1
ĐẠI HỌCQUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
LÊ VŨ HUY
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG DẠY HỌC
MÔN TIẾNG ANH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
HUYỆN BẮC SƠN, TỈNH LẠNG SƠN LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên nghành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 05 Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Phạm Viết Nhụ
Giáo viên
HĐDH
Hoạt động dạy học
HĐH
Hoạt động học
HS
Học sinh
KHTN
Khoa học tự nhiên
KHXH-NV
Khoa học xã hội và nhân văn
KT-XH
Kinh tế - xã hội
NGLL
Ngoài giờ lên lớp
NXB
Nhà xuất bản
QL
Quản Lý
QLGD
Quản Lý giáo dục
SGK
Sách giáo khoa
THCS
Trung học cơ sở
THPT
Trung học phổ thông
42
Bảng 2.7: Kết quả xếp loại 2 mặt giáo dục các trường THPT huyện
Bắc Sơn năm học 2009 – 2010
43
Bảng 2.8: Thống kê đội ngũ giáo viên Tiếng Anh THPT Huyện Bắc Sơn
45
Bảng 2.9: Nhận thức của học sinh, giáo viên và CBQL huyện Bắc
Sơn Lạng Sơn về vai trò của Tiếng Anh
46
Bảng 2.11: Kết quả khảo sát hiện trạng các hoạt động giảng dạy của
giáo viên
48
Bảng 2.12: Thực trạng sử dụng phương pháp và phương tiện dạy học
của GV
50
Bảng 2.13: Nhu cầu và phương pháp học Tiếng Anh của HS
51
Bảng 2.14. Ý kiến của học sinh về hoạt động tự học môn Tiếng Anh
55
Bảng 2.15: Kết quả thi tốt nghiệp THPT của các trường THPT
huyện Bắc Sơn – Lạng Sơn các năm học 2008 – 2010
56
Bảng 2.16: Mức độ nhận thức các biện pháp quản lý hoạt động dạy
Tiếng Anh ở các trường THPT huyện Bắc Sơn
6
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1
2. Mục đích nghiên cứu
2
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
2
4. Giả thuyết khoa học
3
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
3
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
3
7. Phương pháp nghiên cứu
4
8. Cấu trúc luận văn
4
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ DẠY HỌC MÔN
TIẾNG ANH Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
5
2.1. Vài nét về giáo dục trung học phổ thông huyện Bắc Sơn
37
2.1.1. Khái quát chung về đặc điểm tự nhiên, tình hình dân cư và kinh
tế - xã hội huyện Bắc Sơn - Lạng Sơn
37
2.1.2. Vài nét khái quát về tình hình giáo dục THPT huyện Bắc Sơn
38
2.1.3. Đánh giá chung
43
7
2.2. Thực trạng dạy học Tiếng Anh ở các trường trung học phổ thông
huyện Bắc Sơn
44
2.2.1. Về đội ngũ giáo viên giảng dạy Tiếng Anh
44
2.2.2. Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh về vai trò
của bộ môn Tiếng Anh
45
2.2.3. Về thực trạng các hoạt động giảng dạy Tiếng Anh của giáo viên
47
2.2.4. Thực trạng hoạt động học của học sinh
50
2.2.5.Hiệu quả đào tạo
56
2.2.6. Đánh giá thực trạng hoạt động dạy học Tiếng Anh ở các trường
trung học phổ thông huyện Bắc Sơn – Lạng Sơn
3.1.1. Nguyên tắc tính hệ thống
77
3.1.2. Nguyên tắc tính thực tiễn
77
3.1.3. Nguyên tắc tính hiệu quả
78
3.2. Các biện pháp đề xuất
78
3.2.1. Tổ chức bồi dưỡng nâng cao trình độ cho giáo viên Tiếng Anh
của các trường THPT huyện Bắc Sơn
78
3.2.2. Đổi mới quản lý hoạt động dạy của giáo viên
81
3.2.3. Tăng cường quản lý hoạt động tổ chuyên môn ngoại ngữ
94
8
3.2.4. Quản lý hoạt động học tập môn Tiếng Anh của học sinh THPT .
96
3.2.5. Tăng cường cơ sở vật chất, thiết bị dạy học Tiếng Anh trong
trường THPT
101
3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp quản lý
103
3.4. Khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp đề xuất
104
3.4.1. Mục đích của khảo nghiệm
104
có trình độ học vấn cao, năng động, sáng tạo, có khả năng thích ứng cao với
những thay đổi của cuộc sống mà còn phải biết sử dụng những phương tiện
công nghệ mới và ngoại ngữ, trong đó, Tiếng Anh được xem như là ngoại ngữ
