Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Rau xanh là nhu cầu không thể thiếu được trong mỗi bữa ăn hàng ngày
của con người trên khắp hành tinh. Rau cung cấp cho cơ thể con người nhiều
loại Vitamin, muối khoáng, đường, tinh bột, prôtêin… Đặc biệt khi lương
thực và các thức ăn giàu đạm được đảm bảo thì nhu cầu về số lượng và chất
lượng rau càng gia tăng như là một nhân tố tích cực trong cân bằng dinh
dưỡng và kéo dài tuổi thọ. Những năm gần đây, sản xuất nông nghiệp nói
chung và sản xuất rau nói riêng đã trở thành vấn đề mang tính chất toàn cầu vì
sự lạm dụng quá mức phân bón, thuốc bảo vệ thực vật; mặt khác quá trình đô
thị hóa, công nghiệp hóa và ô nhiễm môi trường đã mang đến nguy cơ lớn
làm nhiễm độc môi trường sản xuất nông nghiệp, nhiễm độc môi trường sống
cũng như sức khoẻ của toàn cộng đồng.
Cải xoong hay còn gọi là xà lách xoong (Tên khoa học là Nasturtium
officinale hoặc Nasturtium microphyllum; tên tiếng anh là Watercress) là một
loại thực vật thủy sinh hay bán thủy sinh, sống lâu năm và lớn nhanh, có
nguồn gốc từ Châu Âu tới Trung Á và là một trong số những loại rau ăn được
con người dùng từ rất lâu. Các loài thực vật này là thành viên của họ cải
(Brassicaceae), về mặt thực vật học rau cải xoong có họ hàng với rau tần và
mù tạc, tất cả chúng đều đáng chú ý vì có mùi vị hăng và cay. Cải xoong chứa
một lượng đáng kể sắt, canxi và axít folic cùng với các vitamin A và C, đi
kèm theo đó là một số lợi ích khi ăn rau cải xoong, chẳng hạn nó có tác dụng
như một chất kích thích nhẹ, một nguồn hóa chất thực vật, có tác dụng chống
ôxi hóa, lợi tiểu, long đờm và trợ giúp tiêu hóa. Tại một số khu vực, cải xoong
được coi là cỏ dại nhưng tại những khu vực khác thì nó lại được coi là rau ăn
hay cây thuốc. Ngoài ra, nó còn có các vitamin B1, B2, E, và phốt pho, iốt và
một số khoáng chất vi lượng có tác dụng bảo vệ sức khỏe, chống bệnh tật,
nhiễm trùng, chống sự lão hóa, giữ gìn xuân sắc tươi trẻ. Hiện nay rau cải
xoong rất được ưa chuộng để làm thực phẩm cải thiện bữa ăn hàng ngày đặc
biệt được tiêu thụ rất nhiều cho các nhà hàng, khách sạn… vì nó là món ăn
của Thái Nguyên.
- Xác định được hàm lượng Ni trong cải xoong tại các vụ thu hoạch
khác nhau.
2
- Xác định được hàm lượng Ni trong các phần thu hoạch khác nhau của
cải xoong.
- xác định được mối tương quan giữa hàm lượng Ni trong đất, nước
trồng cải xoong và trong cải xoong nếu có thể.
1.4. Ý nghĩa của đề tài
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Đóng góp về mặt lý luận cho việc giải thích các mối tương quan giữa
hàm lượng các kim loại nặng trong đất, trong nước và hàm lượng của
chúng trong phần sử dụng của rau cải xoong tại Thai Nguyên.
- Đề tài giúp sinh viên có cơ hội áp dụng những kiến thức đã học vào
thực tiễn, nâng cao trình độ chuyên môn đồng thời tích lũy kinh nghiệm thưc
tế cho bản thân sau này khi ra trường.
- Đề tài là cơ sở cho những kết luận khoa học về hàm lượng NiKen
trong rau cải xoong tại tỉnh Thái Nguyên nói riêng, là cơ sở để nghiên cứu
hàm lượng niKen trong rau cải xoong của các vùng khác nhau hay trên cả
nước nói chung. Từ đó, phân tích những tác dụng cũng như ảnh hưởng đến
sức khỏe của con người khi sử dụng rau cải xoong.
