BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN VĂN LỰC
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG TỰ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP
MÔN TOÁN CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
TRONG DẠY HỌC TOÁN 9
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN – 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN VĂN LỰC
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG TỰ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP
MÔN TOÁN CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
TRONG DẠY HỌC TOÁN 9
Chuyên ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn toán
Mã số: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Phạm Xuân Chung
NGHỆ AN – 2014
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn này tôi đã nhận được rất nhiều sự động viên,
giúp đỡ của nhiều cá nhân và tập thể.
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS. Phạm Xuân Chung
đã tận tình hướng dẫn tôi thực hiện nghiên cứu luận văn của mình.
Xin cùng bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo của Trường
Đại học Vinh, người đã đem lại cho tôi những kiến thức bổ trợ, vô cùng có ích
trong những năm học vừa qua.
Cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo
Sau đại học Trường Đại học Vinh, Khoa Sư phạm Toán học trường Đại học
Vinh, Trường Đại học Sài Gòn đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu và các đồng nghiệp ở
1.3. Sự cần thiết rèn luyện cho học sinh tự đánh giá kết quả học tập
1.3.1. Tự đánh giá xét từ góc độ triết học
1.3.2. Tự đánh giá xét từ góc độ tâm lí học và giáo dục học
1.4. Tự đánh giá kết quả học tập môn Toán của học sinh trung học cơ sở
1.4.1. Các kĩ năng tự đánh giá kết quả học tập môn Toán của học sinh
……31
1.4.2. Biểu hiện của kĩ năng tự đánh giá kết quả học tập của học sinh
trong học tập môn Toán
1.4.3. Con đường hình thành và rèn luyện kĩ năng tự đánh giá kết quả
học tập môn toán của học sinh trung học cơ sở
1.4.4. Các mức độ của kĩ năng tự đánh giá kết quả học tập môn Toán
đối với học sinh trung học cơ sở
1.5. Kết luận chương 1
Chương 2. KHẢO SÁT THỰC TRẠNG VỀ RÈN LUYỆN KĨ NĂNG
TỰ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN TOÁN CỦA HỌC SINH
TRUNG HỌC CƠ SỞ TRONG DẠY HỌC TOÁN 9
2.1. Mục đích khảo sát
2.2. Đối tượng khảo sát
2.3. Nội dung khảo sát
2.4. Phương pháp khảo sát
2.5. Kết quả khảo sát
2.6. Kết luận chương 2
Chương 3. MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG TỰ ĐÁNH
GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN TOÁN CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC
CƠ SỞ TRONG DẠY HỌC TOÁN 9
3.1. Các nguyên tắc xây dựng và thực hiện các biện pháp
3.2. Một số biện pháp sư phạm góp phần rèn luyện kĩ năng tự đánh giá kết
quả học tập môn Toán của học sinh trung học cơ sở
3.2.1. Biện pháp 1. Giúp người học nâng cao nhận thức về tự đánh giá
kết quả học tập
yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả”.
Trong bối cảnh đó đặt ra cho ngành giáo dục nhiệm vụ quan trọng là đào tạo
nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu thời đại là “Học để biết - Học để làm - Học để
cùng chung sống - Học để làm người”. Cụ thể là, mục tiêu giáo dục là đào tạo
những con người có năng lực tự quyết định, mỗi người học sẽ phải có đủ các
phẩm chất: tự học, tự tổ chức, tự quyết định và sau cùng là tự phát triển.
Trong dạy học ở trường phổ thông, điều quan trọng là hình thành cho học
sinh những phẩm chất, kỹ năng và năng lực, đặc biệt là kỹ năng tự đánh giá, bởi
chỉ khi học sinh biết tự đánh giá thì quá trình học tập mới thực sự diễn ra một
cách tự giác, tích cực, chủ động và hiệu quả.
Kĩ năng tự đánh giá kết quả học tập sẽ giúp người học biết được mức độ
kiến thức, kỹ năng và thái độ học tập của bản thân đã đáp ứng được yêu cầu của
quá trình học tập hay chưa, nhờ đó có thể điều chỉnh quá trình học tập đúng
hướng, nâng cao hiệu quả học tập. Nếu người học có được kỹ năng tự đánh giá
thì họ sẽ có thể tự giác, tự lực, tự tin hơn trong học tập và sẽ tự quyết định
được phần nào việc học tập cũng như định hướng nghề nghiệp. Do đó, kỹ năng
tự đánh giá là một trong những kỹ năng quan trọng của người học.