phổ biến nhất, là công cụ và phương tiện không thể thiếu cho mỗi người xâm
nhập vào thương mại quốc tế và giao lưu văn hóa…
Nhận thức về tầm quan trọng của Tiếng Anh, đặc biệt khi nước ta gia
nhập vào tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Chính phủ đặt ra mục tiêu đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nâng cao kiến thức, năng lực quản lý điều
hành và thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, đáp ứng yêu cầu của
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH-HĐH) đất nước. Để đạt mục
tiêu đó, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 1400/QĐ-TTg ngày 30
tháng 9 năm 2008 phê duyệt đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống
giáo dục quốc dân giai đoạn 2008-2020”, trong đó nêu rõ mục tiêu chung là:
“Đổi mới toàn diện việc dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc
dân, triển khai chương trình dạy và học ngoại ngữ mới ở các cấp học, trình
độ đào tạo, nhằm đến năm 2015 đạt được một bước tiến rõ rệt về trình độ ,
năng lực sử dụng ngoại ngữ của nguồn nhân lực , nhất là đối với một số lĩnh
2
vực ưu tiên ; đến năm 2020 đa số thanh niên Việt Nam tốt nghiê
̣
p trung cấp ,
cao đă
̉
ng va
̀
đa
̣
i ho
̣
3.3. Giới hạn về khách thể khảo sát: Những giáo viên dạy Tiếng Anh và cán
bộ quản lý; học sinh ở các trường THPT Vũ Lễ, THPT Bắc Sơn huyện Bắc
Sơn - Lạng Sơn.
4. Giả thuyết khoa học
Công tác QL dạy học Tiếng Anh ở các trường THPT huyện Bắc Sơn -
Lạng Sơn trong những năm gần đây vẫn tồn tại nhiều bất cập. Nếu bổ sung và
hoàn thiện các biện pháp QL của hiệu trưởng đối với hoạt động dạy học một
cách hợp lý và thiết thực thì sẽ nâng cao hơn nữa chất lượng dạy học môn
Tiếng Anh ở các trường THPT trong huyện.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Hệ thống hoá cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu: Công tác quản lý
hoạt động dạy học Tiếng Anh.
5.2. Khảo sát, đánh giá thực trạng về quản lý hoạt động dạy học Tiếng Anh
tại các trƣờng THPT huyện Bắc Sơn - Lạng Sơn.
5.3. Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học Tiếng Anh ở các
trƣờng THPT huyện Bắc Sơn - Lạng Sơn trong xu thế hội nhập và phát
triển hiện nay.
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu vấn đề quản lý hoạt động dạy - học môn Tiếng Anh
đối với học sinh hệ Trung học phổ thông tại hai trường THPT của huyện Bắc
Sơn - Lạng Sơn:
- Trường THPT Vũ Lễ
- Trường THPT Bắc Sơn.
(Số liệu khảo sát: từ năm 2008-2009 đến hết năm 2009-2010)
4
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1 Phƣơng pháp nghiên cứu lý luận: Thu thập tài liệu, nghiên cứu, phân
tích, tổng hợp và so sánh, khái quát hoá các tư liệu, tài liệu, các văn bản có
liên quan đến đề tài.
Đã từ lâu, giáo dục luôn thể hiện vai trò quan trọng, có tính chất quyết
định đến sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của mỗi quốc gia và nền văn
minh của cả nhân loại. Chính vì vậy giáo dục luôn dành được sự quan tâm của
các cấp QL và toàn xã hội. Ý nghĩa, vai trò và tầm quan trọng của công tác
giáo dục đã được cụ thể hóa thành đường lối, chủ trương và các chính sách
cấp nhà nước. Nghị quyết lần thứ 2 Ban chấp hành trung ương Đảng khóa
VIII “Về định hướng chiến lược phát triển GD&ĐT trong thời kỳ Công
nghiệp hoá, Hiện đại hoá và nhiệm vụ đến năm 2000”đã nhấn mạnh:
"GD&ĐT hiện nay phải có một bước chuyển nhanh chóng về chất lượng và
hiệu quả đào tạo, về số lượng và quy mô đào tạo, nhất là chất lượng dạy học
trong các nhà trường, nhằm nhanh chóng đưa GD&ĐT đáp ứng yêu cầu mới
của đất nước. Thực hiện nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân
tài, phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước" [5].