1.4.2. Ý nghĩa trong thực tiễn
Đề tài có ý nghĩa trong việc bảo vệ sức khoẻ của con người, đồng thời
cung cấp số liệu về hàm lượng niken trong rau cải xoong để:
- Phổ biến, khuyến cáo cho người dân khi sử dụng rau cải xoong, góp
phần mở rộng hiểu biết của người dân khi sử dụng cải xoong làm thực phẩm.
- Làm cơ sở cho các cơ quan chức năng đưa ra các biện pháp phát triển
cụ thể để sản xuất rau cải xoong sạch trên quy mô rộng.
- Lợi dụng khả năng hấp thụ niken của rau cải xoong để cải tạo môi
trường đất, môi trường nước bị ô nhiễm niken.
“Kim loại nặng” (KLN) heavy metals là thuật ngữ chỉ nhóm các kim
loại có tỷ trọng lớn hơn 4 – 5 g/cm
3
. Thuật ngữ này được sử dụng một cách
rộng rãi và thường để chỉ các nguyên tố Cu, Pb, Zn, Hg, Cd, Cr, Mn, Ni, là
những nguyên tố liên quan đến vấn đề ô nhiễm môi trường và vấn đề độc tố
4
đối với con người. Một số kim loại trong nhóm KLN là cần thiết cho sự sinh
trưởng của sinh vật, đó là “những nguyên tố thiết yếu” (essentialtrace
elements) mà thiếu chúng sinh vật sẽ bị chết hoặc kém phát triển, nhưng ở
nồng độ lớn sẽ gây độc. Vì thế chúng được gọi là những nguyên tố “dinh
dưỡng vi lượng” (micronutrients). Trong số này gồm: Cu, Mn, Fe, Zn, Ni, Co,
Cr, B, Mo Còn những nguyên tố không có chức năng sinh hoá cần thiết
chưa biết tới được gọi là những nguyên tố “không thiết yếu” (non – essential).
Ni nằm trong nhóm này. Chúng gây độc ở hàm lượng vượt quá giới hạn
chống chịu của sinh vật nhưng không gây ra sự rối loạn chức năng của quá
trình trao đổi chất do thiếu hụt các nguyên tố dinh dưỡng vi lượng (Alloway
B.J and Ayres D.C, 1997) [20]. Nguồn gốc phát thải của KLN có thể là tự
nhiên (như Asen), hoặc từ hoạt động của con người, chủ yếu là từ các hoạt
động sản xuất công nghiệp (các chất thải công nghiệp) và sản xuất nông
nghiệp, hoạt động hàng hải (các chế phẩm phục vụ nông nghiệp, hàng hải ).
2.1.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài
Trong thực tế các KLN trong đất hay trong nước luôn luôn diễn ra quá
trình trao đổi với các ion bề mặt keo đất, chúng tạo phức với các chất hữu cơ
hoặc vô cơ khác và chịu ảnh hưởng của pH môi trường. Đó là các tác nhân
quyết định khả năng di động của chúng và dạng KLN di động đó được cây
trồng hấp thụ cùng quá trình trao đổi nước và muối khoáng trong cây. Chính
do những nguy hiểm vì hàm lượng KLN cao thêm trong dây truyền thực
phẩm nên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về sự tích luỹ KLN vào cây trồng.
Hàm lượng KLN tích luỹ trong cây phụ thuộc vào khả năng đồng hoá KLN
làm tăng lượng KLN trong sản phẩm nông sản (Nguyễn Lan Anh, 2000) [1].
+ Việc dùng thuốc BVTV có chứa các KLN cũng làm tăng hàm lượng
KLN trong sản phẩm. Tuy nhiên, vấn đề này đã được giảm thiểu đáng kể vì hiện
nay nhiều loại thuốc đã bị cấm sử dụng (Hoàng Anh Cung và CS, 1996) [7].
- Quá trình chế biến, bao gói, bảo quản cũng làm tăng hàm lương KLN
trong sản phẩm rau quả, đặc biệt đối với rau quả có một lượng lớn axit hữu
cơ, rau quả muối chua. KLN đưa vào thông qua nước rửa, các thiết bị sành sứ
tráng men có chứa chì monoaxit cao, cá hộp sắt mạ thiếc, hàn thiếc (Bùi
Quang Xuân và cs, 1996) [19].
