cùng thực trạng, mục tiêu hướng tới việc thực
hiện các chính sách dân tộc ở nước ta; đồng thời cuốn sách nêu lên những
quan điểm, phương hướng và giải pháp nhằm bảo đảm công bằng, bình đẳng
và tăng cường hợp tác giữa các dân tộc trong quá trình phát triển kinh tế - xã
hội tại vùng đa dân tộc ở nước ta hiện nay; “Một số điểm nóng chính trị - xã
sự phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Tạp chí Đại học Sài
Gòn, số 4. 2010, tr.16-22, đã phân tích và đề xuất các giải pháp về đào tạo
nguồn nhân lực và vấn đề đoàn kết các dân tộc tạo ra động lực của sự phát
triển xã hội.
Khi đề cập đến tình hình nghiên cứu đề tài, không thể không quan tâm đến
các công trình như: Dân tộc Khơ mú ở Việt Nam, Khổng Diễn (chủ biên) (1999),
Nxb. Văn hóa dân tộc. Hoàng Xuân Lương (chủ biên, 2005), Người Kưm mụ
ở Nghệ An, Nxb Nghệ An. Nguyễn Đình Lộc (2009), Các dân tộc thiểu số ở
Nghệ An, Nxb Nghệ An và Đặc trưng văn hóa và truyền thông cách mạng
các dân tộc ở Kỳ Sơn, Nghệ An. Huyện ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân
dân huyện Kỳ Sơn (1995), Nxb. Chính trị Quốc gia.
Quyết định số: 2355/2013/QĐ-TTg ngày 04 tháng 12 năm 2013 của
Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án "phát triển kinh tế - xã hội
Miền Tây nghệ An đến năm 2020" đã nghiên cứu toàn diện các lĩnh vực, các
dân tộc ở miền Tây Nghệ An. Cho đến nay có nhiều bài viết, đề tài, sách xuất
bản liên quan đến nhiều khía cạnh, góc độ và lát cắt khác nhau về vấn đề dân
tộc ít người. Nhưng cho đến nay chưa có công trình chuyên biệt nào nghiên
cứu, tìm hiểu một cách toàn diện và hệ thống “Những biến đổi về đời sống
tinh thần của đồng bào dân tộc Khơ Mú ở miền Tây Nghệ An trong quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay”. Vì thế, chúng tôi chọn vấn đề này để
làm đề tài luận văn thạc sĩ.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
8
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là nhằm góp phần làm sáng tỏ thêm
những vấn đề lý luận về đời sống tinh thần xã hội và thực trạng biến đổi đời
sống tinh thần của đồng bào dân tộc Khơ Mú ở miền Tây Nghệ An dưới tác
động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay; từ đó đề xuất
những phương hướng, giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao đời sống tinh thần
của đồng bào dân tộc Khơ Mú ở miền Tây Nghệ An.
phỏng vấn v.v để nghiên cứu, trình bày đề tài.
Nội dung đề tài liên quan rất nhiều đến các lĩnh vực, phương diện khác
nhau của đời sống tinh thần nên ngoài các phương pháp nghiên cứu cơ bản,
để nghiên cứu đề tài tác giả đã trực tiếp đi thực tế các sự kiện, lễ hội, để tìm
hiểu trực tiếp, từ đó tổng kết, khái quát những vấn đề mang tính lý luận về đời
sống tinh thần của đồng bào dân tộc Khơ Mú ở miền Tây Nghệ An.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Về ý nghĩa lý luận, đề tài góp phần làm phong phú, sâu sắc thêm lý luận
về biện chứng giữa quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa với việc không
ngừng cải thiện, nâng cao đời sống tinh thần của các cộng đồng dân tộc ít
người; về vấn đề đồng bào dân tộc Khơ Mú ở miền Tây Nghệ An.
Đây là những vấn đề lý luận vừa mang tính thời sự, vừa mang tính
chiến lược và cốt lõi, mấu chốt phản ánh bản chất nhân văn của quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn ở nước ta hiện nay.
Lý luận về đời sống tinh thần của đồng bào dân tộc là chìa khóa góp
phần khai thông, tháo gỡ những ách tắc, cản trở và bất bình trong các cá nhân,
gia đình ở một số cộng đồng dân tộc dân tộc Khơ Mú ở miền Tây Nghệ An
trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến các vùng nông thôn, rừng
núi, vùng sâu và vùng xa của Nghệ An. Nơi giữ vị trí chiến lược quan trọng
cả về kinh tế và địa - chính trị của khu vực biên giới của đất nước ta.
