BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRẦN THỊ THÙY DUNG Sö DôNG PH¦¥NG PH¸P D¹Y HäC THEO Dù ¸N
TRONG D¹Y HäC NG÷ V¡N 9
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
PGS. TS. NGUYỄN VĂN TỨ
NGHỆ AN - 2014
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4. Mục đích nghiên cứu 4
5. Phương pháp nghiên cứu 4
6. Cấu trúc của luận văn 5
Chương 1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP
DẠY HỌC THEO DỰ ÁN TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN 9 6
1.1. Cơ sở lí luận của việc sử dụng phương pháp dạy học theo dự án
trong dạy học Ngữ văn 9 6
1.1.1. Phương pháp và phương pháp dạy học 6
1.1.2. Phương pháp dạy học theo dự án 7
1.1.3. Các kiểu dạy học theo dự án và tiến trình dạy học theo dự án
cùng các hoạt động tương ứng 18
1.2. Cơ sở thực tiễn của việc sử dụng phương pháp dạy học theo dự án
trong dạy học Ngữ văn 9 26
1.2.1. Thực trạng dạy học Ngữ văn ở bậc THCS và việc sử dụng
phương pháp dạy học theo dự án ở trường THCS 26
1.2.2. Tính khả thi của việc áp dụng phương pháp dạy học theo dự
án trong dạy học Ngữ văn 9 30
Tiểu kết chương 1 35
Chương 2. NỘI DUNG, QUY TRÌNH SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP
Nxb Nhà xuất bản
SGK Sách giáo khoa
THCS Trung học cơ sở
THPT Trung học phổ thông
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BẢNG
Trang
Sơ đồ:
Sơ đồ 1.1. Quá trình tương tác trong học tập 8
Sơ đồ 1.2. Mô hình quá trình dạy học 14
Sơ đồ 1.3. Mối quan hệ giữa 3 phân môn trong bộ môn Ngữ văn 32
Sơ đồ 2.1. Khả năng liên kết nội dung các phân môn để áp dụng dạy
học theo dự án trong môn Ngữ văn (chương trình SGK Ngữ
văn 9) 38
Sơ đồ 2.2. Quy trình xây dựng ý tưởng từ một nội dung cụ thể 44
Sơ đồ 2.3. Quy trình xây dựng ý tưởng dự án từ vấn đề thực tế 44
Sơ đồ 3.1. Quy trình xây dựng ý tưởng dự án từ vấn đề thực tế 71
Bảng:
Bảng 1.1. Tiến trình dạy học theo dự án và các hoạt động tương ứng 24
Bảng 1.2. Mức độ sử dụng các phương pháp dạy học trong môn Ngữ
văn của giáo viên 28
Bảng 1.3. Mức độ hứng thú với các phương pháp dạy học của học sinh 29
Bảng 2.1. Thiết kế chương trình dạy học theo dự án môn Ngữ văn 9 40
Bảng 2.2. Mẫu phạm vi nội dung của dự án 48
Bảng 2.3. Mẫu phạm vi kĩ năng của dự án 49
Bảng 2.4. Mẫu bảng phân loại dự án dựa vào đối tượng tham gia 51
Bảng 2.5. Phân vai dự kiến 53
Bảng 2.6. Mẫu kế hoạch khái quát của dự án 57
Bảng 2.7. Mẫu kế hoạch chi tiết cho các hoạt động trong dự án 57
Bảng 2.8. Mẫu lịch trình dự án 58
Về cơ bản, dựa trên nguyên tắc đề cao sự khám phá và xâu chuỗi vấn
đề “Dạy học dự án” là phương pháp có thể áp dụng cho tất cả các môn học.
Nhưng trong hệ thống các môn học trong trường phổ thông, bộ môn Ngữ Văn
là môn học có nhiều lợi thế áp dụng phương pháp dạy học dự án. Bởi lẽ, nội 2
dung của tiếp nhận văn học là quá trình giải mã tác phẩm và tái tạo lại bằng tư
tưởng, tình cảm và kinh nghiệm sống của người đọc. Do đó nó đòi hỏi cao sự
kích thích khám phá và sáng tạo mà điều này lại chính là ưu điểm lớn nhất
của dạy học dự án. Đưa phương pháp dạy học dự án vào giảng dạy Ngữ Văn
là một biện pháp vừa góp phần cải thiện tình trạng học sinh không có hứng
thú học vừa có thể tích hợp trang bị những kỹ năng cần thiết giúp gắn Văn
học với thực tiễn đời sống, thực hiện đúng quan điểm “học đi đôi với hành”.