Nồng độ KLN quá ngưỡng ảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng và sự
phát triển của cây trồng cũng như của con người và động vật. Khi hàm lượng
KLN trong cơ thể thiếu hay thừa cũng đều gây ra những bệnh lý nguy hiểm.
Hàm lượng KLN đối với cơ thể khác nhau thì khác nhau. Ở người và động vật
6
thì sự tích luỹ KLN phụ thuộc vào hàm lượng của chúng có trong thành phần
thức ăn, thời gian tiêu thụ cũng như thời gian sinh trưởng và vị trí của loài
trong chuỗi thức ăn. Vị trí của một loài trong chuỗi thức ăn ở bậc càng cao thì
sự tích luỹ KLN càng lớn (Mon Roe T. Morgan, 1991) [23].
* Kẽm (Zn): Kẽm là thành phần tự nhiên của thức ăn và là chất cần
thiết cho đời sống con người cũng như các loài động vật. Một khẩu phần thức
ăn bình thường hàng ngay cung cấp từ 0,17 đến 0,25 mg Zn/kg thể trọng.
Hàm lượng kẽm được quy định giới hạn trong thức ăn (từ 5 đến 10 ppm) sẽ
không ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng. Ngộ độc do kẽm cũng là ngộ
độc cấp tính, do ăn nhầm phải một lượng lớn kẽm (5-10g ZnSO
4
hoặc 3-5g
ZnCl
2
) có thể gây chết người với triệu chứng như có vị kim loại khó chịu và
dai dẳng trong miệng, nôn, ỉa chảy, mồ hôi lạnh, mạch đập khẽ, chết sau 10
Protein và chuyển về tích luỹ ở thận khoảng 1% còn 99% nhờ thận thải ra
ngoài khi bị độc Cd trước tiên sẽ bị suy thận, hỏng tuỷ xương và ảnh hưởng
đến thần kinh. Điển hình ngộ độc Cd là bệnh “Ouch,Ouch” xuất hiện ở Nhật
Bản do ăn phải gạo nhiễm Cd rất nhiều cư dân bị ngộ độc dẫn đến xương giòn
dễ gãy và nặng hơn nữa là thận hỏng, xương hổng. Một số nghiên cứu khác
cho thấy nhiễm độc Cd có thể dẫn đến quái thai và thai chết non. Theo quy
định của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) lượng Cd được người lấy và chấp
nhận tối đa một ngày là 100mg trung bình là 1mg/1kg trọng lượng cơ thể
(FAO/WHO, 1993) [22].
2.2. Sơ lược về rau an toàn
2.2.1.Tình hình sản xuất rau và rau an toàn trên thế giới
Hiện nay trên thế giới nhu cầu về rau xanh rất lớn vì rau xanh là nguồn
cung cấp chất khoáng và Vitamin cần thiết đối với cơ thể con người.
8
S S
Enzim Zn + Cd
2+
Enzim Cd + Zn
S S
Theo tổ chức Nông – Lương thế giới(FAO) hiện nay trên thế giới có
khoảng 15 triệu ha đất sử dụng cho trồng rau, bao gồm hơn 120 chủng loại
rau khác nhau với sản lượng lên tới 426.187 triệu tấn. Trong đó những chủng
loại rau quan trọng chiếm diện tích lớn nhất là cà chua 2,7 triệu ha, dưa hấu
1,93 triệu ha, hành 1,91 triệu ha, cải bắp 1,7 triệu ha, ớt 1,1 triệu ha (Bùi
Bảo Hoàn và cs, 2000) [10]. Tuy nhiên, trình độ phát triển nghề trồng rau của
các nước không giống nhau. Ở các nước phát triển cây rau được chú trọng
hơn so với các nước đang phát triển.