Ở trường phổ thông, môn Toán do có các đặc điểm như sau: sự rõ ràng,
tính chính xác, logic chặt chẽ, tính thực tiễn, nên trong quá trình học tập, học
sinh có thể dễ dàng hơn trong việc tự xác định được tính đúng, sai của một nội
dung, hoặc mức độ nhận thức đối với một vấn đề, nội dung nào đó nhờ vậy có
thể điều chỉnh hoạt động học tập của mình sao cho hiệu quả hơn. Vì thế, hình
2
thành, rèn luyện và phát triển kĩ năng tự đánh giá kết quả cho học sinh thông qua
dạy học môn Toán là rất cần thiết.
Đánh giá là một bộ phận không thể thiếu của quá trình giáo dục. Trên thế giới,
việc đánh giá kết quả học tập đã xuất hiện từ khá sớm. Khoảng 20 năm lại đây
trong lĩnh vực đánh giá người ta rất quan tâm đến tự đánh giá.
Trên thực tế dạy học ở nước ta hiện nay cho thấy việc đánh giá kết quả học
tập của học sinh chủ yếu vẫn thực hiện một cách truyền thống, dựa trên những bài
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc rèn luyện kĩ năng tự đánh giá ở trường
trung học cơ sở;
- Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của việc rèn luyện kĩ năng tự đánh giá ở
trường trung học cơ sở;
- Xác định các kĩ năng cơ bản về tự đánh giá kết quả học tập của học sinh;
- Đề xuất các biện pháp sư phạm nhằm rèn luyện kĩ năng tự đánh giá kết
quả học tập của học sinh trung học cơ sở trong dạy học Toán 9;
- Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm nghiệm hiệu quả và tính khả thi của
một số biện pháp sư phạm đã đề xuất.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Nghiên cứu lí luận, nhằm làm sáng tỏ cơ sở lí luận;
6.2. Quan sát, điều tra, nhằm tìm hiểu thực trạng tự đánh giá trong dạy học ở
nước ta và nguyên nhân của thực trạng hiện nay;
6.3. Thực nghiệm sư phạm nhằm bước đầu kiểm nghiệm tính khả thi của các
biện pháp đề xuất trong luận văn;
6.4. Tổng kết kinh nghiệm qua thực tiễn giảng dạy;
6.5. Nghiên cứu trường hợp: về việc rèn luyện kĩ năng tự đánh giá kết quả
học tập trên một số đối tượng học sinh cụ thể;
6.6. Phương pháp chuyên gia: xin ý kiến các chuyên gia về các vấn đề
thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài.
7. Nội dung đưa ra bảo vệ
- Quan niệm về tự đánh giá kết quả học tập, kĩ năng tự đánh giá kết quả học
tập và kĩ năng tự đánh giá kết quả học tập môn Toán của học sinh.
- Các kĩ năng cơ bản về tự đánh giá kết quả học tập môn Toán của học sinh.
4
- Một số biện pháp sư phạm rèn luyện kĩ năng tự đánh giá kết quả học tập
môn Toán của học sinh trung học cơ sở.
8. Cái mới trong đóng góp của luận văn
- Về mặt lí luận: Hệ thống hóa được một số vấn đề lý luận về tự đánh giá kết
quả học tập, kĩ năng tự đánh giá kết quả học tập và kĩ năng tự đánh giá kết quả học
ra, sau đó được Kolb(1984) và Schon(1984)
phát triển.
Theo AAIA, một tổ chức ở vùng Đông
Bắc nước Anh chuyên nghiên cứu về những
thành tựu và cải tiến việc đánh giá, đặc biệt quan tâm nghiên cứu về vấn đề tự
đánh giá của học sinh trong học tập. Thành tựu nổi bật là họ đã xây dựng được
các bước giúp học sinh tiểu học tự đánh giá kết quả học tập, tìm cách khuyến
khích và giúp giáo viên điều khiển, định hướng quá trình học tập theo hướng phát
huy năng lực của học sinh. Qua nghiên cứu, họ khẳng định các ý tưởng và kết quả
có được vẫn có thể áp dụng được đối với học sinh ở các lớp lớn hơn (dẫn theo
[24]).
