Tiểu luận Tìm hiểu về các tôn giáo nội sinh trong đời sống tinh thần của đồng bào Nam bộ - Pdf 26

1
PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Nam bộ là vùng đất có nhiều dân tộc, tôn giáo khác nhau cùng sinh
sống, trong đó có tôn giáo du nhập từ nước ngoài và cả tôn giáo nội sinh.
Trong lịch sử Nam bộ, các tôn giáo nội sinh đã có những đóng góp tích cực
vào cuộc kháng chiến chống thực dân xâm lược, tập hợp quần chúng nhân dân
khai khẩn đất hoang, lập ấp, lập làng, phát triển đất nước.
Các tôn giáo nội sinh đã hòa nhập và gắn kết chặt chẽ với dân tộc,
góp phần cấu thành nên bản sắc văn hóa dân tộc và tinh thần yêu nước mang
tính đặc thù riêng của dân tộc Nam bộ. Tuy nhiên, vẫn có nhiều cá nhân lợi
dụng việc lập tôn giáo để thực hiện hoạt động chính trị, gây phương hại đến
nền độc lập, dân tộc của đất nước.
Ngày nay, các tôn giáo nội sinh vẫn còn giữ vai trò quan trọng trong
đời sống tinh thần của đồng bào Nam bộ. Tôn giáo vẫn còn ảnh hưởng rất lớn
đối với người dân nơi đây. Chính vì vậy, các thế lực thù dịch luôn tìm mọi các
lợi dụng tôn giáo để chống phá nhà nước ta. Trong đó, các tôn giáo nội sinh ở
Nam bộ là mục tiêu mà các thế lực muốn lợi dụng.
Do đó, việc vạch ra đường lối, chủ trương đúng đắn để các tôn giáo
phát triển đúng hướng, phù hợp với quy luật khách quan, tránh bị lôi kéo bởi
các thế lực thù địch luôn là vấn đề được Đảng và nhà nước ta quan tâm.
Với mong muốn khái quát lại quá trình hình thành của các tôn giáo
được sinh ra ngay trên mãnh đất Nam bộ đầu thế kỷ 19 và những giá trị, vai
trò của các tôn giáo nội sinh này trong đời sống tinh thần của nhân dân, người
viết đã chọn đề tài “Tìm hiểu về các tôn giáo nội sinh trong đời sống tinh
thần của đồng bào Nam bộ”.
2. Tình hình nghiên cứu
Vấn đề tôn giáo là vấn đề nhạy cảm và phức tạp vì thế luôn được các
nhà khoa học xã hội quan tâm nghiên cứu. Vấn đề tôn giáo nội sinh ở Nam
bộ cũng vậy, cũng đã được nhiều tác giả nghiên cứu, đề cập dưới nhiều góc

những cơ sở lý luận để từ đó hoạch định ra chính sách quản lý phù hợp; tiểu
luận còn góp phần cung cấp tư liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến vấn
đề tôn giáo nội sinh ở Nam bộ.
6. Bố cục
Tiểu luận được trình bày thành 03 chương:
Chương 1: Sự ra đời của các tôn giáo nội sinh ở Nam Bộ
Chương 2: Các tôn giáo nội sinh ở Nam Bộ
Chương 3: Vai trò của các tôn giáo nội sinh trong đời sống tinh thần
đồng bào Nam Bộ
Tiểu luận được thực hiện dưới sự giúp đỡ tận tình của giáo viên hướng
dẫn cùng với sự nỗ lực của bản thân. Tuy nhiên, ở một chừng mực nhất định,
3
sự thiếu sót là điều không thể tránh khỏi. Rất mong nhận được sự đóng góp
nhiệt tình của quý thầy cô, các nhà nghiên cứu có quan tâm để tiểu luận được
hoàn thiện hơn.
4
CHƯƠNG 1: SỰ RA ĐỜI CỦA CÁC TÔN GIÁO NỘI SINH Ở NAM BỘ
1.1 Sơ lược về Nam Bộ
1.1.1 Về mặt chính trị
Vùng đất Nam Bộ là vùng đất mới so với lịch sử lâu đời của đất nước
Việt Nam. Cách đây mấy thế kỷ, nơi đây là một vùng đất hoang vu, thiên
nhiên khắc nghiệt, môi sinh đa dạng. Về sau, do thiên nhiên ngày càng phong
phú, đa dạng và thuận lợi hơn nên đã thu hút được nhiều dân tộc đến đây khai
phá và định cư lâu dài.