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX cũng khẳng định: "Tiếp tục nâng
cao chất lượng GD toàn diện, đổi mới nội dung, PPDH, hệ thống trường lớp
và hệ thống QLGD, thực hiện chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá" [4].
Trong bối cảnh tri thức đã được coi là nguồn lực có tính chất then chốt
đối với sự tăng trưởng của mỗi nền kinh tế, cả xã hội đều nhận thấy giáo dục
và QLGD là yếu tố cơ sở để phát triển đất nước. Trong các trường học, muốn
nâng cao chất lượng dạy học đòi hỏi người hiệu trưởng phải biết xây dựng,
vận dụng các biện pháp QL một cách phù hợp, khoa học vì chủ yếu công việc
QL của người hiệu trưởng là QL hoạt động dạy học trong nhà trường, làm sao
để nâng cao được hiệu quả và chất lượng giáo dục.
6
Trong thời gian qua, nhiều nhà khoa học đã đầu tư công sức, trí tuệ và
tiền của vào công việc nghiên cứu HĐDH và biện pháp QL HĐDH. Các đề tài
nghiên cứu cũng hết sức đa dạng, chủ yếu các tác giả tập trung nghiên cứu về
mặt lý luận như: các chức năng của QLGD; chức năng, phẩm chất, tiêu chuẩn
của người QLGD; vai trò, công việc cuả người hiệu trưởng và đội ngũ cán bộ
QL xuất hiện, phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người.
Đây là một trong những loại hình lao động lâu đời và quan trọng nhất của con
người, là công vệc cần thiết trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội, có
tính chất quyết định đến sự phát triển của toàn xã hội. Song chỉ những năm
gần đây người ta mới thừa nhận tính chất khoa học của nó và QL mới được
coi là một ngành khoa học theo đúng nghĩa. Bất kì một tổ chức, một tập thể
nào cũng đều có yếu tố QL trong đó và điều đó quyết định tới hiệu qủa hoạt
động của tổ chức theo mục tiêu đề ra.
Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về QL tùy theo quan điểm và
cách tiếp cận. Có người cho rằng QL là sự chỉ huy, lãnh đạo, sự cai quản, sự
điều khiển, điều chỉnh… Tuy nhiên có thể nêu lên một số quan điểm có tính
chất cốt lõi của một số tác giả như sau:
K.Marx cho rằng: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động
chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một
sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức
năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự
vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự
điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có một nhạc trưởng” [25].
Như vậy bản chất của QL là một hoạt động lao động có tính tất yếu, vô
cùng quan trọng trong quá trình lao động, phát triển của loài người.
Henry Fayol (1841 – 1925) nhấn mạnh: QL là một hệ thống phát huy
tác dụng có tính chất độc lập không thể thay thế. Theo ông: “quản lý là lập kế
hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra” [24, tr.17]
8
Mary ParKer Follett (1868 - 1933) nổi tiếng với thuyết hành vi trong
quản lý cho rằng: “Quản lý là một quá trình lao động, liên tục, kế tiếp nhau
chứ không tĩnh tại” [24, tr.24].
Tác giả H. Koontz cũng nhấn mạnh: “Quản lý là một hoạt động thiết
yếu, nó đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của cá nhân nhằm đạt được mục
Quản lý = Quản + Lý
Trong đó : - Quản là chăm sóc, giữ gìn sự ổn định .
- Lý là sửa sang, sắp xếp, đổi mới phát triển.
Hệ ổn định mà không phát triển thì tất yếu dẫn đến suy thoái. Hệ phát
triển mà không ổn định tất yếu dẫn đến rối ren.
Vậy: Quản lý = ổn định + phát triển
Theo từ điển tiếng việt thì QL là hoạt động của con người tác động
vào tập thể người khác để phối hợp, điều chỉnh, phân công thực hiện mục tiêu
chung.
Từ rất nhiều quan điểm khác nhau nêu trên, chúng ta có thể hiểu khái
quát về QL như sau: QL là sự tác động, chỉ huy điều khiển hướng dẫn các quá
trình xã hội và hành vi hoạt động của con người, nhằm đạt được mục đích đề
ra. Sự tác động của QL bằng cách nào đó để người bị QL luôn tự giác, phấn
khởi đem hết năng lực, trí tuệ của mình tạo nên lợi ích cho bản thân, cho tổ
chức và cả xã hội. Khái niệm QL bao hàm những khía cạnh sau:
Đối tượng tác động của QL là một hệ thống xã hội hoàn chỉnh như một
cơ thể sống gồm nhiều yếu tố liên kết hữu cơ theo một quy luật nhất định, tồn
tại trong không gian, thời gian cụ thể.
