BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
CAO THỊ HÒA
THIÕT KÕ CH¦¥NG TR×NH, NéI DUNG
Vµ PH¦¥NG PH¸P D¹Y HäC Tù CHäN NG÷ V¡N 9
THEO H¦íNG TÝCH CùC HãA HO¹T §éNG CñA HäC SINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN - 2014
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
CAO THỊ HÒA
THIÕT KÕ CH¦¥NG TR×NH, NéI DUNG
Vµ PH¦¥NG PH¸P D¹Y HäC Tù CHäN NG÷ V¡N 9
THEO H¦íNG TÝCH CùC HãA HO¹T §éNG CñA HäC SINH
Chuyên ngành: LL & PPDH bộ môn Văn và Tiếng Việt
Mã số: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. NGUYỄN VĂN TỨ
NGHỆ AN - 2014
4
MỤC LỤC
Trang
M UỞĐẦ 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3. Phạm vi và địa bàn nghiên cứu 6
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 6
5. Phương pháp nghiên cứu 7
2.1.1. Tiêu chí lựa chọn nội dung chương trình 28
2.1.2. Xây dựng nội dung chương trình 29
2.1.3. Phân phối chương trình tự chọn Ngữ Văn 9 29
2.1.4. Một số nội dung tự chọn trong chương trình Ngữ Văn 9 31
2.2. Phương pháp dạy học các chủ đề tự chọn Ngữ Văn 9 theo hướng tích cực hóa hoạt
động của HS 59
2.2.1. Một số nguyên tắc khi tổ chức dạy học tự chọn Ngữ Văn THCS theo
hướng tích cực hóa hoạt động của HS 61
2.2.2. Một số phương pháp và kỹ thuật thường sử dụng trong dạy học tự chọn
Ngữ Văn 9 theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh 65
2.3. Quy trình tổ chức thực hiện dạy học tự chọn Ngữ Văn 9 theo chương trình đã định
hướng 75
2.3.1. Các chủ đề củng cố kiến thức cho học sinh 76
2.3.2. Các chủ đề rèn luyện kỹ năng làm văn 76
2.3.3. Các chủ đề đọc - hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại 77
Tiểu kết chương 2 79
Ch ng 3ươ
TH C NGHI M S PH MỰ Ệ Ư Ạ 80
3.1. Mục đích và yêu cầu thực nghiệm sư phạm 80
3.1.1. Mục đích thực nghiệm 80
3.1.2. Yêu cầu thực nghiệm 80
3.2. Đối tượng, địa bàn, thời gian, quy trình thực nghiệm sư phạm 80
3.3. Nội dung thực nghiệm 80
3.3.1. Giáo án thực nghiệm dạy học tự chọn 1 81
3.3.2. Giáo án thực nghiệm dạy học tự chọn 2 95
3.3.3. Giáo án thực nghiệm dạy học tự chọn 3 102
3.4. Đánh giá kết quả thực nghiệm 109
3.4.1. Tiêu chuẩn đánh giá 110
3.4.2. Phương tiện đánh giá 110
3.4.3. Đánh giá kết quả thực nghiệm về kết quả học tập của học sinh 110
Sách giáo khoa
Trung học cơ sở
Phương pháp dạy học
Phương pháp tích cực
Phân phối chương trình
Công nghệ thông tin
Phương pháp
Phương pháp giáo dục phổ thông
Phổ thông
Giáo dục và Đào tạo
Học sinh giỏi
Biện pháp nghệ thuật
Cách chú thích tài liệu trích dẫn:
Số thứ tự tài liệu đứng trước, số trang đứng sau. Ví dụ: [58,1627] nghĩa là số
thứ tự tài liệu trong mục TÀI LIỆU THAM KHẢO là 58, nội dung trích dẫn
nằm ở trang 1627 của tài liệu này.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Thế giới đang có những bước đầu tiên trong thế kỷ XXI, thế kỷ của
sự phát triển cao nhất từ trước đến nay của những tài năng và trí tuệ nhân loại.
Để đạt được mục tiêu lớn lao của thời đại, với mọi quốc gia, trong đó có Việt
Nam, giáo dục luôn được coi là quốc sách hàng đầu. Những đổi mới trong tư
tưởng giáo dục hiện đại ấy đã có tác động, ảnh hưởng rất rõ nét và tích cực tới
việc dạy học Ngữ Văn ở nước ta hiện nay, môn học vẫn luôn được đánh giá là
có vị trí hết sức quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục, đào tạo
con người mới.