Về ý nghĩa thực tiễn, đề tài nghiên cứu bức tranh toàn cảnh về những
biến đổi của đời sống tinh thần trong đồng bào dân tộc Khơ Mú ở miền Tây
Nghệ An từ đó đề xuất phương hướng, giải pháp góp phần cải thiện, nâng
10
cao đời sống tinh thần trong đồng bào dân tộc Khơ Mú ở miền Tây Nghệ An
trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Đề tài sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác tuyên giáo, dân vận
và dân tộc; có thể làm cơ sở cho tỉnh Đảng bộ Nghệ An đề các quyết sách về
vấn đề dân tộc Khơ Mú trong bối cảnh hiện nay.
7. Kết cấu đề tài
quan, dựa trên cơ sở thực tiễn lịch sử - xã hội.
- Khái niệm đời sống:
Khi đề cập đến khái niệm đời sống tức là nói đến hoạt động của sinh
vật. Theo nghĩa rộng khái niệm đời sống được hiểu là toàn bộ nói chung
những hiện tượng diễn ra ở cơ thể sinh vật trong suốt khoảng thời gian sống.
Hay toàn bộ nói chung những điều kiện sinh hoạt của con người, của xã hội.
Theo nghĩa hẹp đời sống được hiểu là “toàn bộ nói chung những hoạt động
trong một lĩnh vực nào đó của con người, của xã hội” [54, tr.7].
Có thể nói tất cả mọi hoạt động liên quan đến con người đều mang trong
đó gọi là đời sống vì suy cho cùng thì mọi hoạt động chỉ có thể là hoạt động
vật chất hoặc là hoạt động tinh thần. Theo đó, chúng ta có thể phân khái
niệm đời sống gồm hai lĩnh vực: đời sống vật chất và đời sống tinh thần.
Tuy nhiên, sự phân chia này chỉ mang tính tương đối. Bởi vì chúng tồn tại
đan xen lẫn nhau, hoà quyện nhau, đời sống vật chất là sự vật chất hoá các
giá trị tinh thần và các giá trị đời sống tinh thần không phải là nó chỉ tồn tại
dưới dạng tinh thần thuần tuý mà nó được vật thể hoá dưới dạng vật chất.
Khái niệm đời sống của con người liên quan chặt chẽ với khái niệm văn
hóa theo nghĩa rộng nhất, văn hóa là toàn bộ giá trị vật chất và giá trị tinh
12
thần do con người sáng tạo ra bằng lao động của mình, để từ đó phân ra văn
hóa vật chất và văn hóa tinh thần. Tuy nhiên, sự phân biệt giữa văn hóa vật
chất và văn hóa tinh thần chỉ có ý nghĩa tương đối bởi không có giá trị vật
chất nào không bao hàm trong nó các giá trị tinh thần, cũng như không có
giá trị tinh thần nào tồn tại ngoài những hình thức vật chất của nó.
- Khái niệm đời sống tinh thần
Đời sống tinh thần là nói đến tất cả nội dung và cách thức hoạt động trên
lĩnh vực tinh thần của con người và xã hội trong điều kiện kinh tế - xã hội
nhất định, bao gồm cả hoạt động sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn hóa vì
sự phát triển của con người và cộng đồng. Chất lượng của đời sống tinh thần
xã hội được thể hiện ở trình độ của đời sống văn hóa tinh thần. Đời sống tinh
chất nhân cách của con người, mặt khác nêu lên được những hình thức tồn
tại của văn hóa tinh thần, cho nên nó là nền tảng của đời sống tinh thần của
xã hội.
Việc phân chia văn hóa thành văn hóa vật chất (đời sống vật chất) và
văn hóa tinh thần (đời sống tinh thần) trong thực tế cũng chỉ mang tính
tương đối. Bởi vì có những công trình kiến trúc, những món ăn, trang
phục… không chỉ được tạo ra nhằm thõa mãn nhu cầu vật chất của con
người, mà nó còn chứa đựng những giá trị tinh thần trong đó và nó trở
thành biểu tượng văn hóa cho một quốc gia dân tộc.
Khi xác định vấn đề cơ bản của triết học, Ph.Ăngghen viết: “Vấn đề cơ
bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa
tư duy với tồn tại” [25,tr.403] hay còn gọi là mối quan hệ giữa vật chất và ý
thức, ở đây tinh thần được dùng đồng nghĩa với khái niệm tư duy - sản phẩm
cao nhất của một dạng vật chất đặc biệt là bộ não người, phản ánh tích cực thế
giới khách quan trong các khái niệm, phán đoán, suy luận… là hình ảnh chủ
quan của thế giới khách quan.