Hệ thống QL gồm hai phân hệ: Chủ thể QL và khách thể QL, giữa
chúng có sự tác động tương hỗ, biện chứng với nhau.
QL bao giờ cũng là một tác động hướng đích, có mục tiêu xác định.
Tác động quản lí thường mang tính tổng hợp, bao gồm nhiều phương pháp
khác nhau.
10
QL là sự tác động mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp quy luật
khách quan. Đó là các hoạt động trí tuệ mang tính sáng tạo bằng những quyết
định đúng quy luật và có hiệu quả, nhưng cũng phải tuân theo những nguyên
tắc nhất định, hướng đến mục tiêu.
QL xét đến cùng, bao giờ cũng là QL con người. Mục tiêu cuối cùng
Hình 1.1: Quan hệ chủ thể QL, khách thể QL và mục tiêu QL
1.2.1.2. Chức năng quản lý
Chức năng của quản lí là hình thức biểu hiện sự tác động có chủ định
của chủ thể QL lên đối tượng QL. Đó là tập hợp những nhiệm vụ khác nhau
mà chủ thể QL phải tiến hành trong quá trình QL. Có thể hiểu chức năng QL
là một nội dung cơ bản trong quá trình QL, là nhiệm vụ trọng tâm của người
QL. Nói tới các chức năng chủ yếu của QL, hiện nay có nhiều quan điểm
khác nhau nhưng nhìn chung đa số các tác giả đều thống nhất ở bốn chức
năng sau:
* Kế hoạch hoá: Đây là chức năng cơ bản nhất trong các chức năng
QL. Kế hoạch hoá bao gồm việc XD mục tiêu, chương trình hành động và
quyết định cách thức, phương tiện cần thiết trong một thời gian nhất định của
một hệ thống QL để đạt được mục tiêu. Kế hoạch hoá giúp nhà QL có cái
nhìn tổng thể, toàn diện, từ đó thấy được hoạt động tương tác giữa các bộ
phận. Việc lập kế hoạch cho phép lựa chọn những phương án tối ưu, tiết kiệm
nguồn lực, tạo hiệu quả hoạt động cho toàn bộ tổ chức và có khả năng ứng
CÔNG CỤ
PHƢƠNG PHÁP
KHÁCH THỂ
QUẢN LÝ
CHỦ THỂ
QUẢN LÝ
MỤC TIÊU
13
phận trong tổ chức. Nó giúp truyền tải mệnh lệnh chỉ đạo và phản hồi hai
chiều trong một tổ chức, giúp người QL thực hiện các chức năng của mình
nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức.
Hình 1.2: Mối quan hệ giữa thông tin với các chức năng trong chu trình QL
1.2.2. Quản lý giáo dục và quản lý nhà trƣờng
1.2.2.1. Quản lý giáo dục
Đã có nhiều tác giả nghiên cứu về lí thuyết QLGD và thực tế cho
thấy cũng có nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này, có thể kể đến một số
quan điểm chủ yếu sau :
Theo P.V.Khuđôminxki (nhà lý luận của Liên xô trước đây) thì:
QLGD là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và có mục đích của
chủ thể QL ở các cấp khác nhau đến các khâu của hệ thống GD (từ bộ đến
trường) nhằm mục đích đảm bảo việc GD Chủ nghĩa cộng sản cho thế hệ trẻ,
đảm bảo phát triển toàn diện và hài hoà cho thế hệ trẻ.
Tác giả M.I.Kônđacốp, một chuyên gia GD khác của Liên xô cũ cho
rằng: QLGD là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích
của chủ thể QL ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ
bộ đến trường) nhằm mục đích đảm bảo việc hình thành nhân cách cho thế hệ
Kiểm tra
Tổ chức
GD là các hoạt động GD diễn ra trong nhà trường hay ngoài xã hội thì QLGD
là quản lý mọi hoạt động GD trong xã hội, lúc đó QLGD được hiểu theo
nghĩa rộng nhất. Còn chỉ nói đến hoạt động GD trong ngành giáo dục đào tạo
thì QLGD được hiểu là QL một số cơ sở GD&ĐT (là quản lý nhà trường) và
15
quản lý một số cơ sở GD&ĐT ở một bộ phận hành chính nào đó (huyện, tỉnh,
toàn quốc) ta gọi là quản lý một hệ thống GD. Nghĩa là khái niệm QLGD
được hiểu theo nghĩa hẹp hơn. Nhưng rõ ràng là, dù được hiểu theo nghĩa
rộng hay nghĩa hẹp thì mục đích cuối cùng của QLGD vẫn là nâng cao chất
lượng GD. Qua các định nghĩa trên chúng ta có thể rút ra những kết luận:
QLGD là những tác động có hệ thống, có khoa học, có ý thức và có
mục đích của chủ thể QL lên đối tượng QL là quá trình DH và GD diễn ra ở
các cơ sở GD.
