Phân tích, đánh giá hàm lượng arsenic trong nước ngầm tại tỉnh lâm đồng và đánh giá rủi ro lên sức khỏe cộng đồng dân cư - Pdf 29


Phân tích, đánh giá hàm lượng arsenic trong nước ngầm tại tỉnh Lâm Đồng và đánh giá rủi ro lên sức
khỏe cộng đồng dân cư
Trang 1/88 trang MỤC LỤC
Phân tích, đánh giá hàm lượng arsenic trong nước ngầm tại tỉnh Lâm Đồng và đánh giá rủi ro lên sức
khỏe cộng đồng dân cưCHƯƠNG I. MỞ ĐẦU 3
I.1. Đặt vấn đề 4
I.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
I.3. Mục tiêu của đề tài 6
I.4. Nội dung nghiên cứu 6
I.5. Phương pháp nghiên cứu 6
I.6. Ý nghĩa của đề tài 6
CHƯƠNG II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 7
II.1. Tổng quan về arsen 7
II.1.1. Một số tính chất của arsen 7
II.1.2. Dạng tồn tại của arsen trong môi trường 8
II.1.3. Độc học của arsen 11
II.1.4. Một số phương pháp xác định arsen 16
II.1.5. Tiêu chuẩn về arsen 19
II.1.6. Giảm thiểu arsen trong nước 19
II.1.7. Tình hình ô nhiễm arsen trên thế giới, Việt Nam và Lâm Đồng 21
II.2. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 26
II.2.1. Giới thiệu chung về tỉnh Lâm Đồng 26
II.2.2. Huyện Đức Trọng 27
II.2.3. Huyện Đơn Dương 29

IV.1. Kết quả xây dựng mạng lưới quan trắc 69
IV.2. Hiện trạng ô nhiễm arsen trong nước ngầm 70
IV.2.1. Hiện Trạng ô nhiễm arsen ở Đức Trọng 70
IV.2.2. Hiện Trạng ô nhiễm arsen ở Đơn Dương 72
IV.3. Kết quả về rủi ro lên sức khỏe cộng đồng 73
IV.3.1. Kết quả về rủi ro huyện Đức Trọng 73
IV.3.2. Kết quả về rủi ro huyện Đơn Dương 77
CHƯƠNG V. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 83
V.1. Kết luận 83
V.2. Kiến nghị 84

Phân tích, đánh giá hàm lượng arsenic trong nước ngầm tại tỉnh Lâm Đồng và đánh giá rủi ro lên sức
khỏe cộng đồng dân cư
Trang 3/88 trang TÀI LIỆU THAM KHẢO 86

Phân tích, đánh giá hàm lượng arsenic trong nước ngầm tại tỉnh Lâm Đồng và đánh giá rủi ro
lên sức khỏe cộng đồng dân cư
Phân tích, đánh giá hàm lượng arsenic trong nước ngầm tại tỉnh Lâm Đồng và đánh giá rủi ro
lên sức khỏe cộng đồng dân cư
Phân tích, đánh giá hàm lượng arsenic trong nước ngầm tại tỉnh Lâm Đồng và đánh giá rủi ro
lên sức khỏe cộng đồng dân cư
Phân tích, đánh giá hàm lượng arsenic trong nước ngầm tại tỉnh Lâm Đồng và đánh giá rủi ro lên sức
khỏe cộng đồng dân cư
Trang 4/88 trang