Ở Úc vấn đề tự đánh giá đã rất được quan tâm
nghiên cứu và đã trở thành nề nếp, thói quen trong
quá trình học tập của học sinh phổ thông (dẫn theo
[24, tr. 4]).
Ở Canada, tự đánh giá được chú trọng nghiên cứu
cả về lí thuyết và thực hành. Về mặt lí thuyết, qua các
nghiên cứu của các tác giả Baron (1990), Shavelson
6
(1992), Bellanca & Berman (1994), Garcia & Pearson (1994), Wiggins(1993),
Hargreaves & Fullan (1998), đã cho thấy vai trò của giáo viên thay đổi, do đó đánh
giá phải có sự thay đổi, chú trọng hơn đến tự đánh giá. Rolheiser (1996) đã đưa ra
được mô hình lý thuyết tự đánh giá. Tác giả cho rằng tự đánh giá đóng một vai trò
quan trọng một chu kì học tập của học sinh (xem hình 1.2). Theo mô hình đó, khi
người học tự đánh giá hiệu quả việc học, họ sẽ biết được mức độ đạt mục tiêu học
tập của bản thân. Do đó, tự đánh giá sẽ khuyến khích học sinh đặt ra mục tiêu cao
hơn và nỗ lực hết sức để đạt mục tiêu học tập của mình. Thành tích có được là nhờ
sự kết hợp giữa mục tiêu và sự nỗ lực. Trên cơ sở thành tích đó HS sẽ tự đánh giá
(tự suy xét, tự phản ứng, tự điều chỉnh) và do đó họ sẽ tự tin hơn trong học tập. Do
đó, nếu chúng ta dạy cho người học làm tốt việc tự đánh giá thì họ có thể học tốt
giả đã nhận thấy “tự đánh giá” của học sinh là một trong mười một vấn đề lí
luận cần phải đổi mới qua khảo sát chất lượng giáo dục ở mười tỉnh trên ba miền
ở Việt Nam (dẫn theo [24, tr. 6]).
4) Trần Thị Bích Liễu đã hệ thống rất đầy đủ các thuật ngữ và khái niệm, các
nguyên tắc, phương pháp, kĩ thuật, các nội dung đánh giá trong giáo dục. Trong
phần thuật ngữ và khái niệm tác giả đã trình bày khái niệm tự đánh giá của cá nhân
và tổ chức (dẫn theo [24, tr. 6]).
5) Nghiêm Thị Phiến với bài báo “Về khả năng tự đánh giá của học sinh lớp
4, 5 trường tiểu học”. Có thể nói đây là công trình đầu tiên của Việt Nam nghiên
cứu về vấn đề tự đánh giá của học sinh. Mặc dù bước đầu tác giả mới chỉ điều tra
thực trạng tự đánh giá của học sinh ở tiểu học nhưng cũng đã mang lại kết quả
nghiên cứu có ý nghĩa, là cơ sở quan trọng cho các nghiên cứu tiếp theo về vấn đề
tự đánh giá. Tác giả chưa nêu quan niệm về vấn đề tự đánh giá mà mới chỉ khẳng
định vai trò của tự đánh giá trong giáo dục và đánh giá. Qua nghiên cứu của tác giả
cho thấy khả năng tự đánh giá của học sinh là có thể hình thành được từ cấp tiểu
học (dẫn theo [24, tr. 6]).
6) Vũ Tế Xiển với bài báo “Tự đánh giá của học sinh ở các trường dạy nghề
về những năng lực và phẩm chất của bản thân”. Tác giả đã bước đầu điều tra thực
trạng tự đánh giá về phẩm chất và năng lực của học sinh ở các trường nghề, đây là
8
một hướng nghiên cứu rất quan trọng nhất là trong giai đoạn hiện nay chúng ta
đang cần những nguồn nhân lực chất lượng cao mới đáp ứng được yêu cầu của xã
hội. Tác giả bước đầu đã chỉ ra được học sinh ở trường nghề tự đánh giá được về
những phẩm chất, năng lực nào của bản thân họ. Đề tài này có ý nghĩa trong việc
định hướng nghề nghiệp cho học sinh trước khi ra trường (dẫn theo [24, tr. 7]).