Xuất phát từ mục tiêu đào tạo con người mới phát triển toàn diện, năng
động, sáng tạo và thích ứng với sự phát triển của xã hội, nhất là giai đoạn hội
nhập quốc tế ngày càng mạnh mẽ và sâu rộng của Việt Nam hiện nay, việc
của việc nâng cao chất lượng dạy - học chương trình mới của môn Ngữ Văn
THCS, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thực hiện chương trình dạy học tự chọn
môn Ngữ Văn ở các trường phổ thông. Việc khắc sâu một số kiến thức trên cơ
sở hệ thống hóa kiến thức chương trình chính khóa theo một số chủ đề nhất
định, đồng thời cung cấp, mở rộng thêm những tri thức nhằm bổ sung cho vốn
hiểu biết về kiến thức, kỹ năng môn Ngữ Văn ở bậc THCS là điều cần thiết,
đặc biệt là các em HS khối 9 - đối tượng bắt đầu tiếp xúc với nhiều kỳ thi,
không chỉ là các kỳ thi điều kiện mà còn các kỳ thi năng khiếu như thi HSG
huyện, tỉnh.
Tuy nhiên, khi được áp dụng vào thực tế, vì nhiều lý do khách quan và
chủ quan khác nhau mà chương trình dạy học tự chọn Ngữ Văn ở các trường
phổ thông hiện nay còn xuất hiện nhiều bất cập, chưa phát huy được mục
đích, ý nghĩa của việc dạy học tự chọn.
2
Cho đến nay, dù đã ngót 10 năm được đưa vào giảng dạy, song vấn đề
dạy học chủ đề tự chọn vẫn còn khá mới mẽ đối với cả giáo viên và học sinh
cả về việc lựa chọn nội dung chủ đề lẫn phương pháp. Hiện Bộ Giáo dục và
Đào tạo vẫn chưa ban hành một phương tiện hỗ trợ hay tài liệu chính thống
nào cho việc dạy học chủ đề tự chọn các môn học ở bậc THCS nên vấn đề
định hướng của GV trong giảng dạy gặp nhiều khó khăn.
Với hướng phân công chỉ đạo còn chung chung, thiếu hướng dẫn cụ
thể chi tiết từ các cấp nên mỗi GV được phân công day học hầu như còn dạy
theo quan điểm cá nhân, hoặc trong phạm vi nhóm, tổ chứ chưa xây dựng
được một chương trình, cách thức, phương pháp dạy học cụ thể, thống nhất
rộng rãi.
HS hầu như không được chuẩn bị, không có tài liệu định hướng nên
thường bị động trong học tập, dẫn đến hiệu quả học tập chưa cao.
1.3. Cũng vì những lý do nêu trên nên dù được quan tâm nghiên cứu
khá nhiều song như tìm hiểu của chúng tôi, cho đến nay vẫn chưa có công
hướng dẫn của Bộ GD&ĐT (tổ chức biên soạn, thẩm định và báo cáo về Bộ
trước khi sử dụng); sách giáo khoa, sách tham khảo và các thiết bị, phương
tiện, băng, đĩa hình giáo khoa (theo từng chủ đề và môn học tự chọn).
Phương pháp dạy học tự chọn: Để đạt được mục tiêu dạy học tự chọn,
cần thực sự đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực,
chủ động, sáng tạo, rèn luyện năng lực tự học, tự nghiên cứu, phân tích, suy
luận, sát với từng loại đối tượng học sinh. Giáo viên tổ chức cho học sinh
thực hiện các hoạt động để thu thập và xử lý thông tin, phát hiện các vấn đề
đặt ra từ thực tiễn để giải quyết.
Phương pháp dạy học các môn học tự chọn về cơ bản như các môn học
khác. Phương pháp dạy các chủ đề tự chọn nâng cao phải đáp ứng yêu cầu bổ
4
sung, nâng cao kiến thức, khai thác sâu chương trình, rèn luyện kỹ năng và
năng lực tư duy sáng tạo cho học sinh. Phương pháp dạy học các chủ đề tự
chọn bám sát phải tập trung củng cố, hệ thống hoá kiến thức, làm rõ các nội
dung khó nhằm giúp học sinh nắm vững kiến thức và rèn luyện kỹ năng để
đạt được yêu cầu về chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình.
Trên cơ sở đó, các Sở và Phòng Giáo dục - Đào tạo đã có những văn
bản hướng dẫn cụ thể đối với năm học, từng môn học để phù hợp với đối
tượng học sinh, điều kiện cụ thể của từng vùng miền, địa phương. Và đó cũng
là cơ sở để mỗi tổ chuyên môn, mỗi giáo viên Ngữ Văn ở các trường THCS
vận dụng một cách sáng tạo, linh hoạt để không ngừng nâng cao chất lượng,
hiệu quả giờ dạy.