Do đó nghiên cứu cách vận dụng phương pháp dạy học dự án vào dạy học nói
chung, bộ môn Ngữ Văn nói riêng để đạt hiệu quả cao là một vấn đề hết sức
cần thiết.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Phương pháp dạy học theo dự án được hình thành từ những năm 30 của
thế kỷ trước do J. Dewey và W.H. Kilpatrick khởi xướng dựa trên những cơ
sở lí luận về tính tích cực của người học được xuất phát từ sự quan tâm đối
với chính môn học. Các nhiệm vụ học tập được gắn liền với các vấn đề thực
tiễn, quen thuộc hoặc có ý nghĩa đối với người học. Người học sẽ lĩnh hội các
kiến thức, kỹ năng liên quan việc thực hiện dự án, xây dựng các nhiệm vụ
thực, quan sát và giải quyết các vấn đề mang tính thực tiễn. Kết quả thực hiện
dự án (các sản phẩm, minh chứng quan sát được, kinh nghiệm, năng lực mới
trong giải quyết vấn đề, giá trị niềm tin… của người học) sẽ phản ánh mức độ
lĩnh hội kiến thức mới, kỹ năng và thái độ mới ở người học. Người dạy sẽ gợi
ý, cung cấp các nguồn thông tin cần thiết cho người học hoặc tham gia một
cách gián tiếp vào quá trình này thông qua việc định hướng, gợi ý vấn đề,
Những công trình nghiên cứu trên là cơ sở để chúng tôi xây dựng và
phát triển đề tài của mình. Hiện nay trong phạm vi hiểu biết của chúng tôi
chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập cụ thể đến việc áp dụng phương
pháp dạy học dự án trong dạy học Ngữ văn ở trường THCS nói chung,
chương trình Chương trình SGK lớp 9 nói riêng. Vì thế đề tài Sử dụng 4
phương pháp dạy học theo dự án trong dạy học Ngữ văn lớp 9 có giá trị thực
tiễn mới mẻ của nó.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong quá trình triển khai đề tài này chúng tôi lấy quá trình áp dụng
phương pháp dạy học dự án vào thực tiễn giảng dạy môn Ngữ Văn 9 ở bậc
THCS làm đối tượng nghiên cứu và chúng tôi tập trung nghiên cứu trong
phạm vi chương trình SGK Ngữ văn lớp 9.
4. Mục đích nghiên cứu
Đề tài Sử dụng phương pháp dạy học theo dự án trong dạy học Ngữ
văn lớp 9 được triển khai nhằm các mục đích như sau:
- Xây dựng quy trình vận dụng phương pháp dạy học theo dự án cho
chương trình Ngữ Văn lớp 9.
- Bằng các kết quả nghiên cứu khẳng định tính khả thi trong việc triển
khai phương pháp dạy học theo dự án đối với chương trình Ngữ văn 9.
- Thiết kế một số giáo án dạy học Ngữ văn 9 theo phương pháp dạy học
dự án.
Đề tài nghiên cứu có ý nghĩa: Góp phần nhận diện và khái quát về một
phương pháp dạy học hiện đại, mang tính tích cực cao song còn khá mới mẻ,
đồng thời tạo ra một định hướng về quy trình thực hiện nhằm phát huy những
ưu điểm của phương pháp này khi áp dụng nó vào thực tiễn giảng dạy ở môn
Ngữ văn 9.
5. Phương pháp nghiên cứu
Dạy học là một hoạt động đặc trưng nhất của giáo dục, cơ bản nhất
trong việc truyền thụ các vốn tri thức, kinh nghiệm trong xã hội loài người.
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về phương pháp dạy học nhưng xét
về tổng thể, bất kì một phương pháp nào cũng có thể được xem xet và phân
tích theo 3 cấp độ:
- Cấp độ lý luận: Phương pháp dạy học là hệ thống các nguyên tắc,
nguyên lí xác định mục đích, yêu cầu, điều kiện, phương thức, thực hiện
nhằm đạt được mục đích dạy học đặt ra.
- Cấp độ hoạt động thực tiễn: Phương pháp dạy học là tổ hợp các biện
pháp, phương thức tổ chức hoạt động dạy học của người dạy và người học
nhằm thực hiện các mục tiêu của môn học, chương học,
- Cấp độ hành động, thao tác: Phương pháp dạy học là tổ hợp các thao
tác, kỹ thuật, thủ pháp, thủ thuật cụ thể của người dạy và người học nhằm giải
quyết những nhiệm vụ cụ thể của bài học, tiết học.