Phân tích, đánh giá hàm lượng arsenic trong nước ngầm tại tỉnh Lâm Đồng và đánh giá rủi ro lên sức
khỏe cộng đồng dân cư
Trang 5/88 trang khoanh vùng hàm lượng arsen trong nước ngầm, đánh giá rủi ro tiềm tàng do
tình trạng ô nhiễm đó gây ra đến sức khỏe người dân và đề xuất giải pháp phòng
ngừa ảnh hưởng của nó là điều hết sức cần thiết.
Nhiều nghiên cứu về arsen được thực hiện trước đây đã cho thấy Lâm
Đồng là một trong những tỉnh ở Tây Nguyên có nồng độ arsen cao đáng báo
động nhưng chưa có báo cáo chính thức như một số thành phố lớn khác của
nước ta.
Trong tỉnh Lâm Đồng, Đơn Dương và Đức Trọng là những huyện có vị trí
trọng điểm về phát triển kinh tế xã hội, là cửa ngõ ra vào thành phố Đà Lạt -
Trung tâm du lịch và hoạt động dịch vụ văn hoá - thể thao của tỉnh. Tuy nhiên,
bên cạnh những ưu thế về phát triển kinh tế, trên địa bàn hai huyện vẫn còn
nhiều hộ dân dùng nước giếng tự khai thác không qua xử lí và nhiều diện tích
thuộc vùng sâu vùng xa chưa được tiếp cận với nước sạch. Chính vì vậy, nguy
cơ những ảnh hưởng có hại từ nguồn nước ngầm đến người dân sử dụng nước
ngầm làm nguồn nước sinh hoạt tại hai huyện là khá cao.
Trên cơ sở đó, đề tài lựa chọn vấn đề “Phân tích, đánh giá hàm lượng
arsenic trong nước ngầm tại tỉnh Lâm Đồng và đánh giá rủi ro lên sức khỏe
cộng đồng dân cư” để thực hiện nghiên cứu nhằm xác định nồng độ arsen ở một
số huyện thuộc Lâm đồng và đánh giá ảnh hưởng tới sức khỏe người dân, từ đó
đưa ra những khuyến cáo và biện pháp phòng tránh giảm thiểu những tác động
có hại cho người dân trong hai huyện nói riêng và trong tỉnh Lâm Đồng nói
chung.
I.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: arsen trong nước ngầm và dân cư sử dụng

- Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm.
- Phương pháp thống kê toán học.
- Phương pháp đánh giá rủi ro.
I.6. Ý nghĩa của đề tài
- Đề tài tiến hành đánh giá hàm lượng arsen trên địa bàn khảo sát, từ đó
thu thập được các số liệu về những vị trí ô nhiễm arsen, xây dựng bản đồ nồng
độ arsen trên địa bàn hai huyện.

Phân tích, đánh giá hàm lượng arsenic trong nước ngầm tại tỉnh Lâm Đồng và đánh giá rủi ro lên sức
khỏe cộng đồng dân cư
Trang 7/88 trang - Từ những kết quả khảo sát, đề tài xác định được những vị trí có nồng độ
arsen cao và đưa ra cảnh báo cho người dân tại những khu vực này có những
biện pháp phòng tránh giảm thiểu tác hại của ô nhiễm arsen trong nước ngầm.
- Đề tài tiến hành đánh giá rủi ro đến sức khỏe người dân, từ đó thể hiện
được nguy cơ mắc các loại bệnh của người dân vùng nghiên cứu, góp phần xây
dựng hệ thống số liệu giúp các nhà quản lí môi trường xây dựng chương trình
quản lí giảm thiểu rủi ro tới sức khỏe người dân. CHƯƠNG II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
II.1. Tổng quan về arsen
II.1.1. Một số tính chất của arsen (As)
As chiếm 1.10
-4
% tổng số nguyên tử trong vỏ trái đất, chúng tồn tại chủ
yếu ở dạng khoáng vật sunfua: Sunfide Orpiment vàng – As
2

O
) 1,92
R
ion
E
5+
(A
O
) 0,47
E
ion hòa I
(kcal/ntg) 226
E
ion hòa II
(kcal/ntg) 466
E
ion hòa III
(kcal/ntg) 653
Độ âm điện 2,0

Phân tích, đánh giá hàm lượng arsenic trong nước ngầm tại tỉnh Lâm Đồng và đánh giá rủi ro lên sức
khỏe cộng đồng dân cư
Trang 8/88 trang Khối lượng riêng (g/cm
3
) 5,727
T
O

