1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH THÁI CAO ĐA QUẢN LÝ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC Ở
TRƯỜNG PHẬT HỌC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên Ngành Quản Lý Giáo Dục
Mã số: 60.14.01.14 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Nguyễn Thị Mỹ Trinh
Nghệ An, 2014 3
LỜI TRI ÂN
“Ân giáo dưỡng một đời nên huệ mạng,
LƯỢNG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG PHẬT HỌC 5
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài 10
1.2.1. Dạy học; Hoạt động dạy học ở trường Phật học 10
1.2.2. Chất lượng và chất lượng dạy học ở trường Phật học 12
1.2.3. Quản lý và Quản ly chất lượng dạy học ở trường Phật học 13
1.3. Khái quát về hoạt động dạy học ở trường Phật học Việt Nam Nam 15
1.3.1. Khái quát về hệ thống đào tạo Tăng Ni 15
1.3.2. Hoạt động dạy học ở các trường Phật học 17
1.4. Một số vấn đề về quản lý chất lượng hoạt động dạy học ở trường Phật học
1.4.1. Mục đích quản lý chất lượng dạy học ở các trường Phật học 21
1.4.2. Nội dung quản lý chất lượng dạy học 22
1.4.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả công tác quản lý chất lượng dạy học ở
truờng Phật học 25
Kết luận chương 1 27
Chương 2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG
DẠY HỌC Ở TRƯỜNG PHẬT HỌC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH. 28
2.1. Khái quát về trường Phật giáo Thành Phố Hồ Chí Minh 28
2.2. Thực trạng chất lượng dạy học của truờng Phật giáo TP. HCM 30
2.2.1. Thành phần Hội đồng Điều hành Học viện 31
2.2.2. Thực trạng đội ngũ giảng viên Học viện 33
2.2.3. Thực trạng dạy học 36 5
2.2.4. Kết quả dạy học 39
2.3. Thực trạng quản lý chất lượng dạy học ở các truờng Phật giáo thành phố
Hồ Chí Minh 40
2.3.1. Tổ chức bộ máy quản lý và điều hành nhà truờng 40
2.
ĐHPG
Đại Học Phật Giáo
3.
GHPGVN
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam
4.
HT
Hòa Thượng
5.
HVPG
Học Viện Phật Giáo
6.
HVPGVN
Học Viện Phật Giáo Việt Nam
7.
NS
Ni Sư
8.
PG, GH
Phật Giáo, Giáo Hội
9.
PGVN
Phật Giáo Việt Nam
10.
SC
Sư Cô
11.
TNS
Tăng Ni sinh
Bảng 2.7. Xếp loại hạnh kiểm - đạo hạnh năm 2011-2012
Bảng 2.8. Các biện pháp quản lý thực hiện mục tiêu, nội dung, chương trình và kế
hoạch nâng cao chất lượng dạy học
Bảng số 3.1. kết quả thăm dò nhu cầu mới của các cấp GH, của các cơ sở PG
8
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện nền
giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và
hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo
viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt. Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục,
đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành,
khả năng lập nghiệp. Đổi mới cơ chế tài chính giáo dục. Thực hiện kiểm định chất
lượng giáo dục, đào tạo ở tất cả các bậc học. Xây dựng môi trường giáo dục lành
mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình và xã hội.
1
Từ khi Đức Phật thành Đạo dưới cội Bồ-đề ở Bodhgaya, với lòng đại từ bi,
Ngài đưa giáo pháp vào đời cứu đời thoát khổ đau giáo dục Phật giáo đã khởi sắc.
hoạt.