Tuy nhiên, dù nhìn nhận dưới góc độ nào thì phương pháp dạy học vẫn
mang những nét đặc trưng, thể hiện:
- Mục đích của việc dạy học (sự vận động của nội dung và mục đích
chiếm lĩnh nội dung dạy học - tri thức khoa học). 7
- Phương thức chiếm lĩnh nội dung dạy học (hình thức, con đường trao
đổi và chiếm lĩnh thông tin trong dạy học).
- Đặc tính tương tác giữa các chủ thể trong dạy học (cách thức tổ chức,
tính thống nhất trong điều khiển hoạt động nhận thức trong dạy học).
Từ đó có thể đưa ra một định nghĩa tổng quát về phương pháp dạy học
như sau: Phương pháp dạy học là tổ hợp các cách thức, biện pháp, thực hiện
hoạt động hợp tác, tương tác giữa người dạy và người học nhằm đạt mục tiêu
dạy học.
1.1.2. Phương pháp dạy học theo dự án
pháp dạy học (mang tính phức hợp) thì bản chất của dạy học dự án vẫn là: sự
chuyển đổi người học sang cơ chế tự phát triển theo định hướng cá nhân
trong hoạt động học tập cộng tác, chuyển từ cách dạy “thầy nói” trên bục
giảng sang hướng dẫn “trò làm” nhiệm vụ thực (“from sage on the stage to
guide on the side” - Alison King, 1993).
Ở Việt Nam, dù chúng ta bắt gặp những cách gọi khác như “dạy học
dựa trên dự án”, “dạy học theo dự án” hoặc ngắn gọn hơn là “dạy học dự án”
thì thực chất các cách gọi này đều chỉ một phương pháp dạy học đó là phương
pháp dạy học theo dự án mà ở đó, học sinh thu nhận kiến thức khi tự lập kế
hoạch và tiến hành một dự án giải quyết một vấn đề có thực nào đó dưới sự
hướng dẫn, hỗ trợ của giáo viên. Quá trình tương tác trong dạy học khi áp
dụng phương pháp dạy học theo dự án có thể được sơ đồ hóa như sau:
Sơ đồ 1.1. Quá trình tương tác trong học tập
Giáo viên
Học sinh
Kiến thức 9
Như vậy, khi xem xét dạy học dự án dưới góc độ là quá trình tương tác
theo mô hình dạy học dự án thì nó được coi là một phương pháp dạy học hợp
tác trên cơ sở các nguyên tắc chính sau:
- Tương tác đa chiều: tạo ra nhiều cơ hội tương tác giữa giáo viên và
học sinh, giữa học sinh với nhau trong quá trình học vì vậy thời gian tham gia
a) Tính tích hợp, liên môn
Nội dung kiến thức trong dạy học theo dự án là nội dung mang tính liên
môn, tích hợp nhiều lĩnh vực nhằm giải quyết một vấn đề, một tình huống
thực mang tính phức hợp. Nhiều nhiệm vụ được đặt ra cùng lúc trong việc
thực hiện một dự án.
Ví dụ: Dự án mở hiệu sách cũ cho học sinh lớp 8.
Để thực hiện được dự án này, trong quá trình thực hiện, học sinh cần
phải gặp giáo viên môn toán để hỏi về kinh phí kinh doanh. Sản phẩm phải
nộp cho giáo viên toán là bản dự trù kinh phí. Học sinh đến gặp giáo viên
môn văn, xin tư vấn về cách viết những tờ rơi thăm dò nhu cầu mua sách của
người dân trong phường. Sản phẩm phải nộp cho giáo viên văn là phiếu thăm
dò. Cuối cùng học sinh cần trao đổi với giáo viên mỹ thuật để hỏi cách bày biện,
trang trí hiệu sách sao cho bắt mắt, hợp lí và thuận tiện.
b) Tính thực tiễn
Chủ đề của dự án thường được xuất phát từ những vấn đề của thực tiễn
xã hội và đời sống. Ví dụ: vấn đề môi trường, giao thông, các công trình xây
dựng, các chương trình văn hoá, nghệ thuật…Những chủ đề đó gợi ra những
nhiệm vụ thực, yêu cầu học sinh phải đối mặt và giải quyết những nhiệm vụ
đó chứ không chỉ dừng lại ở việc mô tả công việc đó trên lý thuyết.
Dạy học theo dự án gắn việc học tập trong nhà trường với thực tiễn đời
sống, xã hội. Trong những trường hợp lý tưởng, việc thực hiện các dự án có
thể mang lại những tác động xã hội tích cực: kết quả của dự án đôi khi có khả
năng ứng dụng hoặc rất sát với thực tế diễn ra trong cuộc sống. 11
Ví dụ: Dự án cải tạo hồ bơi của trường (môn Toán) dành cho học sinh
trường THCS Trần Văn Ơn (quận 1, TP Hồ Chí Minh).