Asensunfua: As
4
S
6
. Asentrihalogenua: AsX
3
) và hợp chất As(V) (Asen oxit :
As
2
O
5
;Acid Asenic ;Asen Sunfua : As
2
S
5 ;
Asen Pentahalogenua : Chỉ có AsF
5
).
II.1.2. Dạng tồn tại của arsen trong môi trường
II.1.2.1. Sự xuất hiện của arsen và hợp chất arsen trong môi trường
Những nghiên cứu về sự hình thành của As trong môi trường và trong các
mẫu sinh học đang là những chủ đề được quan tâm đến nhiều nhất hiện nay. As
xuất hiện trong tự nhiên một cách phổ biến trong các khoáng vật, bên cạnh đó,
sự sử dụng As một cách rộng rãi trong các hoá chất nhuộm màu, thuốc trừ sâu,
thuốc diệt cỏ là những nguồn chính cho sự có mặt của arsenic trong môi trường.
Trên thực tế, trước đây As được ứng dụng trong một số lĩnh vực như sau:
 Trong y học: thạch tín được sử dụng trong thuốc bắc với tác dụng
trị suyễn hoặc dùng để chữa các bệnh ngoài da …

Phân tích, đánh giá hàm lượng arsenic trong nước ngầm tại tỉnh Lâm Đồng và đánh giá rủi ro lên sức

2–
) arsenic acids (H
3
AsO
4
, H
2
AsO
4

, HAsO
4
2–
), dimethylarsinate (DMA),
monomethylarsonate(MMA), arsenobetaine(AB) và arsenocholine (AC).
Những dạng hợp chất này minh hoạ cho sự đa dạng của các trạng thái oxy
hoá của As và kết quả là đưa đến sự phức tạp về hoá tính của nó trong môi
trường.
Trong pha nước với môi trường thoáng khí acid, Arsenic chiếm ưu thế ở
pH cực kỳ thấp (pH<2), trong khoảng pH từ 2 – 11 chúng được thay thế bởi
H
2
AsO
4

và HAsO
4
2–.
sulphur và sulphydryl như cystine, organic dithiols, proteins, enzymes nhưng
không phản ứng với amine.
Tuy nhiên As(V) lại phản ứng với nhóm nitrogen khử như amine nhưng
lại không phản ứng với nhóm sulphydryl.
Hàm lượng As trong nước ngầm phụ thuộc rất nhiều vào tính chất và
trạng thái môi trường địa hóa. Dạng As tồn tại chủ yếu trong nước ngầm là

Phân tích, đánh giá hàm lượng arsenic trong nước ngầm tại tỉnh Lâm Đồng và đánh giá rủi ro lên sức
khỏe cộng đồng dân cư
Trang 11/88 trang H
3
AsO
4
-1
(trong môi trường pH acid đến gần trung tính), HAsO
4
-2
(trong môi
trường kiềm).

Hình II.2. Sự phụ thuộc dạng tồn tại của arsen vào môi trường địa hóa
Hợp chất H
3
AsO
3
được hình thành chủ yếu trong môi trường oxy hóa-khử
yếu. Các hợp chất của As với Na có tính hòa tan rất cao, còn những muối của As

chế giải độc đối với các vi sinh vật và đóng vai trò quan trọng trong sự chuyển
hoá As từ trầm tích vào nước và không khí.
McBride và Wolfe cho rằng arsenat có thể bị chuyển hoá thành
dimethylarsine bởi Methanobacterium dưới điều kiện hiếu khí. Methylarsonic
được tạo thành từ sự methyl hoá arsenite có thể chuyển hoá qua các sản phẩm
trung gian và cuối cùng bị khử thành dimethylarsine.