7) Nguyễn Thị Côi với bài “Rèn luyện kĩ năng tự kiểm tra, đánh giá trong
học tập lịch sử của học sinh trung học phổ thông”. Tác giả đã nhận thấy vai trò
của tự kiểm tra, đánh giá đối với hoạt động học tập môn lịch sử của học sinh và
đã đề xuất được biện pháp giúp học sinh tự đánh giá trong quá trình học tập môn
lịch sử thông qua trả lời câu hỏi trong sách giáo khoa (dẫn theo [24, tr. 7]).
cùng chung ý tưởng sau:
+ Đánh giá là một quá trình thu thập, phân tích, lí giải về hiện trạng chất
lượng, về hiệu quả, nguyên nhân và khả năng của học sinh.
+ Đánh giá gắn bó chặt chẽ với mục tiêu, chuẩn giáo dục.
+ Đánh giá tạo cơ sở đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực
trạng, nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học và giáo dục.
Thông qua đánh giá, Giáo viên có thể thu được các mối liên hệ ngược
ngoài (các thông tin phản hồi từ phía học sinh), nhờ chúng giáo viên khẳng định
những kết quả đạt được, điều chỉnh, bổ sung, uốn nắn những tồn tại trong hoạt
động nhận thức của học sinh, tổ chức, hướng dẫn, điều khiển hoạt động nhận
thức của họ theo đúng quỹ đạo, hướng tới mục đích đã định. Cũng qua đó, giáo
viên có thể kịp thời điều chỉnh hoạt động giảng dạy của mình. Học sinh cũng thu
được các thông tin phản hồi từ kết quả đánh giá, họ xử lí thông tin ngược thu
nhận được nhằm tự phát hiện, tự đánh giá, tự điều chỉnh hoạt động nhận thức. Vì
vậy, có thể nói bản chất của việc đánh giá là thực hiện các mối liên hệ ngược
trong quá trình dạy học để từ đó người đánh giá (giáo viên hoặc học sinh) và
người được đánh giá (học sinh) điều chỉnh và tự điều chỉnh quá trình dạy và học
để đạt được mục đích đề ra.
Kết quả đánh giá là bằng chứng sự thành công của học sinh về kiến thức, kĩ
năng, năng lực, thái độ đã được đặt ra trong mục tiêu giáo dục. Do đó, một trong
những vấn đề quan tâm hàng đầu trong quá trình dạy học là kết quả học tập của học
10
sinh. Trong phạm vi của luận văn này chỉ tập trung, quan tâm nghiên cứu đến vấn
đề đánh giá kết quả học tập của học sinh trong dạy học.
Kết quả học tập (còn gọi là thành tích học tập) thường được hiểu theo hai
quan niệm khác nhau như sau: là mức độ thành tích mà người học đã đạt, được
xem xét trong mối quan hệ với công sức, thời gian đã bỏ ra, với mục tiêu xác
định; là mức độ thành tích mà người học đã đạt được so với những bạn học khác
(dẫn theo [24]).
Cho dù hiểu theo cách nào thì kết quả học tập cũng đều thể hiện ở mức độ
trên các trang mạng có rất nhiều bộ công cụ giúp học sinh có thể tự đánh giá các
năng lực, sở thích và giá trị của bản thân. Dựa vào kết quả tự đánh giá, học sinh
sẽ điều chỉnh hoặc nhờ sự giúp đỡ bên ngoài để có thể phát huy thế mạnh hoặc
khắc phục những hạn chế của mình nhằm đạt được mục tiêu cá nhân trong lĩnh
vực nào đó.
Tự đánh giá là một khâu hiệu quả và quan trọng đối với việc đánh giá cả
quá trình học. Một khi người học có thể tự đánh giá chính việc học của mình và
nền tảng kiến thức của họ đang có thì họ có thể nhận ra những lỗ hổng trong
kiến thức của bản thân, nhờ đó mà quá trình học hiệu quả hơn, khuyến khích sự
tiến bộ của học sinh và góp phần vào việc tự điều chỉnh quá trình học.