Học sinh đóng vai là những kỹ sư xây dựng, khảo sát thiết kế mỹ thuật,
đo đạc diện tích, tính toán số lượng gạch, tìm hiểu tính năng, chủng loại, giá
tưởng mới.
Bên cạnh sự cộng tác giữa giáo viên và học sinh là sự cộng tác giữa học
sinh và học sinh. Đây là sự cộng tác phổ biến nhất. Việc thực hiện các nhiệm
vụ của dự án thường được tiến hành theo nhóm. Kỹ năng làm việc nhóm cũng
là một tiêu chí đánh giá học sinh trong quá trình dạy học theo dự án.
Một sự cộng tác cũng không kém phần quan trọng là sự cộng tác với
các lực lượng xã hội khác cùng tham gia dự án. Ví dụ: các bậc phụ huynh, các
nhà tài trợ xã hội, các cơ quan nhà nước có liên quan,…
e) Hướng vào sản phẩm dựa trên việc xác định chuẩn
Để xác định sản phẩm của dự án cần phải dựa trên căn cứ gọi là
chuẩn. Dạy học theo dự án là dạy học hướng đến chuẩn. Câu hỏi lớn nhất đặt
ra cho người dạy khi áp dụng dạy học theo dự án đó là: Chúng ta muốn học
sinh biết được những gì và học (làm) được những gì? Trả lời câu hỏi đó
chính là việc xác định chuẩn - căn cứ để đánh giá mức độ hoàn thành sản
phẩm của học sinh.
Kết quả của dạy học theo dự án bao giờ cũng là một sản phẩm có ý
nghĩa đối với người học, có thể sử dụng (tuỳ theo mức độ thực tế của sản
phẩm), công bố, giới thiệu như: các vật phẩm, các bản dự thảo, thiết kế, các
ấn phẩm điện tử… Việc đánh giá mức độ đạt chuẩn của người học chính là
dựa trên mức độ hoàn thành sản phẩm của họ (bao gồm quá trình thực hiện
sản phẩm, cách trình bày, giới thiệu sản phẩm và chất lượng sản phẩm). Do
vậy, khi bắt đầu triển khai một dự án học tập cần phải có định hướng về sản
phẩm một cách rõ ràng. 13
1.1.2.3. Những thay đổi các yếu tố trong quá trình tiến hành dạy học
theo dự án
Trong quá trình xem xét các đặc điểm của dạy học dự án, chúng tôi nhận
ra bên cạnh một số điểm tương đồng thì khi áp dụng phương pháp dạy học
chứng giữa các thành tố cơ bản: mục tiêu, nội dung, phương pháp và phương
tiện dạy học. Ta có thể sơ đồ hóa sự sự tương hợp giữa các yếu tố thành phần
như mô hình sau:
Sơ đồ 1.2. Mô hình quá trình dạy học
Sự thống nhất biện chứng ở đây có nghĩa là các thành tố cấu thành nên
hoạt động dạy học có mối quan hệ qua lại chặt chẽ, chi phối lẫn nhau. Khi
một yếu tố cấu thành thay đổi thì nó sẽ kéo theo sự thay đổi của các yếu tố
khác trong quá trình dạy học. Do đó, với sự thay đổi của mục đích dạy học
như đã nói ở trên thì việc chọn nội dung dạy học cũng mang những đặc điểm
khác so với nội dung dạy học kiểu dạy học truyền thống.
Nội dung kiến thức trong dạy học dự án mang tính chất tổng hợp và liên
môn được tích hợp từ nhiều bài học khác nhau trong một môn học và liên kết
Giáo viên - Học sinh
Mục tiêu
Nội dung
Phương tiện
dạy học
Phương pháp
dạy học
là giúp học sinh tự xác định và dần trả lời được các câu hỏi để thực hiện yêu
cầu này cần “làm gì?”, “tại sao?” và “làm như thế nào?”. Không chỉ vậy, để
quá trình thực hiện dự án diễn ra thuận lợi đòi hỏi bản thân người giáo viên
phải là những người tự mình đi trước tạo cơ hội học tập, không ngừng nâng
cao năng lực, tiếp cận thông tin và công nghệ hiện đại. 16
Trong quá trình dạy học theo dự án, học sinh không hoạt động một
cách riêng lẻ mà hoạt động theo nhóm. Học sinh là người chịu trách nhiệm
chính, là trung tâm của quá trình dạy học. Với mô hình này, học sinh đóng vai
trò là những “chuyên gia” thuộc những ngành nghề khác nhau trong xã hội,
hoàn thành những nhiệm vụ đặt ra dựa trên những kiến thức và kỹ năng nhất
định. Học sinh tham gia tích cực và tự lực vào quá trình tiếp cận vấn đề và các
hoạt động cần phải tiến hành để giải quyết vấn đề. Quá trình tích lũy kiến
thức được chính bản thân các em thực hiện sau khi tiến hành thu thập dữ liệu,
tổng hợp, phân tích. Đồng thời học sinh cũng có trách nhiệm trong việc hoàn
thành và báo cáo sản phẩm. Như vậy dạy học theo dự án là một phương pháp
có thể thay đổi môi trường từ “người dạy nói” sang “người học làm việc”.