Trong điều kiện acid loài nấm Cadida humicola có thể chuyển hoá
Arsenate thành Trimethylarsine. Một phần ít hơn của Trimethylarsine cũng
được tạo thành bởi loài nấm này từ Arsenite, methylarsonate và
dimethylarsinate. Những loài nấm có khả năng tạo ra sản phẩm trimethylarsine

Phân tích, đánh giá hàm lượng arsenic trong nước ngầm tại tỉnh Lâm Đồng và đánh giá rủi ro lên sức
khỏe cộng đồng dân cư
Trang 13/88 trang từ các hoá chất bảo vệ thực vật monomethylarsonate và dimethylarsinate bao
gồm: Candida humicola, Gliocaninum roseum và một giống của Penicillium.
Sự methyl hoá của As đóng vai trò quan trọng bởi vì kết quả của quá trình
là tạo ra các sản phẩm cực độc:

Hình II.3. Sự chuyển hóa trimethylarsine thành các sản phẩm cực độc
II.1.3.2. Độc học của arsen
Về mặt sinh học, As là một chất độc có thể gây một số bệnh trong đó có
ung thư da và phổi. Mặt khác As có vai trò trong trao đổi nuclein, tổng hợp
protit và hemoglobin. As ảnh hưởng đến thực vật như một chất cản trao đổi chất,
làm giảm mạnh năng suất, đặc biệt trong môi trường thiếu photpho. Trong môi
trường sinh thái, các dạng hợp chất As hóa trị (3) có độc tính cao hơn dạng hóa
trị (5). Môi trường khử là điều kiện thuận lợi để cho nhiều hợp chất As hóa trị 5

Phân tích, đánh giá hàm lượng arsenic trong nước ngầm tại tỉnh Lâm Đồng và đánh giá rủi ro lên sức
khỏe cộng đồng dân cư
Trang 15/88 trang Sự nhiễm độc As có thể phân loại thành các dạng nhiễm độc cấp tính và
nhiễm độc mãn tính với các biểu hiện:
 Ngộ độc As cấp tính : khát nước dữ dội, đau bụng, nôn mửa, tiêu
chảy, mạch đập yếu, bí tiểu và có thể tử vong .
 Nhiễm độc As mãn tính: xuất hiện các đốm sẫm màu trên thân thể
hay ở đầu các chi, niêm mạc lưỡi hoặc sừng hóa da (thường xuất hiện ở tay,
chân, phần cơ thể bị cọ sát nhiều hoặc tiếp xúc với ánh sáng nhiều), có thể gây
đến hoại tử, rụng dần từng đốt ngón chân cuối cùng sẽ có thể dẫn đến ung thư,
đột biến gen và tử vong.
 Sự nhiễm độc As mãn tính được phân làm bốn giai đoạn chính:
Giai đoạn tiền lâm sàng: chưa có biểu hiện tổn thương thực thể nhưng As
có thể phát hiện được tại các mẫu nước tiểu và mẫu mô cơ thể.
Giai đoạn lâm sàng: sự ảnh hưởng suất hiện trên da, hay gặp nhất là cơ thể
có bầm tím tay chân, trong trường hợp nặng có hiện tượng hóa sừng tại da ban
tay, lòng bàn chân. Theo Tổ chức y tế thế giới – WHO thì giai đoạn này xuất
hiện sau 5 đến 10 năm uống nước nhiễm thạch tín quá tiêu chuẩn.
Giai đoạn biến chứng: khi các triệu trứng lâm sàng càng trở nên trầm
trọng hơn, gan thận và lách sưng to, cơ thể bị viêm giác mạc, viêm phế quản và
đái tháo đường.
Giai đoạn cuối: Sự xuất hiện của bệnh ung thư (da, phổi )
As(III) thể hiện độc tính của nó bằng sự tấn công vào nhóm –SH làm ức
chế hoạt động của enzyme Dihydrolipoic acid protein là enzyme trong chu trình
acid citric.
S
3
bằng dithioaxetamit trong môi
trường axit HCl, hoặc H
2
SO
4
hoặc HClO
4
0,1N. Dung dịch chứa kết tủa được
đun trên bếp cách thuỷ, lọc lấy kết tủa sấy khô ở 200
0
C đến khối lượng không
đổi, rửa lại bằng nước cất và làm khô ở nhiệt độ 170
0
C. Cân kết tủa và tính hàm

Phân tích, đánh giá hàm lượng arsenic trong nước ngầm tại tỉnh Lâm Đồng và đánh giá rủi ro lên sức
khỏe cộng đồng dân cư
Trang 17/88 trang lượng As tương ứng. Tuy nhiên phương pháp này chỉ áp dụng với mẫu có hàm
lượng As lớn và phải thực hiện qua nhiều công đoạn.