2
Hiện nay, số lượng Tăng Ni sinh, không chỉ đòi hỏi nắm vững giáo lý đạo
Phật mà còn cần được giáo dục, đào tạo bài bản hơn nữa để có đủ kiến thức trong
các công tác phục vụ đạo pháp và dân tộc. Vấn đề này, ngay từ nhiệm kỳ đầu Giáo
hội đã có sự quan tâm đặc biệt. Mặc dù vậy, đến nay công tác giáo dục, đào tạo
tăng tài còn nhiều thách thức đối với Giáo hội. Đó là chương trình giáo dục, đào tạo
ở cấp Học viện là tương đối thống nhất, theo sự phát triển xã hội, các chương trình
giáo dục đào tạo Phật học ở cấp thấp hơn thì còn nhiều bất cập, hệ quả là các Tăng
Ni sinh sau khi tốt nghiệp tại các trường Phật học có độ chênh nhất định về kiến
thức. Vấn đề này đã được Giáo hội nhìn nhận và đánh giá đúng mức là “chưa hoàn
toàn phù hợp với hoàn cảnh thực tế…Ban Trị sự và Ban Giám hiệu đã linh động tự
vạch ra cho trường những quy định về chương trình, nội dung giảng dạy, về tiêu
chuẩn, trình độ giảng viên và học viên… Vì vậy, chất lượng đào tạo và kết quả học
tập không đồng điều trong cả nước. Đó là lý do mà em chọn đề tài này. 2
Đại hội đại biểu Phật giáo lần thứ VI 10
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất một số giải pháp quản lý
nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở các trường Phật học tại Thành phố Hồ Chí
Minh trong giai đoạn hiện nay.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: Vấn đề quản lý nâng cao chất lượng hoạt động
trong quản lý chất lượng dạy - học tại các Học viện Phật giáo nói chung và Học
viện Phật giáo Việt Nam tại TP. HCM nói riêng. Thông qua đề xuất các giải pháp
mang tính khoa học sẽ giúp cho các Học viện Phật giáo nói chung và Học viện Phật
giáo Việt Nam tại TP. HCM nói riêng nâng cao chất lượng dạy của các giảng sư,
chất lượng học của Tăng sinh - Sinh viên (người học) Học viện Phật giáo Việt Nam
tại TP. HCM, giúp cho Học viện đào tạo ra sản phẩm là nguồn lực có chất lượng
cao, phục vụ lợi ích thiết thực cho giáo hội, cho xã hội và cho đất nước.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, Luận
văn được chia thành 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận của vấn đề quản lý nâng cao chất lượng hoạt động
dạy học ở trường Phật học.
Chương 2. Thực trạng quản lý nâng cao chất lượng dạy học ở trường Phật
học Thành phố Hồ Chí Minh.
Chương 3. Một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng dạy học ở trường
Phật học Thành phố Hồ Chí Minh. 12
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG PHẬT HỌC
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Ở ngoài nước
Trên thế giới có nhiều quốc gia, nhiều dân tộc khác nhau cùng sinh sống tồn
tại và phát triển, đều quan tâm đến sự phát triển giáo dục. Nền giáo dục đã hình
Trung quốc, Triều Tiên, Thái Lan, Miến Điện, Lào, Campuchia, Tích Lan, Nhật
Bản, Việt Nam vv…Luật nhập học rất nghiêm khắc chỉ có những ai thông thạo
những môn học cổ và hiện đại mới được nhập học. Như vậy đây là một học viện ở
mức độ nâng cao. Khoảng 1.500 giáo sư phụ trách 8.500 sinh viên. Hàng ngày có
đến trăm bài thuyết giảng. Nhiều vị tổ sư lỗi lạc của Ấn độ hoặc nước ngoài xuất
thân từ đây, như: ngài Đề -bà, Giới Hiền, Hộ Pháp, Pháp Hiển, Huyền Trang,
Nghĩa Tịnh, Minh Châu Hệ thống thư viện của Đại học rất phong phú.
3
Đại học Valabhī có thể nói là đối thủ của đại học Nālandā. Đại học toạ lạc ở
Valabhī, kinh đô của vương triều Maitraka (475-775). Đại học này cũng được
vương triều ủng hộ. Số lượng sinh viên đông tương đương với đại học Nālandā.
4
Đại học Vi kramaśilā cũng có vị trí như hai đại học trên. Hội đồng điều hành
đại học này cũng điều hành đại học Nālandā. Do vậy nên có sự trao đổi giáo sư
giữa hai đại học này. Ngoài ra còn có một số tu viện Phật giáo khác phát triển theo
hình thức đại học trong thời đại này. Học viên trong các đại học được phân chia ra
làm nhiều lớp tuỳ theo trình độ khác nhau. Lớp thấp nhất bao gồm những vị đọc
tụng kinh, lớp kế tiếp bao gồm những vị thông thạo luật, bàn luận luật với nhau, lớp 3
Sharma, S. N., Buddhist Social and Moral Education, Delhi: Parimal Publications, 1994.
4
S. Dutt, Buddhist Monk s and Monast eries of India: Their History and Their Contribution to Indian Cuture (Delhi: Motilal
Banars idas s Publis hers , 2000), 224 ff. 14
S.C.Ghosh, The History of Education in Ancient India: c.3000 BC to AD 1192 (New Delhi: Muns hinram Manoharlal Publis hers,
2001), 130 f. 15
được xem là những trường học đầu tiên của đất nước. Kể từ trước và suốt thời kỳ
Bắc thuộc, nhân dân lầm than cơ cực, bị áp bức đủ mọi mặt, chỉ riêng giới tu sĩ
Phật giáo tương đối đỡ bị khổ ải vì sưu dịch do bấy giờ Phật giáo mới du nhập và
phát triển ở Trung Quốc và giới tu sĩ ở đấy được kính trọng, có ảnh hưởng đến giới
cai trị Bắc phương tại Giao Chỉ. Các vị sư Giao Chỉ được xem là những bậc trí thức
vì ngoài kinh điển, chư vị còn học đủ môn ngoại điển của người Trung Hoa, từ đó
một số chùa còn thu nhận con em của dân trong xóm làng đến học.