Các nhà triết học duy vật siêu hình coi tinh thần là cái có tính thứ hai
so với giới tự nhiên. Chủ nghĩa duy vật biện chứng bác bỏ quan niệm coi
tinh thần là cái gì đó tồn tại độc lập với vật chất. Tinh thần là sản phẩm của
vật chất, có nguồn gốc từ vật chất. Đời sống tinh thần của xã hội phản ánh
14
đời sống vật chất của xã hội và có tác động tích cực trở lại đối với đời sống
vật chất của xã hội. Từ điển triết học định nghĩa:“Văn hóa tinh thần là toàn
bộ những hình thức của đời sống tinh thần của xã hội” [53,tr.973]. Theo
định nghĩa này thì nội hàm và ngoại diên của khái niệm đời sống tinh thần
đồng nhất với nội hàm và ngoại diên của khái niệm văn hóa tinh thần. Đây
là định nghĩa theo nghĩa rộng nhất.
1.1.2. Các phương diện chủ yếu của đời sống tinh thần
Trước hết, về hoạt động tư tưởng
Hệ tư tưởng là trình độ phát triển cao của tư tưởng, đó là tư tưởng được
hình tượng nghệ thuật, là sự sáng tạo ra những sản phẩm vật thể hoặc phi vật
thể chứa đựng những giá trị lớn về tư tưởng, thẩm mỹ mang tính chất văn
hóa làm rung động cảm xúc, tư tưởng, tình cảm cho người thưởng thức.
Nghệ thuật bao giờ cũng hướng đến cái đẹp, nó không chỉ có chức năng đơn
thuần là giải trí mà còn bồi dưỡng cho con người về trí tuệ, đạo đức, tâm
hồn, lối sống và phát huy sự sáng tạo của con người. Đây là lĩnh vực hoạt
động có tính chất đặc trưng, mang tính thẩm mỹ cao nhất trong các hoạt
động sáng tạo giá trị tinh thần, có tính giáo dục, cảm hóa mạnh mẽ đối với
con người. Nghệ thuật là một trong những hình thức hoạt động cơ bản trong
đời sống tinh thần của con người. Nghệ thuật không chỉ thu hút sự chú ý của
một số người mà thường có tính phổ biến thu hút và tác động đến nhiều
người trong xã hội. Văn học nghệ thuật trau dồi vốn sống hiện thực muôn
màu muôn vẻ, sinh động và hấp dẫn, mang tính giáo dục và tính thẩm mỹ,
giàu cảm xúc và ước mơ. Thông qua hoạt động nghệ thuật con người đến với
nó không chỉ để thỏa mãn những sở thích cá nhân, mà còn đi tìm những
niềm vui giải tỏa những mệt mỏi sau thời gian lao động căng thẳng.
Lĩnh vực hoạt động văn hóa nghệ thuật bao gồm nhiều loại hình khác
nhau như văn học, mỹ thuật, nhiếp ảnh, âm nhạc, sân khấu điện ảnh. Chúng
lấy chất liệu từ cuộc sống, hay nói cách khác là quá trình phản ánh cuộc
sống phong phú, sôi động trên mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã
hội. Đánh giá vai trò của nghệ thuật trong đời sống tinh thần của con người,
Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Không hình thái tư tưởng nào có thể
16
thay thế được văn hóa, nghệ thuật trong việc xây dựng tình cảm lành mạnh,
tác động sâu sắc vào việc đổi mới nếp nghĩ, nếp sống của con người”
[13,tr.129-130].
Thứ ba, về lĩnh vực hoạt động giáo dục
Giáo dục là một hiện tượng xã hội, ra đời, tồn tại và phát triển cùng với
sự phát triển của xã hội loài người, là yếu tố vĩnh hằng, phục vụ cho phát
triển của xã hội. Giáo dục là quá trình đào tạo con người có mục đích nhằm
hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã
mang hình thức những lực lượng siêu trần thế” [26,tr.473]. Về mặt nhân sinh
quan, tín ngưỡng tôn giáo tin vào các lực lượng siêu nhiên, vô hình mang
tính thiêng liêng, được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một
cách hư ảo, nhằm lý giải những vấn đề ở trên trần thế cũng như ở thế giới
bên kia, thể hiện khát vọng của con người vươn tới cái thiện, tình thương, lẽ
phải và sự công bằng trong các quan hệ xã hội của con người, chi phối mạnh
mẽ đến lẽ sống, đạo đức của hàng triệu người theo đạo; có quan hệ đến
nhiều lĩnh vực khác của đời sống tinh thần mà trước hết là lĩnh vực chính trị,
tư tưởng. Và do vậy tôn giáo tín ngưỡng góp phần cùng xã hội tạo ra các giá
trị văn hóa.