Thời Nhà Nguyễn, vùng đất Nam Bộ được chia thành các trấn trực
thuộc phủ Gia Định, đến thời vua Minh Mệnh chia Nam Bộ thành 6 tỉnh trực
thuộc trung ương (lục tỉnh Nam Kỳ)
Để khuyến khích dân cư về đây khai hoang lập ấp, Nhà Nguyễn đã có
những chính sách khuyến khích phát triển kinh tế và xã hội. Bên cạnh đó Nhà
Nguyễn còn cũng cố chính trị, quốc phòng và đào các con kênh để phát triển

Nam Kỳ mà còn ảnh hưởng trên phạm vi cả nước. Tuy diễn ra trong một thời
gian ngắn, nhưng đây là một cuộc khởi nghĩa rộng lớn và mạnh nhất kể từ khi
Pháp xâm lược nước ta. Trong cơn bão táp cách mạng, lần đầu tiên lá cờ đỏ
sao vàng- biểu tượng của tinh thần đoàn kết và lòng quyết tâm giải phóng dân
tộc của toàn dân Việt Nam, đã được giương cao ở nhiều vùng thuộc Mỹ Tho,
Vĩnh Long, Gia Định, Bạc Liêu
02/9/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh độc bản tuyên ngôn độc lập, khai sinh
ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Độc lập chưa được bao lâu, nhân dân ta
lại phải chống lại cuộc xâm lược lần thứ hai của Pháp, mở màn bằng việc
Pháp đánh chiếm Nam Bộ. Để giữ gìn nền độc lập còn non trẻ, bảo vệ sự
thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, nhân dân cả nước ta, trong đó có nhân dân
Nam Bộ, lại một lần nữa đứng lên “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”.
Ngày 30/4/1975 Việt Nam hoàn toàn thống nhất đất nước, Miền đất
Nam Bộ một lần nữa được giải phóng.
Từ 1975 - 1978 chiến tranh biên giới Tây Nam, của bọn Pol Pot (khơ
me đỏ) đã gây đẩm máu vùng đất trời nam này. Tại những vùng chiếm đóng,
Khmer Đỏ đã thực hiện sách lược diệt chủng đối với người Việt Nam. Quân
đội Việt Nam đã chống trả quyết liệt và đã kìm chân bước tiến, đồng thời tiêu
hao sinh lực của quân Khmer. Các hướng tiến quân của Khmer Đỏ bị chặn lại
và không thể phát triển được.
1.1.2 Về mặt văn hóa xã hội
Dân cư chủ yếu của Nam Bộ là dân nhập cư đến đây để lập nghiệp.
Hầu hết những người di cư đến “lập nghiệp” trên vùng đất Nam bộ chủ yếu là
từ các miền ngoài vào. Họ là những người nông dân bần cùng lưu tán có óc
mạo hiểm muốn thoát khỏi cảnh đói nghèo, sưu cao thuế nặng của địa chủ
phong kiến đặt ra, tránh khỏi chiến tranh liên miên Trịnh Nguyễn đã kéo nhau
6
vào đây mưu sống; hoặc một số người có tiền mộ dân nghèo đi khẩn đất, hoặc
là lớp người tội đồ đi tránh sự trừng phạt của vua quan đã trốn tránh lặn lội
vào đây ẩn nấu, hoặc là những người lính cứng đầu bị đẩy vào đây để trấn

những nhân vật hiển linh “cứu đời”. Do đó, mà nơi đây phù hợp cho sự hình
thành và phát triển của tôn giáo.
7
Thứ hai, những biến động về mặt xã hội khiến cho cư dân Nam bộ bị bế
tắt và tìm cách giải thoát.
Cư dân ở đất Nam bộ chủ yếu là người dân từ nươi khác nhập cư đến,
đứng trước cái thiên nhiên xa lạ ấy, con người không trách khỏi những e dè,
sợ hãi. Thêm vào đó, vùng đất này chịu sự xâm lược đô hộ của thực dân Pháp
sau đó tới Mỹ gần 1,5 thế kỷ. Chính sự áp bức, bốc lột của bọn thực dân và sự
nhu nhược yếu hèn của Triều đình phong kiến khiến cho người dân bị bế tắt,
họ không còn tin tưởng vào Triều đình, vào sự quản lý của nhà nước.
Mặc khác, phần lớn ruộng đất nằm trong tay các địa chủ, người nông
dân (tá điền) không có đất và phải làm thuê cho các địa chủ, chịu nhiều áp
bức, nạn xâm lược, thuế khóa, thiên tai…. Tất cả đã khiến người dân tìm đến
tôn giáo để xoa dịu, để an ủi và để tìm quên.