Tự đánh giá là quá trình thu thập và phân tích các thông tin thích hợp về chủ
thể, là quá trình rất phức tạp. Người tự đánh giá phải sử dụng phương pháp phân tích
SWOT (viết tắt của bốn chữ Strengths-điểm mạnh, Weaknesses-điểm yếu,
Opportunities-cơ hội và Threats-nguy cơ) về chính mình. Sử dụng phương pháp này
thực chất là xác nhận sự nhận thức về những điểm mạnh và điểm yếu của cá nhân,
cố gắng nhìn thấy những cơ hội và những thách thức trong việc theo đuổi một mục
tiêu nào đó (dẫn theo [24, tr. 9]).
Việc học sinh tự đánh giá không những góp phần mục tiêu đánh giá mà còn
có ý nghĩa rất lớn. Việc làm này có tác dụng bồi dưỡng cho học sinh ý thức trách
nhiệm, tinh thần tự phê bình, khả năng tự đánh giá, tính độc lập, lòng tự tin và
tính sáng tạo.
Việc học sinh tự đánh giá có thể diễn ra khi họ phải làm một bài tập, trình
diễn một hoạt động trước lớp, tạo một sản phẩm học tập. Điều này có thể được
12
thực hiện ngay từ những lớp học sinh còn nhỏ tuổi và được sử dụng ngày càng
được rộng rãi ở những lớp trên.
Sự hiểu biết về bản thân là một yếu tố vô cùng quan trọng. Khi đánh giá
đúng về mình, người ta có thể xác định được phương hướng đúng cho sự tự giáo
dục bản thân. Nói khác đi, tự đánh giá là tiền đề định hướng của tự giáo dục.
Như vậy tự đánh giá đã được quan tâm nghiên cứu trong nhiều năm qua
phần thành công, tránh phần thất bại trong mọi công việc của mỗi con người.
Đối với quá trình giáo dục, tự đánh giá tạo cơ hội cho người học đưa ra những
nhận xét, bình phẩm và tự phán quyết về công việc học tập của mình, do đó phát
huy vai trò nội lực của người học trong quá trình giáo dục.
Theo [24, tr. 10], Xét về phương diện mục đích, tự đánh giá kết quả học tập
tạo cơ hội cho học sinh thấy được những điểm mạnh, điểm yếu của bản thân, thấy
được những cơ hội và thách thức đối với công việc của mình và do đó học sinh có
thể tự tin hơn trong việc hoạch định tương lai, cải thiện việc học tập của họ. Tự
đánh giá kết quả học tập chẳng những giúp cho người học nhanh tiến bộ mà còn
cung cấp những thông tin giúp giáo viên đánh giá học sinh sâu sắc, chính xác hơn.
Theo [24, tr. 11], dạy học theo hướng coi trọng vai trò chủ động của người
học, coi việc rèn luyện phương pháp tự học để chuẩn bị cho học sinh năng lực tự
học liên tục suốt đời thì giáo viên phải hướng dẫn nhằm hình thành và phát triển
kĩ năng tự đánh giá kết quả học tập để họ tự điều chỉnh cách học. Do đó, xét
trong phương diện tự học, tự đánh giá kết quả học tập là một khâu quan trọng,
vừa giúp người học xác định hiệu quả của quá trình tự học vừa điều chỉnh và
định hướng cho quá trình tự học tiếp theo.
b) Ý nghĩa, vai trò của tự đánh giá
Tự đánh giá góp phần phát triển hứng thú của người học trong quá trình tự
học và phát huy tính độc lập của họ, do đó nó rất cần thiết đối với quá trình dạy học
(dẫn theo [24, tr. 11]).
Tự đánh giá rất cần thiết bởi: nó giúp cho học sinh trở nên có trách nhiệm
hơn đối với quá trình học của bản thân; cung cấp thông tin phản hồi về quá trình
14
học tập của chính người học, giúp họ thấy được những điểm mạnh, điểm yếu,
năng lực, trình độ kiến thức, kĩ năng của bản thân để có được sự điều chỉnh và
định hướng hoạt động học tập tiếp theo cho phù hợp; giúp cho học sinh tự tin,
tích cực, độc lập và linh hoạt hơn trong học tập (dẫn theo [24, tr. 11]).