Ngày nay, cùng với mức độ tăng trưởng nhanh của sản xuất nông
nghiệp, trình độ thâm canh cao, ngành trồng trọt đã bộc lộ những mặt trái của
nó. Việc ứng dụng ồ ạt các chất hoá học như phân bón hoá học, thuốc trừ sâu
Trung bình cứ mỗi năm tăng 278.200 tấn. Năng suất rau nước ta năm cao nhất
(1997) đạt 138,8 tạ/ha bằng 74% so với năng suất trung bình toàn thế giới
(178 tạ/ha). Nhưng năng suất rau vẫn bấp bênh năm 2000 năng suất rau của
chúng ta là 135 tạ/ha. Sở dĩ năng suất bếp bênh như vậy là do chúng ta chưa
có bộ giống tốt chủ yếu là do nông dân tự để giống. Chủng loại rau của chúng
ta tuy phong phú nhưng cơ cấu cây trồng lại không phù hợp với nhu cầu của
người tiêu dùng, cơ cấu canh tác của ta là 54% rau ăn lá, 26% rau ăn quả, 5%
rau ăn củ, 7% rau ăn bắp thân, hoa, 8% là rau gia vị. Trong khi đó thị hiếu của
người tiêu dùng lại chuyển sang rau gia vị, rau ăn thân, ăn quả. Ngoài ra mức
độ an toàn của sản phẩm chưa cao, sản phẩm rau và môi trường canh tác bị ô
nhiễm ngày một gia tăng. Đó là nguyên nhân làm cho sản phẩm rau của chúng
ta chưa hấp dẫn được người tiêu dùng trong nước cũng như người tiêu dùng
quốc tế (Đỗ Ngọc Hải, 2003) [9].
Tuy nhiên, việc nghiên cứu và sản xuất rau an toàn ở nước ta đã được
triển khai ở một số thành phố như: Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Lạt đã thu
được những kết quả nhất định đem lại hiệu quả kinh tế và hiệu quả môi
trường cho người sản xuất và người tiêu dùng. Nhưng vấn đề về vốn và lưu
thông phân phối lại là một trở ngại lớn cho quá trình sản xuất khi chúng được
sản xuất trên quy mô lớn.
2.2.3. Tiêu chuẩn chung để sản xuất rau an toàn
2.2.3.1. Tiêu chuẩn về rau an toàn
* Tiêu chuẩn chung
- Rau an toàn là loại rau quả thương phẩm phải đảm bảo phẩm chất,
tươi, không bị dập nát, héo úa, sạch đất cát,
10
- Rau phải có hàm lượng NO
3
-
, kim loại nặng và dư lượng thuốc bảo vệ
thực vật, vi sinh vật ở trong mức cho phép của tổ chức y tế thế giới (WHO).
Những KLN khi xâm nhập vào cơ thể quá ngưỡng cho phép sẽ gây độc
hại cho cơ thể, Al có thể gây bệnh còi xương, Zn và Cd gây nôn mửa, Pb gây
thiếu máu, giảm hồng cầu, đau bụng, tăng huyêt áp. Asen chỉ gây hại khi ở
dạng hợp chất, quá ngưỡng sẽ gây chứng có chịu, đau bụng, ngứa, đau khớp,
suy nhược Ngoài ra có thể gây tổn thương tới gan, thận hoặc làm tan máu.
Bảng 2.1: Ngưỡng cho phép một số KLN và độc tố trong rau quả tươi
Đơn vị : mg/kg sản phẩm tươi
Nguyên tố Hàm lượng Nguyên tố Hàm lượng
11
Asen
Chì
Cadimi
Thủyngân
Đồng
0,2
0,5 – 1
0,02
0,005
5
Kẽm
Bo
Titan
Aflatoxin
Patulin
10
1,8
0,3
0,005
0,05
(Nguồn: QĐ 04/2007 - Bộ Nông nghiệp, 2007) [4].
qua khu công nghiệp và đô thị lớn để tưới cho rau an toàn. Nước rửa rau phải
dùng nước giếng khoan đã lọc qua bể lọc hoặc nước đã được qua xử lý.
* Tiêu chuẩn không khí
Vùng rau an toàn phải được bố trí trên khu vực có môi trường không
khí trong sạch, cách xa các khu công nghiệp và các trục đường giao thông
chính. Các chỉ tiêu về môi trường không khí như lượng bụi, SO
2
, Pb, phải
đạt tiêu chuẩn cho phép theo TCVN (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn, 2007) [4].