Thứ ba, các sĩ phu yêu nước lẫn tránh sự truy bắt của bọn thực dân
phong kiến.
Chứng kiến cảnh thực dân đô hộ, xâm lược bờ cõi, áp bức đồng bào,
nhân dân làm than cơ cực. Nhiều phong trào yêu nước đã diễn ra sôi nỗi
nhưng đều thất bại. Trước tình cảnh đó, nhiều nhà yêu nước đã dựa vào tôn
giáo để lẫn tránh sự
8
CHƯƠNG 2: CÁC TÔN GIÁO NỘI SINH Ở NAM BỘ
2.1 Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương
2.1.1 Người sáng lập
Đoàn Minh Huyên còn gọi là Đoàn Văn Huyên (sinh ngày 14 tháng 11
năm 1807, mất 10 tháng 9 năm 1856) đạo hiệu: Giác Linh quê ở Tòng Sơn,
Cái Tàu thượng, tổng An Thạnh thượng, tỉnh Sa Đéc (nay thuộc tỉnh Đồng
Tháp).
Năm 1849, ở Nam Kỳ, xảy ra vụ mất mùa và đại dịch (kéo dài đến

treo trước tường chính điện. Trên bàn thờ bày hoa, nước lã, nhang, đèn, không
có chuông, mõ. Theo quan niệm của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương thì tấm Trần
Điều thể hiện tấm lòng từ bi, bác ái, đoàn kết, yêu mến đồng bào, nhân loại.
Ngoài ra, tín đồ còn lập bàn thờ tại gia đình bàn thờ gia tiên có thờ Trần Điều,
ngoài sân có bàn thờ Thông Thiên. Cúng lạy 2 lần trong ngày (sáng sớm và
chiều tối), cúng lạy gia tiên trước, cúng Tam bảo và sau cùng là cúng lạy tại
bàn thờ Thông Thiên.
Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương trong quá trình hình thành và phát triển, tín đồ
của đạo luôn có truyền thống yêu nước, gắn bó với dân tộc đóng góp nhiều
công lao trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Hiện nay, theo thống
kê của Ban Tôn giáo - Sở Nội vụ các tỉnh, thành phố đạo Bửu Sơn Kỳ Hương
có khoảng 15.000 tín đồ sinh sống tập trung ở các tỉnh: An Giang, Đồng
Tháp, Bà Rịa- Vũng Tàu, Long An, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Tiền Giang và
Bến Tre.
2.1.3 Cơ sở hoạt động
Do đặc điểm không có chức sắc, không hình thành tổ chức Giáo hội
nên đạo Bửu Sơn Kỳ Hương phát triển theo phương pháp truyền thừa, truyền
giảng giáo lý của Thày tổ cho các đệ tử thân tín, hết lớp trước truyền lại cho
lớp sau, tùy thuộc vào khả năng truyền giảng và uy tín của các ông Đạo. Vì
vậy, đạo Bửu Sơn Kỳ Hương chỉ có chức việc quản tự tại các chùa, không
phân chia đơn vị tín đồ làm cơ sở của đạo.
Chùa Bửu Sơn Kỳ Hương là tổ chức độc lập, là nơi thờ tự chung của
cộng đồng cư sĩ, tín đồ sinh hoạt lễ nghi tôn giáo ở mỗi địa phương do ông
Đoàn Minh Huyên hoặc đệ tử của ông dựng lên. Chùa còn là đầu mối điều
hành, tổ chức và quản lý mọi hoạt động nghi lễ tôn giáo.
2.1.4 Các ngày lễ trong năm
Cũng như các Phật giáo, Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương lấy các ngày Rằm
tháng giêng; Lễ Phật đản; Lễ Vu Lan (Rằm tháng bảy); Rằm tháng mười, tết
Đoan Ngọ (5/5 âm lịch ) và lễ giỗ Phật Thầy Tây Ân (12/8 ÂL) là những ngày
lễ lớn trong năm. Vào những ngày này, người tín đồ ăn chay, không sát sanh,

hoang lập thôn, ấp, xây dựng chùa, miếu để truyền đạo. Năm 1876 lập thôn
An Định tại núi Tượng, 1882 lập thôn An Hòa giữa núi Dài và núi Tượng,
1883 lập thôn An Thành. Đây chính là cơ sở hậu phương vững mạnh để ông
chuẩn bị thời cơ nổi dậy đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược.
Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa lấy tôn chỉ học Phật tu nhân làm gốc. Học phật
là học những điều Phật dạy, thành tâm phụng thờ và trì niệm Phật để cầu
được giảm “tội, nghiệp”, được cứu độ và giải thoát. Tu nhân là tự rèn sửa
11
mình trở thành người có đạo đức, có hiếu nghĩa và đền đáp tứ ân (ân tổ tiên,
ân đất nước, ân tam bảo, ân đồng bào và nhân loại).
Đạo có chức sắc gọi là giáo phẩm gồm ông Trò và ông Gánh (các đại
đệ tử của Ngô Lợi gọi là ông Trò, rồi đệ tử của các ông Trò gọi là ông Gánh).
Trong đạo chia làm 24 Gánh nội thôn và 15 Gánh ngoại thôn, chỉ có ông
Gánh mới có quyền thu nhận giáo dân (tín đồ).
Sau khi ông Ngô Lợi viên tịch tại núi Tượng (1890), đạo Tứ Ân Hiếu
Nghĩa không có người kế vị, các mối đạo đều giao cho ông Trò, ông Gánh
phụ trách. Không lâu sau, một số ông Gánh rời vùng Thất Sơn đi các nơi khác
truyền đạo. Vì vậy, đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa hình thành hai hệ thống: Một hệ
thống được duy trì ở các làng được coi là thánh địa của đạo Tứ Ân Hiếu
Nghĩa như: An Định, An Hoà, An Thành, An Lập thuộc vùng Thất Sơn - An
Giang. Tín đồ ở các làng này được gọi là tín đồ nội thôn. Hệ thống thứ hai là
tín đồ ở những nơi mà các ông Gánh đi truyền đạo như Kiên Giang, Bến Tre,
Đồng Tháp, Tiền Giang, Cần Thơ, Bà Rịa - Vũng Tàu hệ thống này được
gọi là ngoại thôn.
2.2.3 Cơ sở hoạt động
Cơ sở hoạt động của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa là hệ thống các chùa, đình,
miếu, Tam Bửu gia và bàn thờ tại gia đình. Chùa Tứ Ân Hiếu Nghĩa khác với
chùa Phật giáo, vì đây không phải là nơi tu hành của những người cắt ái ly gia
mà là nơi thờ cúng các đối tượng tôn giáo và thực hiện các lễ nghi của đạo Tứ
Ân Hiếu Nghĩa. Chùa Tứ Ân Hiếu Nghĩa còn là nơi để chữa bệnh cho tín đồ

Rước Chư Thiên (ngày Tất niên).
Ở đình, mỗi năm có hai lễ vào dịp tết Nguyên đán là lễ Dựng nêu rước Chư
thiên và Hạ nêu, nghi thức cúng lễ như ở chùa, và hai lễ lớn đó là lễ Kỳ Yên
và Lạp miếu (hay Chạp đình). Lịch lễ Kỳ Yên ấn định tuần tự trong tháng
Giêng, liền nhau tại bốn làng: An Định ngày 19-20, An Hòa ngày 21-22, An
Thành ngày 23-24, An Lập ngày 25-26. Lễ Lạp miếu diễn ra trong tháng 11
Âm lịch cũng theo tuần tự như trên mỗi làng (mỗi làng 2 ngày từ mồng 9 đến
16). Nghi thức Kỳ yên, Lạp miếu cơ bản giống nhau với các bước cúng lễ:
Thỉnh Sắc, Cúng Tiên, Khai Kinh, Lục Cúng, Ngọ Khuya. Trong khi cúng
người ta cũng đọc sớ điệp và kinh Tứ Ân Hiếu Nghĩa như ở chùa.
2.3 Đạo Hòa Hảo
2.3.1 Người sáng lập
Người sáng lập đạo Phật Giáo Hòa Hảo (gọi tắc là Hòa Hảo) là ông
Huỳnh Phú Sổ. Ông sinh ngày 15 tháng 0 1 năm 1920 nhằm ngày 25 tháng 11
năm Kỷ Mùi tại làng Hoà Hảo, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc, (nay thuộc
huyện Phú Tân, tỉnh An Giang). Cha là Huỳnh Công Bộ.
Thuở nhỏ Huỳnh Phú Sổ rất thông minh, học hết bằng sơ học yếu lược Pháp -
Việt nhưng hay bị đau ốm nên đành bỏ dở việc học.