QLGD được hiểu một cách cụ thể là quản lý một hệ thống giáo dục đó
có thể là một trường học, một trung tâm khoa học kỹ thuật, hướng nghiệp, dạy
nghề, một tập hợp các cơ sở phân bố trên địa bàn dân cư.
QL một cách có khoa học (là việc tối ưu) trong đó chủ thể QL phải nắm
được các quy luật khách quan đang chi phối sự vận hành của đối tượng QL.
1.2.2.2. Quản lý nhà trường
Nhà trường là một tổ chức chuyên biệt trong hệ thống tổ chức xã hội
thực hiện chức năng tái tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự duy trì và phát
triển xã hội. Nhà trường với tư cách là một tổ chức giáo dục cơ sở, vừa mang
tính giáo dục, vừa mang tính xã hội, trực tiếp tham gia vào quá trình đào tạo
thế hệ trẻ, nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho
đất nước. Vì vậy trường học vừa là thành tố khách thể cơ bản của tất cả các
cấp QLGD, vừa là hệ thống độc lập, tự quản của xã hội. Bởi vậy QL nhà
trường vừa có tính chất nhà nước, vừa có tính chất xã hội. Nhà nước và cả xã
hội đều phải cùng chăm lo xây dựng và QL nhà trường.
Theo Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường ở Việt Nam là thực hiện
trường có thể thực sự tham gia vào việc điều phối công việc nhà trường. Đồng
thời, tăng cường trách nhiệm và quyền hành của GV tham gia vào quá trình ra
quyết định QL trong nhà trường.
17
- Hình thành các thiết chế hỗ trợ về tài chính và các nguồn lực cần thiết
khác để GV thực sự tham gia công việc QL nhà trường. Hình thành cơ chế
phân cấp quản lý tài chính, nhân sự, thực hiện cải tiến thích hợp nội dung và
PP giảng dạy phù hợp với đặc điểm cụ thể của nhà trường.
- Tạo môi trường sư phạm và xây dựng nhà trường thành một hệ thống
mở nhằm công khai hoá các hoạt động của nhà trường.
- Hình thành thiết chế đánh giá kết quả hoạt động sư phạm của nhà
trường dựa trên những thực thể trực tiếp tham gia quá trình sư phạm và quá
trình QL nhà trường.
Nhà trường là nơi trực tiếp, cửa mở đầu tiên tạo nên chất lượng GD, do
vậy khi nói đến QLGD là nghĩ đến QL nhà trường cũng như hệ thống nhà
trường.
Mục tiêu của quản lý nhà trƣờng:
- Đảm bảo kế hoạch GD kế tiếp, tuyển sinh HS vào đúng số lượng theo
kế hoạch GD hàng năm, đúng chất lượng theo quy định của bộ GD&ĐT. Duy
trì sĩ số HS và hạn chế tối đa số HS lưu ban, bỏ học.
- Đảm bảo chất lượng, hiệu quả, quá trình DH và GD, tiến hành các
hoạt động GD theo đúng chương trình, đảm bảo đạt yêu cầu của các môn học
và hoạt động GD.
- Xây dựng đội ngũ GV của nhà trường đồng bộ và chất lượng ngày
càng cao. Xây dựng đội ngũ nhân viên phục vụ có nghiệp vụ tương ứng thích
hợp, am hiểu về đặc thù GD trong công việc của mình.
- Từng bước hoàn thiện, nâng cao CSVC, trang thiết bị, phương tiện -
kỹ thuật, phục vụ tốt các HĐDH và GD.
- Xây dựng và hoàn thiện môi trường GD lành mạnh thống nhất ở địa phương.
nhất định;
- Hoạt động có sử dụng phượng tiện, công cụ để tác động vào đối
tượng;
QL
TR
TH
HH
HH
H
P
N
M
Đk
K
K
K
M: Mục tiêu dạy học
N: Nội dung dạy học
P: Phương pháp dạy học
TH: Thầy giáo
TR: Trò (HS)
ĐK: Điều kiện (CSVC - Trang
thiết bị)
QL: Quản lý