Đến khi đạo Phật hưng thịnh ở Việt Nam, các chùa chiền, các Thiền phái và
các Tông phái phát triển, việc giáo dục, đào tạo Tăng Ni cũng được phát triển
nhưng vẫn mang tính cục bộ, chưa có hệ thống rõ rệt. Công cuộc giáo dục và đào
tạo Tăng Ni có khởi sắc vào thời kỳ chấn hưng. Năm 1920 đến 1934, tại Nam Kỳ,
Hòa Thượng Từ Phong ở đạo tràng Giác Hải Chợ Lớn dạy các Tăng sĩ. Ngài
Khánh Hòa mở lớp Phật học tại Bến Tre. Ngài Chí Thành cũng mở trường Phật học
tại Bến Tre, đặc biệt có một trường Ni tại Bạc Liêu. Ngài Huệ Quang, ngài Khánh
Anh cũng mở trường tại Trà Vinh, Long An, Phật học đường Lưỡng Xuyên mở lớp
Tăng, lớp Ni riêng biệt. Tại Bắc Kỳ bấy giờ có 2 lớp tiểu học cho Tăng và cho Ni ở
Phúc Yên, Hải Hưng. Chùa Quán Sứ mở trường Trung Học Phật Học, chùa Sở ở
Hà Đông mở trường Đại học. Giáo dục Phật giáo tại Bắc Kỳ bấy giờ đã có cấp Tiểu
học, Trung học và Đại học ngoài các khóa học trong các kỳ An cư. Tại Trung Kỳ,
ta thấy có trường Trung đẳng Phật học tại Bình Định (1937), trường Tiểu học Phật
học tại Phan Rang, Phật học đường gồm 2 cấp Tiểu và Trung học tại Đà Nẵng, tại
Huế, chùa Trúc Lâm mở trường An Nam Phật học sau đó là chùa Báo Quốc với
chương trình học có hệ thống hơn gồm 6 năm Tiểu học, 3 năm Trung học. Cấp Đại
học cũng được mở và thu nhận được 10 Tăng sĩ. Ngoài ra, các chùa Vạn Phước,
17
học. Tuy nhiên, nghiên cứu dừng lại ở hệ thống giáo dục thế học, còn một hệ thống
giáo dục Phật học chưa được ai nghiên cứu.
1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài.
1.2.1. Hoạt động dạy học ở trường Phật học
Theo Triết học Hy Lạp cổ đại thì: “Dạy học không phải là chất đầy vào một
cái thùng rỗng mà là làm bừng sáng lên những ngọn lửa”. Nghĩa là ngọn lửa đã có
sẵn nhưng chưa có điều kiện, động lực tác động để nó bừng sáng.
Hoạt động dạy học là hoạt động của người dạy tổ chức và điều khiển hoạt
động của người học nhằm giúp người học lãnh hội nền văn hóa xã hội, tạo ra sự
phát triển tâm lý, hình thành nhân cách của người học.
Hoạt động dạy học “Đó là hoạt động lãnh đạo, tổ chức, điều khiển hoạt động
nhận thức, học tập của học sinh, giúp học sinh tìm tòi khám phá tri thức, qua đó
thực hiện có hiệu quả chức năng học của bản thân. Hoạt động lãnh đạo, tổ chức,
điều khiển của người giáo viên đối với hoạt động nhận thức và học tập của học
sinh”.
6
“Quá trình dạy học là một quá trình dưới sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của
người giáo viên, người học tự giác, tích cực, chủ động tự tổ chức, tự điều khiển
hoạt động nhận thức – học tập của mình nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy
học”.
7
Bác Hồ đã từng nói là giáo dục phải giúp cho sự phát triển “đầy đủ những
năng lực sẵn có” của người học; còn Cac-Mát thì nói chức năng giáo dục là “phát
triển năng lực - bản chất con người” và trong hoạt động dạy học luôn chú trọng đến
trình dạy học và luôn là trung tâm chú ý của các nhà giáo dục Phật giáo các nước
phương pháp dạy học hình thành động cơ nhận thức, nâng cao tính tích cực, độc
lập, sáng tao của tăng ni sinh, phát huy năng lực vận động, vận dụng tri thức trí tuệ
vào thực tiễn của mỗi tăng ni sinh.