2.2.3.4. Quy trình chung để sản xuất rau an toàn
Mỗi một loại rau quả đều có một quy trình sản xuất riêng tuỳ theo nhu
cầu sinh lý của chúng, để đảm bảo tiêu chuẩn rau an toàn cung cấp cho nhu
cầu của thị trường cần phải thực hiện đầy đủ các quy định này. Ngoài việc
đảm bảo các yếu tố môi trường đất, nước, không khí để sản xuất rau an toàn
cần tuân thủ các quy định sau :
- Thời vụ: Phải sản xuất nhiều chủng loại rau an toàn để rải vụ và cung
cấp đủ cho nhu cầu người tiêu dùng, tránh tình trạng thiếu rau thời kỳ giáp vụ,
thường có các thời vụ sau : Vụ Đông, vụ Xuân, vụ Đông Xuân, vụ Hè, vụ Hè
Thu và vụ Thu Đông.
- Giống: Các loại rau ăn lá, hoa, thân, củ, quả, hạt đều có thể sản xuất
theo quy trình rau an toàn. Tuy nhiên, mỗi loại rau thích ứng với từng loại đất
và điều kiện sinh thái khác nhau. Các loại hạt giống và cây con đều phải sạch
sâu bệnh, giống nhập nội phải qua kiểm dịch thực vật trước khi đưa vào sản
xuất. Cần thiết phải xử lý hạt giống trước khi gieo trồng.
- Phân bón: Tuyệt đối không được sử dụng phân tươi hoặc sử dụng
nước bẩn để hoà tan phân và pha thuốc trừ sâu. Hạn chế sử dụng phân đạm
chứa gốc NO
3
-
nghệ xử lý KLN, loại chất ô nhiễm mà công nghệ vi sinh lúc bấy giờ chưa
giải quyết được. (Võ Văn Minh, 2009) [12].
Công nghệ thực vật xử lý ô nhiễm có thể dùng để xử lý các chất như
KLN, Thuốc trừ sâu, dung môi, thuốc súng, dầu mỏ, các hợp chất hữu cơ đa
14
vòng thơm, Nước rỉ rác, nước thải nông nghiệp, chất thải khai khoáng và các
chất ô nhiễm phóng xạ
Trong mấy năm qua một số tạp chí hàng đầu trên thế giới đã xuất bản
các ấn phẩm tập chung vào các khía cạnh khác nhau của công nghệ này. Công
nghệ thực vật xử lý ô nhiễm nhằm mục đích tìm kiếm hướng tiếp cận mới
hiệu quả về kinh tế và than thiện với môi trường để loại bỏ kim loại độc hại từ
các vùng chứa chất thải nguy hại.
Quá trình hút tách KLN nhờ thực vật hay còn gọi là quá trình tích lũy
nhờ thực vật là quá trình hấp thụ và chuyển hóa các KLN trong đất thong qua
rễ vào các cơ quan khí sinh của thực vật. Các loài thực vật có khả năng này
được gọi là các loài thực vật siêu tích tụ, chúng có khả năng hấp thụ một
lượng lớn các KLN một cách không bình thường so với các loài thực vật khác
(ví dụ hấp thụ 0,1% đối với Cr, Cu, Ni hoạc 1% đối với Zn, Mn trong thân).
Các loài siêu tích tụ phân bố rộng trong hệ thống thực vật, tuy nhiên về đặc
điểm canh tác, phòng trừ dịch bệnh, nhu cầu dinh dưỡng, sinh lý của các đối
tượng này chưa được biết nhiều. (Võ Văn Minh, 2009) [12].
Quá trình hút tách các chất nhờ thực vật là việc sử dụng các loài thực
vật siêu tích tụ để loại bỏ kim loại trong đất bằng cách hấp thụ kim loại từ rễ
chuyển lên thân, sau đó các chất ô nhiễm trong thân sẽ được thu hoạch, xử lý
tiếp như là các chất thải nguy hại hoạc xử lý bằng cách phục hồi kim loại. Tùy
thuộc vào KLN ô nhiễm mà lựa chọn 1 loài thực vật hay kết hợp nhiều loài để
trồng xử lý, tuy nhiên cần phải tiến hành thử nghiệm để xác định các đặc
điểm thích hợp để đảm bảo cho quá trình sinh trưởng, phát triển của thực vật.
(Võ Văn Minh, 2009) [12].