Thứ năm, hoạt động giao lưu trao đổi văn hóa
Là hoạt động của các chủ thể xã hội giới thiệu, truyền bá trao đổi văn
hóa, sản phẩm văn hóa tinh thần của mình đến với xã hội trong và ngoài nước,
đồng thời học hỏi, tiếp biến các sản phẩm văn hóa tinh thần của các chủ thể xã
hội khác.
Giao lưu là tất yếu, một khâu quan trọng của hoạt động đời sống tinh
thần trong điều kiện quốc tế hóa. Hoạt động giao lưu trao đổi văn hóa xuất
phát từ nhu cầu phát triển văn hóa mỗi quốc gia dân tộc, nhằm học hỏi, làm
phong phú lẫn nhau giữa các nền văn hóa. Nếu không có hoạt động giao lưu
trao đổi văn hóa thì rất có thể cả xã hội và nền văn hóa của mỗi quốc gia dân
tộc sẽ rơi vào tình trạng trì trệ, suy thoái. Nhưng cũng không thể nhân danh
giao lưu trao đổi văn hóa để tiếp nhận vô điều kiện các yếu tố ngoại sinh bỏ
qua các giá trị nội sinh, sẽ dẫn đến nguy cơ bị đồng hóa. Giao lưu trao đổi văn
18
hóa phải vừa tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại vừa biết giữ gì và phát
huy những giá trị, bản sắc của văn hóa dân tộc. Văn kiện Đại hội VIII của
Đảng khẳng định “đi vào kinh tế thị trường, mở rộng giao lưu quốc tế, công
nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại,
song phải luôn coi trọng những giá trị truyền thống và bản sắc văn hóa dân
hành động, cá nhân có thể vi phạm lợi ích với cá nhân, lợi ích xã hội. Bất cứ
xã hội nào cũng có những nguyên tắc để điều chỉnh hành vi của cá nhân, để
hành động thực hiện lợi ích của cá nhân nằm trong khuôn khổ lợi ích xã hội.
Đạo đức điều chỉnh hành vi của con người thông qua lương tâm và dư luận xã
hội. Hành vi ấy của con người được định hướng qua niềm tin đạo đức của chủ
thể về những nguyên tắc sống, những quan niệm về thiện ác, hạnh phúc, nghĩa
vụ, lương tâm, danh dự. Đạo đức mang tính lịch sử. Đạo đức được điều chỉnh
cùng với sự phát triển của xã hội theo những tiêu chuẩn, nguyên tắc, được dư
luận xã hội thừa nhận có phù hợp hay không phù hợp với tiến bộ lịch sử và hạnh
phúc của nhân dân. Điều 2 luật Giáo dục viết “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con
người Việt Nam phát triển toàn diện có đạo đức tri thức, sức khỏe thẩm mỹ và
nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình
thành và bồi dưỡng nhân cách phẩm chất và năng lực công dân, đáp ứng yêu
cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
Lối sống: là phương thức hoạt động sống của con người. Đó là những
cách thức, phương pháp, hình thức của hoạt động sống tương đối ổn định của
cá nhân và cộng đồng trong sản xuất, sinh hoạt và giao tiếp. Lối sống của cá
nhân, cộng đồng thể hiện rõ nét đặc trưng văn hóa của cộng đồng, có vai trò
quan trong trong điều chỉnh nhận thức và hành động của con người, từ sản
xuất vật chất đến hoạt động chính trị - xã hội, hoạt động tinh thần và trong
sinh hoạt, giao tiếp. Lối sống góp phần vào việc lựa chọn nhu cầu, lợi ích,
hình thành động cơ, mục đích cho hoạt động của con người. Do vậy, lối sống
là một thành tố của hoạt động con người với tư cách là một thiết chế tự định
hướng, điều chỉnh hoạt động và thể hiện mặt văn hóa trong hoạt động của con
người.
20
Phong tục, tập quán: Phong tục, tập quán có vai trò quan trọng trong
việc hình thành bản sắc, truyền thống của một dân tộc, một địa phương, chi
phối thái độ ứng xử của cá nhân và cộng đồng, góp phần tạo nên sự thống
nhất, ổn định cho cộng đồng. Phong tục tập quán phản ánh tồn tại xã hội,
Tóm lại: Đời sống tinh thần là tổng hòa sống động các hoạt động tinh
thần của con người, chủ yếu trên các lĩnh vực: tư tưởng, đạo đức, lối sống,
phong tục, tập quán, khoa học, nghệ thuật, giáo dục, lễ hội, tín ngưỡng, tôn
giáo, thông tin đại chúng…Từ những hoạt động đó, các giá trị tinh thần được
tạo ra, thấm sâu vào từng người, từng cộng đồng, đáp ứng nhu cầu tinh thần
ngày càng cao của mọi thành viên trong xã hội.