13
Huỳnh Phú Sổ tự nhận mình là bậc "sinh như tri", biết được quá khứ
nhìn thấu tương lai, được thọ mệnh cùng với Phật A-di-đà và Phật Thích-ca
Mâu-ni, xuống hạ giới có nhiệm vụ truyền bá cho dân chúng tư tưởng Bửu
Sơn Kỳ Hương để "Chấn hưng Phật giáo, cứu độ chúng sinh khỏi sông mê,
biển khổ và đưa tới chốn Tây phương cực lạc". Ông chữa bệnh cho người dân
bằng các bài thuốc đã học trong lúc đi chữa bệnh, đồng thời qua đó ông
truyền dạy giáo lý bằng những bài sám giảng (còn gọi là sấm giảng) do ông
soạn thảo. Vì vậy chỉ trong vòng 2 năm từ 1937 đến 1939 số người tin theo
ông đã khá đông và ông trở nên nổi tiếng khắp vùng.
Ngày 18 tháng 5 năm Kỷ Mão (tức 4 tháng 7 năm 1939), Huỳnh Phú sổ
bắt đầu khai đạo, khi ông chưa tròn 20 tuổi. Nơi tổ chức lễ khai đạo chính là

hành lễ "đền linh Khứu Sơn trung thọ mạng" khai đạo, lấy tên là Hòa Hảo, đó
vừa là tên quê hương ông vừa có ý nghĩa là "hiếu hòa" và "giao hảo". Từ đó
Huỳnh Phú Sổ đi chữa bệnh, tiên tri, thuyết pháp và sáng tác thơ văn, kệ
giảng. Văn chương của ông bình dân nên dễ đi vào lòng người. Chỉ trong một
thời gian ngắn số tín đồ và ảnh hưởng của Huỳnh Phú Sổ càng ngày càng gia
tăng và trở thành một phong trào tín ngưỡng mạnh mẽ khiến Thực dân Pháp
lo ngại.
Đạo Phật giáo Hoà Hảo được khai sáng trên nền tảng đạo Bửu Sơn Kỳ
Hương của ông Đoàn Minh Huyên và lấy pháp tu Tịnh độ tông làm căn bản tu
hành. Đạo Phật giáo Hoà Hảo với giáo pháp là học Phật, tu Nhân, tại gia cư
sĩ, thực hiện Tứ ân: Ân tổ tiên cha mẹ, Ân đất nước, Ân Tam bảo, Ân đồng
bào nhân loại.
Là một tôn giáo cách tân, có xu hướng nhập thế, đạo rất coi trọng hoạt
động từ thiện xã hội. Vì vậy, trong Hiến chương của Giáo hội Phật giáo Hoà
Hảo đã xác định đường hướng hành đạo là "vì Đạo pháp, vì Dân tộc". Tôn chỉ
hành đạo là học Phật, tu Nhân, tại gia cư sĩ, giáo huấn tín đồ về Tứ ân; thực
hiện 8 điều răn cấm, cứu giúp người nguy khó, tương trợ trong quan, hôn,
tang, tế và hoạt động từ thiện hữu ích cho xã hội.
Theo thống kê của Vụ Các tôn giáo khác - Ban Tôn giáo Chính phủ,
hiện nay Phật giáo Hoà Hảo có gần 1,3 triệu tín đồ. Về tổ chức, Giáo hội Phật
giáo Hoà Hảo có tổ chức 2 cấp: cấp toàn đạo có tên gọi là Ban Trị sự Trung
ương Phật giáo Hoà Hảo; cấp cơ sở xã, phường, thị trấn là Ban Trị sự Phật
giáo Hoà Hảo cơ sở.
Năm 1999, Nhà nước Việt Nam chính thức công nhận tôn giáo Hòa
Hảo. Từ đó đến nay đã trải qua ba kỳ đại hội (nhiệm kỳ là 5 năm): Đại hội lần
I: năm 1999, Đại hội lần II: năm 2004, Đại hội lần III: năm 2009 và xây dựng
được Hiến chương của Giáo hội.
Ngoài ra, để phổ truyền giáo lý của đạo, Ban Trị sự Trung ương Phật giáo
Hoà Hảo đã mở nhiều lớp đào tạo giáo lý viên cho những người làm nhiệm vụ
15

2.4.1 Quá trình hình thành và phát triển đạo
Phong trào Thông linh học của phương Tây phát triển nhanh tại Nam
bộ, tạo thành phong trào cầu cơ, chấp bút gọi tắt là “cơ bút”. Trong các đàn cơ
này, có hai nhóm chính hình thành đạo Cao đài. Nhóm thứ nhất do ông Ngô
Minh Chiêu cầu cơ tại các đền, chùa thuộc các nhóm Ngũ chi Minh đạo.