II.1.4.2. Phương pháp phân tích thể tích
Xác định As dựa trên phản ứng oxi hoá khử: AsO
3
2-
+ I

hàm lượng antimony lớn hơn 5mg/L cũng ảnh hưởng đến việc xác định As do
hợp chất SbH
3
cũng tạo ra trong quá trình tạo asin và cũng tạo phức màu đỏ
bước sóng hấp thụ quang 510nm với bạc dithiocacbamat, vì vậy phương pháp
này chỉ cho phép xác định As trong mẫu có hàm lượng antimony nhỏ. Độ nhạy
và độ chính xác của phương pháp này tương đối cao, cho phép xác định cỡ
1mg/mL.
II.1.4.4. Phương pháp điện hoá-cực phổ Vol-ampe
Cường độ dòng phụ thuộc thế điện phân trong dung dịch và thế điện cực.
Người ta tiến hành điện phân và đo cường độ dòng với một dãy dung dịch chuẩn
biết trước nồng độ. Dựa vào đồ thị xác định được nồng độ chất phân tích khi biết

Phân tích, đánh giá hàm lượng arsenic trong nước ngầm tại tỉnh Lâm Đồng và đánh giá rủi ro lên sức
khỏe cộng đồng dân cư
Trang 18/88 trang cường độ dòng. Giá trị nửa thế sóng cho biết thành phần định tính, chiều cao
sóng cho biết thành phần định lượng của chất phân tích. Phương pháp này có
giới hạn phát hiện cỡ ng/mL.
II.1.4.5. Phương pháp phổ phát xạ nguyên tử ICP-AES
Khi nguyên tử ở trạng thái hơi, nhờ một nguồn năng lượng thích hợp như
nhiệt, điện để kích thích đám hơi nguyên tử tự do đó phát xạ, sau đó thu phân
li toàn bộ phổ phát xạ để đánh giá thành phần mẫu phân tích. Có thể dùng phổ
phát xạ để phân tích định tính, định lượng. Đây là phương pháp hiện đại cho độ
nhạy và độ chính xác rất cao, nó tuỳ thuộc vào các loại thiết bị khác nhau, cho
phép xác định lượng vết nguyên tố mà không cần làm giàu và một ưu điểm đặc
trưng của phương pháp đó là cho phép phân tích hàng loạt các nguyên tố.
Phương pháp này, năng lượng nhiệt của nguồn kích thích được quyết định bởi

H
2
. Dựa vào tính chất nguyên tử
của từng nguyên tố mà chọn ngọn lửa cho nhiệt độ thích hợp. Phân tích, đánh giá hàm lượng arsenic trong nước ngầm tại tỉnh Lâm Đồng và đánh giá rủi ro lên sức
khỏe cộng đồng dân cư
Trang 19/88 trang II.1.4.8. Phương pháp quang phổ hấp thụ không ngọn lửa (ETA-
AAS)
Quá trình nguyên tử hoá được thực hiện trong cuvet graphit hay thuyền
tăng tan với thời gian ngắn (sự nguyên tử hoá tức khắc) nhờ năng lượng của
dòng điện công suất lớn ở môi trường khí trơ. Nguồn năng lượng thường được
dùng hiện nay là dòng điện có cường độ dòng rất cao (từ 50-600A) và hiệu điện
thế thấp (nhỏ hơn 12V) hay năng lượng của dòng cao tần cảm ứng.
II.1.5. Tiêu chuẩn về arsen
Theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ngầm QCVN
09:2008/BTNMT, tiêu chuẩn nước ngầm đối với arsen là 0,05 mg/L.
Trước thảm hoạ thạch tín đang hiện hữu ở nhiều Quốc gia bị nhiễm arsen,
trong đó Băng-la-đét nghiêm trọng nhất, ngày 24/5/2000, Cục Bảo vệ môi
trường Hoa Kì (EPA) quyết định giảm thông số arsen trong Tiêu chuẩn nước
uống của Hoa Kì từ 0,05 mg As/L, ngang TCVN, xuống còn 0,005 mg As/L.
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) từ năm 1993 đến nay, có khuyến cáo, nồng
độ Arsen trong nước uống không được lớn hơn 0,01mg/L. Từ năm 2002, Bộ Y
tế Việt Nam đã đưa tiêu chuẩn arsen nhỏ hơn hoặc bằng 0,01 vào áp dụng. Hiện
nay, Tiêu chuẩn Nhà nước về nước uống TCVN 5501-1991 và Tiêu chuẩn vệ
sinh đối với nước uống và sinh hoạt của Bộ Y tế QĐ 505:2002/BYT qui định