Tự đánh giá không chỉ có ý nghĩa lớn với hoạt động học của học sinh mà nó
còn có ý nghĩa rất quan trọng đối với hoạt động dạy của giáo viên vì chúng giúp
- Hoạt động tự đánh giá có tính mục đích. Khi người học xác định được
mục đích tự đánh giá thì hoạt động này sẽ dựa trên trách nhiệm của cá nhân và
sự điều khiển của ý chí. Tự đánh giá lúc này là hoạt động tự giác, chủ động, có
phương pháp, mục tiêu và giải pháp cá nhân gắn với nhu cầu giá trị và khả năng
cá nhân.
- Hoạt động tự đánh giá mang dấu ấn cá nhân. Tự đánh giá sẽ mang dấu ấn
của chủ thể, chịu ảnh hưởng chủ quan của chính người tiến hành đánh giá. Hoạt
động tự đánh giá của học sinh phải đảm bảo khách quan, trung thực với kết quả
học tập và với chính bản thân người học (chủ thể của hoạt động). Khi đó, hoạt
động tự đánh giá mới trở thành động lực thúc đẩy quá trình học tập tiến bộ, trái
lại nó sẽ làm cho người học rơi vào trạng thái “tự mê” và cản trở tiến bộ của
người học. Vì vậy, để có thể giảm bớt ảnh hưởng của yếu tố chủ quan này, giáo
viên nên giúp học sinh nắm chắc mục tiêu, nhiệm vụ học tập đồng thời cụ thể
hóa các tiêu chí đánh giá, chia sẻ tiêu chí đánh giá với người học.
- Hoạt động tự đánh giá mang tính xã hội. Mục tiêu của giáo dục là hình
thành nên những mô hình nhân cách đáp ứng được các yêu cầu của xã hội. Cùng
với sự phát triển của xã hội, giáo dục phải đổi mới thật sự để có thể đáp ứng
được các yêu cầu đặt ra của xã hội. Trong xu thế đổi mới giáo dục hiện nay theo
hướng tăng cường tính tích cực, tự lực và chủ động của người học thì tự đánh giá
là một không thể thiếu của quá trình đánh giá và cũng là hoạt động rất cần thiết
trong quá trình học tập của học sinh. Do đó, có thể nói tự đánh giá cũng chịu ảnh
hưởng một cách gián tiếp của các yêu cầu của xã hội. Hơn nữa, các tiêu chí để tự
đánh giá nó cũng phản ánh yêu cầu, chuẩn mực của xã hội. Vì vậy có thể nói tự
đánh giá có mang đặc trưng xã hội.
16
- Hoạt động tự đánh giá mang đặc trưng hoạt động trí tuệ: tự đánh giá là
một hoạt động trí tuệ, tự đánh giá hướng vào điều chỉnh hoạt động học tập. Để
có thể tự đánh giá được kết quả học tập đòi hỏi học sinh phải thực hiện các hoạt
động trí tuệ cơ bản như so sánh, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, Do đó, có
thể nói tự đánh giá nó chịu ảnh hưởng khá lớn bởi đặc điểm trí tuệ của chủ thể,
Trong đổi mới đánh giá, tự đánh giá kết quả học tập đã và đang trở thành
một hình thức đánh giá có vai trò quan trọng. Ta có thể thấy được các ưu điểm
cơ bản là: tự đánh giá cho phép học sinh chú ý hơn đến các mục tiêu học tập;
Khi học sinh có kĩ năng tự đánh giá sẽ có nhiều khả năng hoàn thành được các
nhiệm vụ khó khăn một cách tự tin hơn với khả năng của họ và có trách nhiệm
hơn đối với việc học tập; Động lực học tập được nâng cao, học sinh định hướng
tốt hơn hoạt động học tập và công việc tiếp theo; Cung cấp phản hồi về kết quả
học tập để học sinh có thể tự cải thiện quá trình học tập; tự đánh giá giúp cho
học sinh học tập độc lập, tích cực, chủ động hơn.
Tuy nhiên, trong một số trường hợp học sinh tự đánh giá không đúng, có
thể đánh giá quá cao hoặc quá thấp về mình. Tự đánh giá sẽ không cung cấp cho
học sinh sự phản hồi đầy đủ về thành tích học tập khi nó được sử dụng một cách
đơn độc. Do đó, cần kết hợp tự đánh giá của học sinh với đánh giá của giáo viên
và các lực lượng giáo dục khác.