16
Nhóm thứ hai gồm ba ông: Cao Quỳnh Cư, Cao Hoài Sang, Phạm Công Tắc
tổ chức xây bàn cầu cơ nhằm mục đích giải trí.
Đến ngày 12/2/1926, trong một bài cơ Đức Thượng đế đã phán dạy hai
nhóm cơ bút thống nhất hình thành đạo Cao đài. Ông Ngô Minh Chiêu được
Thiên phong phẩm vị Giáo tông đầu tiên của đạo Cao đài.
Ngày 7/10/1926, 28 người đại diện cho 247 tín đồ đã thống nhất ký tên
vào Tờ khai đạo gửi chính quyền Pháp. Giữa tháng 11/1926, những chức sắc
Thiên phong đầu tiên của đạo Cao đài tổ chức lễ khai đạo tại chùa Gò Kén,
Tây Ninh, chính thức cho ra mắt Đại đạo Tam kỳ Phổ độ, gọi tắt là đạo Cao
đài.
Tôn chỉ của đạo Cao đài là "Tam giáo quy nguyên, Ng̣ũ chi hiệp nhất",
lấy sự thương yêu làm nền tảng, lấy nhân nghĩa làm phương châm hành đạo,
lấy việc phụng sự chúng sinh làm hành động, lấy sự cứu rỗi các chơn linh làm
cứu cánh, phấn đấu xây dựng một xã hội đạo đức, an lạc bằng tinh thần
thương yêu đồng đạo. Giáo lý của đạo Cao đài đề cao tính thiêng liêng, sự
huyền diệu của cơ bút. Luật lệ của đạo Cao đài thực hiện theo Tân luật, Pháp
Chánh truyền. Lễ nghi của đạo Cao đài khá cầu kì thể hiện tinh thần Tam giáo
đồng nguyên. Đạo Cao đài thờ Thiên nhãn, có nghĩa là “mắt trời”, biểu tượng
Đức Chí Tôn của đạo Cao đài.
Sau ngày khai đạo, những chức sắc lãnh đạo giáo hội Cao đài tiến hành
xây dựng Toà thánh, phát triển các thánh thất, điện thờ, xây dựng giáo lý, giáo
luật, lễ nghi và tổ chức Giáo hội. Trong 2 năm 1926 - 1927, thông qua cơ bút
đạo Cao đài đã tập trung xây dựng xong hai văn bản quan trọng qui định luật
lệ, lễ nghi và tổ chức Giáo hội là Pháp Chánh truyền và Tân luật. Vì vậy, đến

Hiện nay, đạo Cao đài có 09 Hội thánh có tổ chức giáo hội gồm: Cao
đài Tây Ninh, Cao đài Ban Chỉnh đạo, Cao đài Tiên Thiên, Cao đài Minh
Chơn đạo, Truyền giáo Cao đài, Cao đài Cầu Kho Tam Quan, Cao đài Chơn
lý, Cao đài Chiếu Minh Long Châu, Cao đài Bạch y.
Ngoài ra, đạo Cao đài còn có tổ chức Pháp môn Cao đài Chiếu Minh
Tam Thanh Vô Vi là pháp môn tu hành của đạo Cao đài theo “Nội giáo tâm
truyền” không có chức sắc, không lập giáo hội, chỉ chuyên tu tâm, luyện tánh
theo truyền dạy của ông Ngô Minh Chiêu (được công nhận năm 2010). Giáo
hội Cao đài Việt Nam (Bình Đức) cũng là một phái Cao đài có tổ chức giáo
hội 02 cấp nhưng mới được cấp đăng ký hoạt động tôn giáo năm 2009.
Đến nay đạo Cao đài có trên 1 vạn chức sắc, gần 3 vạn chức việc,
khoảng 2,4 triệu tín đồ, với 958 tổ chức Họ đạo cơ sở được công nhận ở 35/38
tỉnh, thành phố có đạo Cao đài, thành lập 65 Ban Đại diện, 1.290 cơ sở thờ tự.
2.4.3 Các ngày lễ lớn trong năm
Người tín đồ đạo Cao Đài bên cạnh việc đến phải đến thánh thất nơi cư
trú 2 lần một tháng. Hàng năm, người tín đồ còn chuẩn bị chu đáo trong 03
ngày lễ lớn đó là ngày vía Đức Chí Tôn vào mùng tám tháng giêng âm lịch và
18
lễ hội Diêu Trì Thánh Mẫu vào đêm rằm tháng tám âm lịch và lễ Khai đạo
rằm tháng mười.