thực tế một cách rộng rãi. Các quá trình hấp phụ và trao đổi ion hiện nay đang là
những quá trình có khuynh hướng được sử dụng nhiều trong thực tế do chi phí
thiết bị và bảo dưỡng thấp, không yêu cầu trình độ chuyên môn cao khi vận
hành.
II.1.6.2. Một số cách để hộ dân tự phòng tránh arsen
 Ở hộ gia đình dùng bơm điện
Giàn mưa làm bằng ống nhựa, đường kính 27mm, khoan 150-200 lỗ, mỗi
lỗ có đường kính 1,5-2mm tuỳ công suất máy bơm đang sử dụng. Dưới cùng của
bể lọc là lớp sỏi đỡ dày khoảng 1 gang, trên lớp sỏi đỡ là lớp cát dày khoảng
2,5-3 gang. Không dùng loại đệm lót giường, hoặc than củi dễ sinh phản ứng
phụ, làm tăng nồng độ nitrit trong nước.
 Ở hộ gia đình dùng bơm tay

Phân tích, đánh giá hàm lượng arsenic trong nước ngầm tại tỉnh Lâm Đồng và đánh giá rủi ro lên sức
khỏe cộng đồng dân cư
Trang 21/88 trang Nước từ vòi bơm róc vào máng mưa. Máng mưa cần có nhiều lỗ nhỏ để
không khí dễ tan vào nước, phát huy hiệu quả oxi hoá của oxi có sẵn trong
không khí. Sau khi qua máng mưa, nước cho chảy qua bể lọc có 3 ngăn: ngăn
đầu dùng lọc cặn, nước thô chảy từ dưới lên; có đường xả cặn ở đáy, ngăn hai
dùng lọc tinh, nước chảy từ trên xuống, ngăn thứ ba dùng chứa nước sạch. Kích
thước tối ưu bể lọc phụ thuộc vào công suất, lưu lượng từng giếng. Trung tâm
nước sạch và VSMT NT tỉnh Thái Bình đã sử dụng loại hình này từ lâu.

II.1.7. Tình hình ô nhiễm arsen trên thế giới, Việt Nam và Lâm Đồng
II.1.7.1. Tình hình ô nhiễm arsen trên thế giới
Arsen đang là mối quan tâm hàng đầu của những nước như Băngladet, Ấn
Độ, Hoa Kỳ, Myanma, Thái Lan và Việt Nam. Năm 2005, Trung Quốc là nhà

hàm lượng trên thay đổi từ 0.059 đến 0.105 mg/L.
Theo Peter Ravenscroft từ khoa Địa -Trường Đại học Cambridge, khoảng
80 triệu người trên khắp thế giới tiêu thụ khoảng 10 tới 50 phần tỷ arsen trong
nước uống của họ.

II.1.7.2. Tình hình ô nhiễm arsen ở Việt Nam
Do cấu tạo địa chất, nhiều vùng ở nước ta nước ngầm bị nhiễm arsen.
Theo thống kê chưa đầy đủ của Bộ Y tế (2009), cả nước có khoảng hơn 1 triệu
giếng khoan, trong đó nhiều giếng có nồng độ arsen cao hơn từ 20-50 lần nồng
độ cho phép (0.01mg/L), ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ, tính mạng của cộng
đồng.