Sau thời gian trồng nhiều tuần hoạc nhiều tháng, thực vật được phân
nhưng có thể chống chịu cao đến 25,000mgZn/kg mà không bị giảm sản
lượng. Thậm chí khi sản lượng thấp (5 tấn/ha) điểm bắt đầu giảm sản lượng –
Zn được loại bỏ cũng tới 125kg/ha. Như vậy, có thể kết luận rằng khả năng
siêu tích tụ và chống chịu cao quan trọng hơn khả năng cho sinh khối cao.
Một số tác giả khác cho rang sản lượng quan trọng hơn 2 lần so với đặc diểm
siêu tích tụ, nhưng các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm và ngoài thực địa
đều cho thấy các loài đó có thể đạt được 5 tấn/ha trước khi sinh sản để tăng cả
sản lượng và nồng độ kim loại trong thân. Hơn nữa việc tái chế kim loại trong
16
thân với mục đích thương mại đối với các loài siêu tích tụ tốt hơn là phải trả
tiền để xử lý sinh khối. (Võ Văn Minh, 2009) [12].
Trong một số trường hợp, để xử lý 1 nguyên tố trong đất bằng thực vật
đòi hỏi phải bổ sung vào đất các yếu tố khác, bởi vì hóa tính đất hoạc thực vật
làm giảm khả năng hấp thụ và chuyển hóa lên thân. Khi them yếu tố kìm như
HEDTA, EDTA vào đất khả năng hòa tan và linh động của KLN tăng, tiếp
xúc với thực vật đẽ dàng hơn. (Trần Kông Tấu và CS, 2005) [15].
2.3.3. Các cơ chế của công nghệ thực vật xử lý kim loại nặng trong đất
Công nghệ thực vật xử lý KLN trong đất là một dạng của công nghệ
thực vật xử lý ô nhiễm. Đây là loại công nghệ bao gồm phức hệ các cơ chế
khác nhau của mối quan hệ giữa thực vật và môi trường đất.
2.3.3.1.Cơ chế chiết tách chất ô nhiễm bằng thực vật.
Quá trình chiết tách chất ô nhiễm bằng thực vật là quá trình xử lý chất
độc đặc biệt là KLN, bằng cách sử dụng các loài thực vật hút chất ô nhiễm qua
rễ sau đó chuyển hóa lên các cơ quan trên mặt đất của thực vật. Chất ô nhiễm
tích lũy vào thân cây và lá, sau đó thu hoạch và loại bỏ khỏi môi trường.
2.3.3.2. Cơ chế cố định chất ô nhiễm bằng thực vật.
Quá trình xói mòn, rửa trôi và thẩm thấu có thể di chuyển chất ô nhiễm
trong đất vào nước mặt, nước ngầm. Cơ chế cố định chất ô nhiễm nhờ thực
vật là cách mà chất ô nhiễm tích lũy ở reexcaay và kết tủa trong đất. Quá trình
diễn ra nhờ chất tiết ở rễ thực vật cố định chất ô nhiễm và khả năng linh động
* Hạn chế
Bên cạnh nhiều khía cạnh tích cực, công nghệ thực vật xử lý ô nhiễm
cũng còn một số hạn chế sau:
- Xử lý chậm hơn phương pháp hóa lý, vì vậy phải mất thời gian dài.
Thực vật xử lý một lượng nhỏ chất ô nhiễm qua mỗi mùa trồng, do đó nó có
thể mất nhiều thập kỉ mới có thể làm sạch chất ô nhiễm và chất ô nhiễm vẫn
không được xử lý hoàn toàn.
- Khí hậu và các yếu tố vật lý, hóa học, nồng độ chất ô nhiễm ảnh
hưởng đến khả năng sinh trưởng, phát triển của các loài thực vật. Các nhà
khoa học cho rằng, chỉ có những vùng đất ô nhiễm nhẹ mới có thể sử dụng
được phương pháp này, vì hầu hết các loài thực vật không thể sinh trưởng
trong điều kiện môi trường ô nhiễm nặng.
18
- Chất ô nhiễm hòa tan có thể thẩm thấu ra ngoài vùng rễ phụ thuộc vào
yếu tố ngăn chặn
- Thực vật dùng để xử lý ô nhiễm thường bị giwois hạn về chiều dài rễ.