2.5 Đạo Dừa (Đạo Vừa)
2.5.1 Quá trình hình thành và phát triển đạo
Người sáng lập Đạo Dừa là ông Nguyễn Thành Nam, sinh năm 1909 tại
xã Phước Thịnh, tổng An Hòa, huyện Trúc Giang, tỉnh Kiến Hòa (nay là
huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre), mất năm 1990.
Cha tên Nguyễn Thành Trúc, làm chánh tổng từ năm 1940 đến năm
1944 và mẹ là bà Lê Thi Sen.
Năm 1928, ông sang Pháp du học tại Rouen.
Năm 1935, ông tốt nghiệp kỹ sư hóa học và về nước và cưới bà Lộ Thị
Nga sinh ra một người con gái tên là Nguyễn Thị Khiêm.

Là một trong nhiều đạo tồn tại ở Miền Nam trước 1975. Đạo Dừa chủ
trương hòa đồng tôn giáo, tổng hợp tinh hoa của nhiều tôn giáo, đặc biệt là
Phật giáo, Kitô giáo. Dựng đàn Bát quái, lập thuyền Bát nhã với đài lộ thiên
để cầu Phật, tiên, thánh sao cho mưa thuận gió hòa, dân sống yên vui, đất
nước thái bình, vv Tín đồ lên đến hàng vạn.
2.5.2 Cơ sở hoạt động
Hiện nay tại Cồn Phụng còn nhiều di tích Đạo Dừa trên diện tích chừng
1.500m², hiện được bảo tồn nguyên trạng các hạng mục kiến trúc được xây
dựng từ thời trước: sân 9 con rồng; tháp Hoà bình (cửu trùng đài) Một khu
được sửa thành nơi điều dưỡng và du lịch. Còn chiếc xà lan lớn làm nơi hành
đạo cũ được đưa về làm khách sạn nổi trên sông Bến Tre ở thị xã.
20
CHƯƠNG 3: VAI TRÒ CỦA CÁC TÔN GIÁO NỘI SINH TRONG
ĐỜI SỐNG TIN THẦN ĐỒNG BÀO NAM BỘ
3.1 Tập hợp quần chúng theo đạo để giúp đời.
Đầu thế kỷ XIX, chính quyền thực dân Pháp và triều đình phong kiến
nhà Nguyễn tăng cường áp bức bóc lột, vơ vét tài nguyên, đàn áp nhân dân
để phục vụ lợi ích của chúng. Cuộc sống của nhân dân lao động, đặc biệt là
người nông dân Nam bộ bị bần cùng hoá, phải đi làm thuê, làm mướn. Các
cuộc đấu tranh của nhân dân đều thất bại. Bất lực trong cuộc sống, khủng
hoảng về tư tưởng, đây là tiền đề và điều kiện thuận lợi cho sự ra đời của các
tôn giáo. Hầu hết các giáo chủ đều là những người có tài, có chí muốn lợi
dụng tôn giáo để tập hợp lực lượng quần chúng nhân dân theo mình.
Có tôn giáo tập hợp lực lượng này để khai khẩn đất hoang, thành lập
thôn, ấp nhằm tạo hậu phương vững chắc cho cuộc kháng chiến chống Pháp
của dân tộc. Cũng có tôn giáo lợi dgiao1danh nghĩa tôn giáo để hoạt động
chính trị. Vì vậy, các Tôn giáo nội sinh đã tập hợp được một số lượng đông
đảo nông dân miền Nam đứng dưới ngọn cờ tôn giáo.
Sự ra đời và phát triển của các tôn giáo ở Nam Bộ thế kỷ XIX đã có vai trò
tích cực trong giai đoạn lịch sử đặc biệt của dân tộc. Giúp cho tín đồ được an

bảo vệ tổ quốc, bảo vệ quê hương đất nước. Quan điểm này được nhiều tôn
giáo sử dụng để giáo dục tín đồ yêu đất nước. Tiêu biểu nhất là Đạo Tứ Ân
Hiếu Nghĩa ra đời trong hoàn cảnh chế độ phong kiến suy tàn, nhân dân lầm
than khổ cực, thực dân Pháp xâm lược. Tứ Ân được nhấn mạnh nhằm khơi
gợi lòng yêu nước tự hào về nòi giống, kêu gọi mọi người đứng lên chống
giặc ngoại xâm để đền ơn đất nước, bảo vệ thành quả của cha ông. Với những
uan điểm phù hợp với đạo lý đó Tứ Ân đã đáp ứng được nhu cầu thực tiễn
dân tộc. Vì thế tính chất này có ý nghĩa đặc biệt trong việc giáo dục tình yêu
nước cho nhân dân.