- Phương tiện dạy học các thiết bị hiện đại cho phép đưa vào hoạt động dạy
học những nội dung sinh động và hứng thú làm thay đổi phương pháp và hình thức
tổ chức dạy học. 8
PGS Lê Văn Hồng (chủ biên) TÂM LÝ HỌC LỨA TUỔI VÀ TÂM LÝ HỌC SƯ PHẠM, NXB GIÁO DỤC, 1997, tr 78 19
- Nguồn lực (bao gồm nguồn lực tài chính) học viện Phật giáo hiện đại hóa
tài chính do chính giáo hội đài thọ. Về chất lượng, quy mô, phạm vi phục vụ, phải
mang tính chất phục vụ chúng sanh.
Để minh định rõ ràng mối tương quan giữa Thế Tôn với hàng đệ tử và nhấn
mạnh tầm quan trọng của sự tự mình nỗ lực, kiên trì, và tự phát huy những gì mình
có, đức Phật dạy rằng: “Các con phải tự mình nỗ lực, các đấng Như lai chỉ là đạo
sư”. Như vậy đức Phật chỉ là người chỉ ra phương pháp, là người khơi dậy ngọn
lửa, đệ tử là người phát huy ngọn lửa, làm cho ngọn lửa đó càng sáng tỏa hơn.
Hình ảnh Ràhula là vị Sadi mới lên bảy đã biết vâng lời, tôn trọng giới luật
và chuyên cần tu học, mỗi ngày dậy thật sớm, ra ngoài bốc lên tay một nắm cát,
tung ra và nguyện: “Mong rằng ngày hôm nay ta học được nhiều như bao nhiêu cát
này”. Hình ảnh này minh chứng quá trình tự giác, tự học tập đó.
1.2.2. Chất lượng và chất lượng dạy học ở trường Phật học
Chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống
hay qúa trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan. Nếu
trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn
lực trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích
của tổ chức với hiệu quả cao nhất”.
Theo Thái Văn Thành thì: “Quản lý là sự tác động có mục đích có kế hoạch
của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra”.
Theo Trần Kiểm trong giáo trình “Quản lý giáo dục và trường học” đã nhận
định: “Quản lý chất lượng hoạt động dạy học là quá trình dạy của giáo viên và quá
trình học của học sinh. Đây là hai quá trình thống nhất gắn bó hữu cơ ”
9
. 9
Trần Kiểm (1997), Quản lý Giáo dục & Trường học, Viện Khoa học Giáo dục, Hà Nội. 21
Quản lý nâng cao chất lượng hoạt động dạy - học thực chất là những tác
động của chủ thể quản lý vào quá trình dạy học nhằm hình thành và phát triển toàn
diện nhân cách của TNS theo mục tiêu đào tạo của các trường Phật giáo. Mục tiêu
quản lý chất lượng hoạt động dạy học là cở sở, là nền tảng cho việc xác định các
mục tiêu quản lý khác trong trường học.
Quản lý nâng cao chất lượng hoạt động dạy học ở trường Phật học là tổ chức
một cách khoa học cho hoạt động dạy học, bao gồm các hoạt động của một tập thể
cũng như công việc chuyên môn của từng người. Biện pháp quản lý chất lượng
hoạt động dạy học là cách thức thực hiện trên các nội dung giảng dạy và học tập cụ
thể của TNS theo kế hoạch dạy học và các chương trình môn học quy định do học
viện đề ra. Đó là cách sử dụng những phương tiện nguồn lực vật chất và tinh thần
để tạo ra các hoạt động hướng đích, nhằm đạt được mục tiêu dạy học chất lượng và
nâng cao chất lượng dạy học đó là quản lý nâng cao chất lượng dạy của thầy; quản
lý nâng cao chất lượng học của trò; quản lý các điều kiện phục vụ nâng cao chất
lượng dạy học của nhà trường.
1.3. Một số vấn đề về hoạt động dạy học ở trường Phật học ở Việt nam
1.3.1. Khái quát về hệ thống đào tạo Tăng Ni sinh
Ngành giáo dục Tăng Ni có nhiệm vụ đào tạo TNS thành những tu sĩ Phật
giáo chân chính. Học để tu, học để hoằng pháp và giúp đời, trong đó tu là chính, tu
từ khi bước chân vào chùa cho đến khi chấm dứt cuộc đời. Học để trau dồi đạo đức
và trí tuệ, để thuận lợi hơn trên con đường tiến đến giải thoát tối hậu.