1.2. Biện chứng của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa với
việc nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân
1.2.1. Vai trò của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa với việc nâng
cao đời sống tinh thần của nhân dân
Khái niệm Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) thuộc lĩnh vực kinh tế của
đời sống xã hội. Văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội, phát triển văn hóa
nhằm mục đích nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân. CNH, HĐH là con
đường tất yếu phải tiến hành đối với bất cứ nước nào, nhất là những nước có
xuất phát điểm từ nền nông nghiệp kém phát triển muốn xây dựng nền kinh tế
phát triển hiện đại. Hiện nay ở nhiều nước, nhất là nước đang phát triển, phát
triển CNH, HĐH được coi là vấn đề tất yếu có ý nghĩa chiến lược lâu dài. Đối
với Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) từ một quốc gia lạc hậu, hơn
80% dân số sống ở nông thôn với một cơ cấu kinh tế độc canh thuần nông,
năng suất lao động thấp, nhu cầu việc làm rất bức bách.
Biện chứng giữa quá trình CNH, HĐH với việc nâng cao đời sống tinh
thần của nhân dân là mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế và phát
triển văn hóa xã hội (VH - XH).
Quá trình CNH, HĐH thúc đẩy sự phát triển kinh tế, tạo điều kiện và tiện
nghi vật chất, nâng cao chất lượng cuộc sống, thỏa mãn ngày càng tốt hơn
nhu cầu đời sống tinh thần của nhân dân.
22
Quá trình CNH, HĐH có tác dụng cải tạo tâm lý, tập quán, lối sống cũ, lạc
hậu của cộng đồng, hình thành ý thức, phong cách, lối sống phù hợp với xã
canh tác được tiến hành một cách tự phát mà không được hướng dẫn một cách
có ý thức…thì sẽ để lại đằng sau nó đất hoang” [30,tr.80], KH - KT và công
nghệ - sản phẩm của năng lực sáng tạo của con người là một nguồn lực quan
trọng trong sự phát triển và hiện đại hóa nền kinh tế. Xã hội hiện đại đang
phát triển đến một nền kinh tế mà yếu tố quyết định của sự cạnh tranh là sự
gia tăng hàm lượng chất xám, hàm lượng tri thức kết tinh ở sản phẩm hàng
hóa. Đó là nền kinh tế tri thức. Do vậy, GD - ĐT để tạo ra nguồn nhân lực có
chất lượng cao không còn là yếu tố phi sản xuất, tách rời sản xuất mà trở
thành một yếu tố bên trong, động lực cho quá trình hiện đại hóa nền sản xuất
xã hội.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Đảng ta luôn khẳng định vị trí, vai
trò của đời sống tinh thần trong cách mạng giải phóng dân tộc cũng như trong
cách mạng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Thế kỷ XXI, KH - CN có những bước
tiến nhảy vọt. Nền kinh tế tri thức và xã hội thông tin ngày càng có vai trò
quan trọng trong quá trình phát triển. Xu hướng toàn cầu hóa với những mặt
tích cực và tiêu cực đan xen đang cuốn hút ngày càng nhiều quốc gia trên thế
giới. Trong bối cảnh đó, tầm quan trọng của nhân tố văn hóa lại càng được
khẳng định. Tiếp theo các quan điểm của Đại hội VII, VIII, Đại hội IX của
Đảng nhấn mạnh: “ Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, thể hiện tầm cao
và chiều sâu về trình độ phát triển của dân tộc, vừa là mục tiêu, vừa là động
lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội”.
+ Văn hóa là nền tảng tinh thần của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa
Một quốc gia giàu tài nguyên nhưng chưa hẳn là một nước giàu nếu
không có công cụ và chiến lược khai thác, chế biến, kỹ năng quản lý của con
người. Nguồn vốn cũng rất quan trọng, song việc huy động, sử dụng nguồn
vốn để có hiệu quả đòi hỏi con người phải có trình độ và kỹ năng nhất định.
Thiếu nền tảng văn hóa thể hiện ở thiếu tri thức, kinh nghiệm, trình độ KH -
CN, trình độ quản lý và khai thác thì các nguồn lực tự nhiên và nguồn vốn
24
25