Phân tích, đánh giá hàm lượng arsenic trong nước ngầm tại tỉnh Lâm Đồng và đánh giá rủi ro lên sức
khỏe cộng đồng dân cư
Trang 23/88 trang
Hình II.5. Bản đồ các khu vực nhiễm arsen trên toàn quốc
(Trên bản đồ Lâm Đồng đang là điểm nóng về ô nhiễm arsen)
Theo kết quả cuộc khảo sát của Viện Công nghệ Môi trường, Viện Khoa
học và Công nghệ Việt Nam, Cục Thuỷ Lợi, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh
môi trường nông thôn 2004, tại châu thổ sông Hồng, những vùng bị nhiễm
nghiêm trọng nhất là phía Nam Hà Nội, Hà Nam, Hà Tây, Hưng Yên, Nam
Định, Ninh Bình, Thái Bình và Hải Dương. Ở Đồng bằng sông Cửu Long, cũng
phát hiện nhiều giếng khoan có nồng độ arsen cao nằm ở Đồng Tháp và An
Giang. Hiện 21% dân số Việt Nam đang dùng nguồn nước nhiễm arsen vượt quá
mức cho phép và tình trạng nhiễm độc arsen ngày càng rõ rệt và nặng nề trong
dân cư. Song phần lớn người dân vẫn không hề hay biết những tác hại nghiêm
trọng đối với sức khỏe khi tích tụ những chất độc này trong cơ thể.

Nam), qua khám lâm sàng 650 người dân, trong đó xét nghiệm cận lâm sàng cho
100 người, Viện Y học lao động và vệ sinh môi trường đã phát hiện 28,3% bị
các bệnh về da (so với tỷ lệ trung bình cả nước là 3-5%), tỷ lệ ung thư các bộ
phận tiêu hóa và tiết niệu cao hơn các dạng ung thư khác, có 31 trường hợp thiếu
máu trong đó 28 người thiếu máu có liên quan đến nhiễm độc arsen mãn tính.

Phân tích, đánh giá hàm lượng arsenic trong nước ngầm tại tỉnh Lâm Đồng và đánh giá rủi ro lên sức
khỏe cộng đồng dân cư
Trang 25/88 trang Theo kết quả xét nghiệm arsen do UNICEF hỗ trợ Việt Nam từ 2001 đến
2004 tại 25 tỉnh thành thì Hà Nam đứng đầu vì mức độ ô nhiễm arsen nghiêm
trọng nhất. Trong 7.040 mẫu nước lấy từ giếng khoan, có tới 3.530 mẫu có hàm
lượng lớn hơn 0,05 mg/L. Theo thống kê ban đầu của UNICEF, tại Việt Nam có
khoảng 10 triệu người có nguy cơ bị bệnh do tiếp xúc với arsen. Qua những số
liệu thu thập được cho thấy sự ô nhiễm arsen ở miền Bắc cao hơn miền Nam.
UNICEF khẳng định mức độ ô nhiễm arsen của Hà Nam nghiêm trọng như ở
Bangladesh - nơi được đánh giá là có độ ô nhiễm arsen cao trên thế giới.
UNICEF cho rằng sự ô nhiễm arsen ở phía Nam của Hà Nội là vấn đề nghiêm
trọng nhất ở Việt Nam hiện nay.
Những cuộc khảo sát về nồng độ arsen trong nước sinh hoạt của người
dân khu vực nông thôn do Cục Thuỷ lợi, Trung tâm nước sạch và Vệ sinh môi
trường nông thôn-CERWASS (Bộ NN&PTNT), Viện Công nghệ và Môi
trường, Bộ Y tế tiến hành trên 23 tỉnh cho kết quả nồng độ arsen trong nước ở
các tỉnh này vượt chuẩn cho phép 47,17%.
Trong đó, các tỉnh có nguồn nước nhiễm arsen cao là Hà Nam (64,03%),
Hà Nội (61,63%), Hải Dương (51,99%). Đáng nói là nhiều mẫu nước có hàm
lượng arsen vượt quá 100 lần so với tiêu chuẩn cho phép.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status