Ở Việt Nam, từ sau ngày đất nước thống nhất, sau một thời gian khá dài vận
động và chuẩn bị, đến năm 1981, Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập,
thống nhất 9 tổ chức và hệ phái Phật giáo. Lại phải mất vài năm để củng cố, ổn
định tổ chức và sinh hoạt, Giáo hội đã hoạt động khá mạnh mẽ và từ đó đến nay, đã
đạt được nhiều thành quả khả quan. Nổi bật nhất là việc giáo dục và đào tạo Tăng 23
Ni. Trong vòng 30 năm trở lại đây, hiện đã có 33 trường cơ bản Phật học trên toàn
quốc, 4 Học viện Phật giáo Việt Nam và 9 lớp Cao đẳng Phật học. Đó là chưa kể
các lớp Phật học riêng lẻ tại các chùa, các khóa đào tạo giảng sư của ban Hoằng
Pháp và một số khoá chuyên ngành khác như y tế, từ thiện xã hội v.v… Như vậy
công cuộc giáo dục và đào tạo Tăng Ni được tiến hành khá đồng bộ trên khắp cả
nước. Số Tăng Ni sinh tại mỗi trường từ khoảng 60 đến 100, thậm chí có 2, 3, hay
5 trăm Tăng Ni sinh ở nhiều trường cơ bản. Học viện Phật học đã đào tạo được 9
khóa ở TP. Hồ Chí Minh và 5 khoá ở Hà Nội. Số Tăng Ni sinh tốt nghiệp Học viện
Phật học tính đến hết khóa hiện nay khoảng 5000 người. Một số đang theo học các
khóa Cao học, Tiến sĩ Phật học tại Đài Loan, Nhật Bản, Sri Lanka và nhất là tại Ấn
Độ (riêng tại Ấn Độ, số Tăng Ni nghiên cứu sinh hiện khoảng 300 người). Chương
trình học của các lớp cùng cấp, cách tổ chức điều hành, sinh hoạt của các trường
Tăng Ni thật sự có tài, có đức, thật tu thật học, là nhân tố kế thừa cho Giáo hội.
Mục tiêu dạy học ở Học viện phải đảm bảo chuẩn kiến thức, kỹ năng, đạo
hạnh của từng môn học, của mỗi hoạt động giáo dục. Mỗi môn học, mỗi hoạt động
dạy học đều có chuẩn kiến thức, kỹ năng, chuẩn phẩm hạnh đạo đức. Mỗi giai đoạn
dạy học đều xác định kiến thức, kỹ năng, đạo hạnh trong từng giai đoạn.
Mục tiêu dạy học trên cơ sở kiến thức căn bản, về đạo hạnh làm nền tảng của
TNS, đảm bảo tính thống nhất, tính khả thi của từng môn học, đảm bảo chất lượng
kiến thức thế học và Phật học.
Mục tiêu dạy học trước mắt để rồi xây dựng cái lâu dài, cho đến khi đạt cứu
cánh. Cái mục tiêu trước mắt là cái tùy thuận nhân duyên, là những phương tiện để
đạt cứu cánh giải thoát. Mục tiêu dạy học của đức Phật “chuyển pháp luân vô 25
thượng mà giáo hóa chư Bồ tát, giáo hóa, an lập vô số chúng sanh, khiến họ an trú
vào đạo chơn chánh vô thượng chuyển ác thành thiện, chuyển phàm thành thánh”
10
Chương trình; Nội dung dạy học ở các trường Phật học Xây dựng phong
trào học tập trong toàn thể tăng ni sinh, xây dựng môi trường giáo dục đa dạng hoá
các hình thức đào tạo, loại hình học tập, tăng cường đầu tư cho giáo dục từ ngân
sách Giáo hội, tiếp tục thể chế hoá chủ trương chính sách của nhà nước về xã hội
hoá giáo dục và huy động cộng đồng xã hội. Một nội dung nữa cần tập trung là mối
quan hệ khăng khít hữu cơ giữa Học Viện và Bổn sư cùng với Giáo Hội. Chương
trình học các Trường Phật học toàn bộ Kinh, Luật, Luận (Tam tạng kinh) trong hệ
thống kinh điển Bắc Tông cũng như Nam Tông ( Đại thừa và tiểu thừa, Nam truyền
và Bắc truyền) văn hóa Phật giáo, các kiến trúc của nhà Phật, ngoài ra còn học một
số môn học đại cương quy định chung của Bộ giáo dục và đào tạo. Nội dung chưa
thật sự bám sát với thực tế, chưa thực sự đưa giáo pháp đi vào cuộc sống, nhất là