“ Bờ cõi vĩnh hằng thân ta mới yên
Quốc gia mạnh giàu mình ta mới ấm”
Trọng Ân thứ 3 của Tứ Ân tam bảo. Người tín đồ ngoài việc tôn kính
cha mẹ, trung thành với đất nước còn phải biết tôn kính tôn giáo mình. Tam
bảo có nghĩa là “ Phật, Pháp, Tăng”. Đền ân tam bảo tức là học những điều
phật dạy và làm những điều phật khuyên nhằm nhận thức được con đường đạt
tới chân thiện mỹ; biết kính trời đất, trọng thần thánh, giáo lý của đạo mình
cũng như những người có công trong đạo (tăng ni). Tuy nhiên bên cạnh đó,
đền ân tao bảo cũng đồng nghĩa với việc khuyên dạy tín đồ nên xây dựng
quan hệ trong sáng, tốt đẹp giữa người với người, giữa thế hệ này với thế hệ
kia. Biết học phật để được về cõi Tây phương cực lạc khi chất. Điều này có
nghĩa Quyết định trong việc giáo dục lòng trung thành của tín đồ đối với tổ
chức tôn giáo.
22
Đối với ân đồng bào nhân loại. Con người từ khi sinh ra đến lúc chết có
rất nhiều quan hệ với người xung quanh. Chúng ta phải biết yêu thương, giúp
đỡ lẫn nhau như “con một cha”. Quan điểm này phù hợp với truyền thống yêu
thương con người của dân tộc Việt Nam từ xa xưa “ bầu ơi thương lấy bí
cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàng”, “nhiễu điều phủ lấy giá
gương, người chung một nước phải thương nhau cùng” hay “ lá lành đùm lá
rách”

được điều đó cần phải có sự tham gia của nhiều người, nhiều tổ chức, tôn
giáo. Cụ thể như:
Về phía Đảng và Nhà nước cần có những nhận định mang tính khách
quan, khoa học về tôn giáo; hoạch định chính sách tôn giáo, những mặt tích
cực phù hợp với lợi ích của toàn dân, với công cuộc xây dựng xã hội mới;
phát huy những giá trị tốt đẹp về văn hóa, đạo đức của tôn giáo; bảo vệ và tu
tạo các di sản văn hóa tôn giáo. Trong đó có vấn đề quan trọng là cũng cố
khối đại đoàn kết toàn dân, kế thừa và phát huy những giá trị văn hóa đạo đức
trong tôn giáo vào việc xây dựng nền đạo đức mới, nền văn hóa tiên tiến, đậm
đà bản sắc dân tộc.
Về phía tôn giáo, các tôn giáo cần phải nhận thức được những giá trị
quý báo của đạo đức, của văn hóa. Giáo dục các tính đồ về trung thành với tổ
quốc, về tình yêu với nhân loại, hiếu thảo với cha mẹ đúng theo tôn chỉ của
tôn giáo mình. Động viên các tín đồ về lối sống lành mạnh, không mê tính dị
đoan “tốt đạo đẹp đời”, học phật tu nhân, hòa nhập vào cuộc sống, rèn tâm
sửa tính vì thực tiễn cuộc sống. Đề cao cảnh giác với các thế lực đen tối đang
lợi dụng tôn giáo để thực hiện những mưu đồ chính trị, ảnh hưởng đến uy tính
của tôn giáo mình.
24
Đối với tín đồ, nghiêm chỉnh chấp hành những quy định trong tôn giáo,
những quy định về tứ ân. Bởi vì suy cho cùng thì tu cũng là để đền đáp ân
nghĩa, là rèn đạo làm người.
Đối với nhân dân, tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của người có đạo,
có thể học tập một số lời khuyên dạy của tôn giáo phù hợp với giá trị đạo đức.
Tất nhiên không phải để thành phật nhưng nếu mọi người đều biết hiếu thảo
với mẹ cha, biết giữ gìn trật tự kỹ cương, biết yêu thương đoàn kết với đồng
bào, tôn sư trọng đạo thì sẽ trở thành những người có ích cho xã hội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status