- Sử dụng các loài thực vật nhập nội có thể ảnh hưởng đến đa dạng
sinh học
- Xử lý thực vật sau xử lý ô nhiễm cũng cần được quan tâm. Sinh khối
thực vật thu hoạch từ quá trình xử lý ô nhiễm được xép vào loại nào, xử lý ra
sao? Vì vậy cần phải tiêu thụ và xử lý thích hợp.
Nói chung những lợi ích và hạn chế của công nghệ thực vật dùng trong
xử lý ô nhiễm cần phải được đánh giá đối với từng dự án cụ thể để xác định
loại công nghệ nào là phù hợp nhất. Vì vậy việc kết hợp các cơ chế khác nhau
để xử lý ô nhiễm môi trường được cho là có tính khả thi nhất. (Võ Văn Minh,
2009) [12].
2.3.4. Một số vấn đề môi trường cần quan tam đối với công nghệ thực vật
xử lý ô nhiễm
Có rất nhiều vấn đề cần quan tâm về mặt môi trường liên quan đến việc
sử dụng công nghễ thực vật xử lý ô nhiễm. một trong mối quan tâm lớn nhất
B1, B2, C và nhiều chất khoáng khác. Đặc biệt, lượng iôt trong rau cải xoong
rất cao 20 - 30mg/100g rau cải xoong phần ăn được. Vitamin C cao (40 -
50mg/100g rau). Nhờ trong rau cải xoong chứa lượng vitamin C cao, lại có
vitamine A, B1, B2 nên đã giúp bảo vệ sức khỏe, chống oxy hóa, chống độc,
làm tăng sức đề kháng cho cơ thể, chống hiện tượng lão hoá bệnh lý, giữ gìn
nét tươi trẻ. Ngoài ra, nhiều yếu tố khoáng chất rất dễ hấp thu như canxi, iôt
vì chúng đều ở dạng liên kết hữu cơ. Nếu lượng canxi đầy đủ mỗi ngày cho
cơ thể là 1.000mg thì sẽ giúp người ta ít mắc bệnh tim và góp phần chống lão
hoá. Còn iôt cần cho tuyến giáp để phòng chống bướu cổ và tăng khả năng tự
vệ cho cơ thể, tăng sự trao đổi chất của tế bào, chống còi xương và bệnh béo
phì, các bệnh ngoài da, bệnh xơ cứng động mạch ở người già. Song lượng iôt
cần cho cơ thể rất nhỏ chỉ 0,1 - 0,15mg/ngày, nhưng thiếu lại sinh bệnh, như
vậy mỗi ngày cần ăn rau cải xoong từ 9 - 10g là đủ lượng iôt trên. Rau cải
xoong giúp ta ăn ngon miệng lại tẩy độc, lợi tiểu, có nhiều chất xơ nên tác
dụng tốt đối với dạ dày, có tác dụng thông gan mật và góp phần làm giảm
bệnh ứ máu. Món ăn rau cải xoong nấu với cá tươi vừa ngon, bổ, mát, có tác
20
dụng giải nhiệt, phòng nhiệt, lợi tiểu, cầm máu, chữa bệnh phổi và một số
bệnh khác (Huỳnh Hồng Quang, 2009) [14].
2.4.1.2. Giá trị kinh tế của rau cải xoong
Hiện nay rau cải xoong rất được ưa chuộng để làm thực phẩm cải thiện
bữa ăn hàng ngày đặc biệt được tiêu thụ rất nhiều cho các của hàng đặc sản,
khách sạn, các quán lẩu… vì nó là món ăn ngon miêng, bổ và hợp khẩu vị
người Việt Nam. Do vậy người dân dã bắt đầu mở rộng diên tích trồng rau cải
xoong, phát triển sản xuất đại trà để phục vụ lợi ích kinh tế nhất là ở các tỉnh
phía Bắc nước ta với khí hậu phù hợp cho sự phát triển của rau cải xoong.
2.4.1.3. Giá trị về xử lý môi trường của rau cải xoong
Hầu hết các loài thực vật rất nhạy cảm với sự có mặt của các ion kim
loại, thậm chí ở nồng độ rất thấp. Tuy nhiên, vẫn có một số loài thực vật
không chỉ có khả năng sống được trong môi trường bị ô nhiễm bởi các kim
khác cũng có khả năng hấp thụ kim loại nặng như bèo tây, cỏ Vertiver , rau
muống, dương xỉ kết hợp với nấm cộng sinh (Võ Văn Minh, 2009)[12].