Về tổ chức dạy học cũng có sự thay đổi lớn đó là sự phối hợp đa dạng
của nhiều phương pháp, đặc biệt là các phương pháp dạy học tích cực. Khi kết
hợp các phương pháp một cách hợp lí thì tiến độ hoàn thành nhiệm vụ được
đẩy nhanh hơn và chất lượng sản phẩm cuối cùng cao hơn, qua đó nâng cao
chất lượng học tập của học sinh. Một số phương pháp dạy học mà giáo viên
có thể tiến hành khi thực hiện dự án như phương pháp dạy học theo nhóm
(trước khi tiến hành xây dựng dự án, giáo viên có thể chia lớp thành các nhóm
để bàn bạc thống nhất về ý tưởng, lập kế hoạch dự án và thực hiện các nhiệm
vụ cụ thể), phương pháp dạy học nêu vấn đề (nội dung của dự án là một vấn
đề có thực trong cuộc sống mà nhiệm vụ của học sinh là thảo luận tìm cách
giải quyết, khi tiến hành giải quyết vấn đề, học sinh sẽ áp dụng các kiến thức
giá dựa trên những tiêu chí đã được thống nhất. Cách thức đánh giá như vậy
đưa lại một cái nhìn đúng đắn và toàn diện đối với năng lực học sinh. Điều
này không chỉ khắc phục được tình trạng học tủ, học lệch mà còn yêu cầu các
em vừa lĩnh hội kiến thức, vừa phát triển kỹ năng. Bên cạnh sự thay đổi về
cách thức kiểm tra, đánh giá là sự thay đổi về đối tượng tham gia vào quá 18
trình đánh giá. Khác với các phương pháp truyền thống, đối tượng tham gia và
quá trình đánh giá chỉ bao gồm người dạy (giáo viên) thì dạy học dự án cho
phép người học (học sinh) tham gia cùng với giáo viên trong quá trình đánh
giá dựa trên những tiêu chí đã được thống nhất từ trước. Từ đó các em hình
thành tư duy phê phán khách quan trong một môi trường dân chủ. Quan trọng
hơn là trong quá trình đánh giá lẫn nhau học sinh sẽ dần dần phát hiện ra
những điểm mạnh, điểm yếu của bản thân và của các bạn khác, từ đó rút ra
được kinh nghiệm cho riêng mình.
1.1.3. Các kiểu dạy học theo dự án và tiến trình dạy học theo dự án
cùng các hoạt động tương ứng
Trong thực tế dạy học có rất nhiều loại dự án khác nhau dựa trên những
tiêu chí phân loại như:
- Phân loại theo hoạt động chính của người học (dự án kiến tạo, dự án
tham quan, dự án kiểu trò chơi,…).
- Phân loại theo quy mô dự án (dự án lớp học, dự án trường học, dự án
liên kết mạng lưới các trường, dự án cấp quốc gia,…).
- Phân loại theo quỹ thời gian thực hiện dự án (dự án tuần, dự án
tháng, dự án năm,…).
Tuy nhiên, dù là kiểu dự án nào cũng đều trải qua một tiến trình thực
hiện cơ bản giống nhau. Có nhiều quan điểm về cách phân chia các giai đoạn
trong tiến trình dạy học theo dự án, song hầu hết các nhà giáo dục thống nhất
với cách phân chia thành 5 giai đoạn.
* Xác định sản phẩm cuối
Khái niệm sản phẩm cuối không đơn giản chỉ là những sản phẩm thuần
tuý về mặt vật chất mà là tất cả những gì thu được mà tạo nên sự thay đổi về
chất ở người học. Cụ thể: sau quá trình học tập, học sinh không chỉ lĩnh hội
được kiến thức, không chỉ tạo ra được những thành phẩm có giá trị xác thực
(ví dụ: một bài báo, một website, một video…) mà còn tích luỹ được những