1.2.2.5. Các bước để học sinh tự đánh giá kết quả học tập
Bước 1: Xác định mục tiêu, nhiệm vụ học tập. Mục tiêu, nhiệm vụ học tập
là kết quả cần phải đạt được ở học sinh sau mỗi nội dung hoặc hoạt động học tập
của họ, thường được giáo viên đặt ra trước, trong hoặc sau một bài học, một
hoạt động, cũng có khi được chính người học đặt ra. Mục tiêu, nhiệm vụ học tập
phải bám sát và dựa trên cơ sở là chuẩn kiến thức, kĩ năng của môn học (dẫn
theo [24, tr. 14]).
Bước 2: Thực hiện hoạt động học tập. Trên cơ sở mục tiêu, nhiệm vụ học
tập, học sinh tiến hành hoạt động học tập. Có thể là hoạt động học tập ở lớp, ở
nhà, có thể có giáo viên hướng dẫn trực tiếp hoặc không. Hoạt động có thể diễn
ra trong thời gian ngắn hay dài tùy thuộc vào mục tiêu đặt ra là mục tiêu ngắn
hạn hay dài hạn, mục tiêu trước mắt hay lâu dài (dẫn theo [24, tr. 14]).
18
Bước 3: Đối chiếu kết quả học tập với mục tiêu, nhiệm vụ học tập. Để kiểm
nghiệm hiệu quả hoạt động học tập, học sinh phải biết đối chiếu kết quả với mục
tiêu, nhiệm vụ của bài học, môn học nhằm xác định mức độ đạt được sau khi
Con người khó ai có thể tự mình nhìn nhận được hết những ưu, nhược điểm
của bản thân. Trong quá trình giáo dục nếu chỉ có tự đánh giá của học sinh thì
chưa đủ, bởi họ chẳng những còn ít kinh nghiệm mà còn chịu ảnh hưởng của cái
“tôi” nên việc tự đánh giá ít nhiều còn mang tính chủ quan, phiến diện. Vì vậy, để
cho hoạt động tự đánh giá có hiệu quả thì bên cạnh việc đánh giá của mình học
sinh phải biết lắng nghe, tiếp thu những ý kiến đánh giá từ bên ngoài (giáo viên,
bạn học và các lực lượng giáo dục khác) để có sự điều chỉnh hoạt động học tập
cho đúng đắn và thông tin thu nhận được sẽ đảm bảo tính khách quan, toàn diện
và chính xác. Như vậy, quá trình đánh giá mới giúp quá trình tự đánh giá trở nên
khách quan, toàn diện, chính xác và hiệu quả hơn.
Từ đó, thống nhất giữa đánh giá và tự đánh giá, giữa đánh giá của giáo viên
và tự đánh giá của học sinh là một nguyên tắc quan trọng của đánh giá, dạy học
và giáo dục. Nếu như trong dạy học, học sinh không thể thiếu vai trò của giáo
viên thì trong tự đánh giá học sinh cũng không thể thiếu vai trò của người thầy.
Một khi ý thức được điều này, giáo viên cần chủ động xác định yêu cầu đầu ra
cho mỗi bài học mà đề ra cho học sinh kế hoạch học, tự học, tự đánh giá để sao
cho có thể nâng cao mức độ hiểu biết, đáp ứng được yêu cầu về mục đích, kiến
thức cần học.
1.2.4. Về kĩ năng tự đánh giá kết quả học tập của học sinh
1.2.4.1. Về kĩ năng và rèn luyện kĩ năng
a) Kĩ năng
Qua các tài liệu như: [21], [24], [26], cho thấy có nhiều cách hiểu về kĩ
năng. Tùy theo cách tiếp cận mà tác giả nhấn mạnh khía cạnh này hay khía cạnh
khác. Nhưng nhìn chung, ta thấy có hai hướng tiếp cận như sau: Hướng thứ nhất,
xem xét kĩ năng nghiêng về mặt kĩ thuật của hành động, coi kĩ năng như là một
phương tiện thực hiện hành động mà con người đã nắm vững. Theo hướng này
người có kĩ năng là người đã nắm vững tri thức về hành động theo đúng yêu cầu
của nó. Hướng thứ hai, xem xét kĩ năng nghiêng về năng lực của con người, là