2.4.2. Sơ lược tình hình sản xuất và tiêu thụ rau cải xoong
2.4.2.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau cải xoong trên Thế giới và Việt Nam
Cải xoong có nguồn ngốc từ Châu Âu, ngày nay được trồng nhiều ở
phía tây Châu Á, ở Bắc Phi, Bắc Mỹ và nhiều nước trong vùng khí hậu nhiệt
đới như Maaixia, Ấn Độ, Inđônêxia, Việt Nam…
Ơ việt nam cả xoong chủ yếu được trồng ở vùng cao có khí hậu mát mẻ
như miền bắc các tỉnh miền núi phía bắc, ở sapa, đà lạt, bình thuận, Đồng
bằng sông Cửu Long, Vĩnh long đây là những vùng có truyền thống trồng và
sử dụng rau cải xoong có từ lâu đời. bên cạnh đó còn có rất nhiều địa phương
trông loại rau này nhưng diện tích không đáng kể.
Cải xoong thuộc loại rễ chùm, nhiều rễ phụ ở đốt thân, cải xoong sống
dưới nươc, thích những vùng đất ngập nước có nhiều bùn, sống ngập nước
khoảng 4 – 5 cm nơi có dòng chảy dưới chân các con thác, đầu nguồn các con
suối nhỏ, các ổ đá, hang dá dưới vách núi nơi có nước ngần chảy ra. Cây sinh
trưởng và phát triển tốt nhất ở nhiệt độ từ 15- 20
0
c cây thích vùng có độ ẩm
cao, với độ cao trên 1000m so với mực nươc biển là phù hợp nhất như sapa,
đà lạt và các tỉnh miền núi phía bắc việt nam. Cải xoong một vụ có thể thu
hoạch từ 6-8 lứa năng suất đạt khoảng 8-10 tấn/ha/vụ.
22
2.4.2.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau cải xoong trên ở Tỉnh Thái Nguyên
Hiện nay trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên diện tích trồng rau cải xoong
con rất nhỏ chủ yếu là rau mọc tự nhiên ở khu vực đầu nguồn các con suối,
các ổ đá tự nhiên dưới những vách núi đá nơi mà có nhũng con suối chảy qua.
Cải xoong phát triển thích hợp với nơi có khí hậu mát mẻ có nước chảy quanh
năm, rau được trồng nhiều nhất ở các huyện như Võ Nhai, Đồng Hỷ, Đại Từ,
Định hóa. Rau cải xoong tại tỉnh Thái Nguyên được tiêu thụ chủ yếu ở các
đều được coi là độc hại, Niken hợp chất rất độc hại cho cây trồng, động vật và
con người. Niken ảnh hưởng đến các hormon, các màng tế bào và các enzyme.
Chất thải chứa niken gây kích ứng đường hô hấp và có thể gây viêm
phổi, khi tiếp xúc với niken và các hợp chất của nó có thể dẫn đến sự phát
triển của bệnh viêm da được biết đến như ngứa niken thường găp đối với các
cá nhân nhạy cảm.
Niken cacbonyl Ni (CO)
4
là một khí độc hại vô cùng và tiếp xúc
không được vượt quá 0,007 mg /m
3
.
Ảnh hưởng của sự hấp thụ số lượng quá lớn niken sẽ dẫn đến những
hậu quả sau đây cho con người:
- Cơ hội cao hơn phát triển của bệnh ung thư phổi, ung thư mũi, ung
thư thanh quản và ung thư tuyến tiền liệt.
- Chóng mặt và khó chịu sau khi tiếp xúc với khí niken.
- Suy hô hấp.
- Dị tật bẩm sinh .
- Hen suyễn và viêm phế quản mãn tính.
- Phản ứng dị ứng như phát ban da do sử dụng các đồ trang sức mạ niken.
- Rối loạn nhịp tim, suy tim (Mon Roe T. Morgan, 1991) [23].
24
Phần 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu
- Đất trồng rau cải xoong ở các địa điểm nghiên cứu (Huyện Đồng Hỷ,
Võ Nhai, Phú Bình và Thành Phố Thái Nguyên).