2.2. Việc nghiên cứu dạy học tự chọn môn Ngữ Văn ở trường THCS
Từ đó đến nay, các trường THCS đã căn cứ hướng dẫn của Bộ Giáo
dục và Đào tạo, các văn bản thực hiện chuyên môn của Phòng Giáo dục và
Đào tạo để xây dựng khung chương trình dạy học tự chọn (trong đó có môn
Ngữ Văn). Ở Nghệ An, Sở Giáo dục và Đào tạo, các Phòng Giáo dục và Đào
tạo đã quyết định dạy học tự chọn theo chương trình bám sát là chủ yếu, căn
nội dung và phương pháp dạy học tự chọn Ngữ Văn 9 theo hướng tích cực
hóa hoạt động của học sinh.
Địa bàn tổ chức nghiên cứu, khảo sát, thực nghiệm sư phạm là các
trường THCS trên địa bàn huyện Yên Thành, Nghệ An.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở khoa học của vấn đề vấn đề dạy học tự chọn Ngữ Văn
THCS theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh.
- Đề xuất những nguyên tắc, nội dung, phương pháp có tính định hướng
và có tính khả thi về việc dạy học tự chọn Ngữ Văn 9 theo hướng tích cực hóa
hoạt động của học sinh.
6
- Tổ chức thực nghiệm sư phạm dạy học để chứng minh tính hiệu quả
những kết quả nghiên cứu nói trên về dạy học tự chọn Ngữ Văn 9 theo hướng
tích cực hóa hoạt động của học sinh.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình tiến hành đề tài này, chúng tôi đã sử dụng phối hợp các
phương pháp nghiên cứu lý luận (như phương pháp phân tích-tổng hợp,
phương pháp thống kê-phân loại, phương pháp so sánh - đối chiếu) với các
phương pháp nghiên cứu thực tiễn (như phương pháp điều tra-phỏng vấn,
phương pháp dùng số liệu-thống kê) và phương pháp thực nghiệm sư phạm.
6. Đóng góp của luận văn
- Có một cách nhìn hệ thống hơn về chương trình tự chọn, từ đó xây
dựng được một nội dung chương trình cụ thể; những phương pháp tích cực,
sát thực tế và dễ áp dụng trong qúa trình dạy học, kiểm tra đánh giá và thi cử
hiện nay.
- Góp phần nâng cao chất lượng của việc dạy học tự chọn Ngữ Văn nói
chung và chủ đề tự chọn Ngữ Văn 9 nói riêng trong chương trình THCS.
- Ngoài ra, đề tài có thể là tài liệu tham khảo thiết thực phục vụ cho
việc dạy - học chủ đề tự chon và ôn thi Ngữ Văn 9 THCS.
bản toàn diện giáo dục - đào tạo cũng đã nhấn mạnh “Đối với giáo dục phổ
thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực
công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho
học sinh. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý
tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ
năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Phát triển khả năng sáng
8
tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời. Hoàn thành việc xây dựng chương
trình giáo dục phổ thông giai đoạn sau năm 2015. Bảo đảm cho học sinh có
trình độ trung học cơ sở (hết lớp 9) có tri thức phổ thông nền tảng, đáp ứng
yêu cầu phân luồng mạnh sau trung học cơ sở; trung học phổ thông phải tiếp
cận nghề nghiệp và chuẩn bị cho giai đoạn học sau phổ thông có chất lượng.
Nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục, thực hiện giáo dục bắt buộc 9 năm từ
sau năm 2020”.
Vì vậy, việc dạy học tự chọn môn Ngữ Văn ở trường THCS theo định
hướng phát huy tính tích cực của học sinh là nhằm thực hiện mục tiêu giáo
dục nói trên.
1.1.2. Phù hợp các quy luật của tâm lý học và giáo dục học
Dạy học tự chọn nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của HS trong học tập.
Việc tổ chức Dạy học tự chọn cho học sinh THCS vừa là nhu cầu vừa là động
lực cho sự phát triển của học sinh. Theo Nguyễn Khắc Viện qua nghiên cứu
luận điểm của Jean Piaget “không thể ép buộc tất cả HS cùng học một chương
trình độc nhất, cũng như không thể ép buộc mọi người đút chân vào một mẫu
giày độc nhất”. Việc giải quyết mối quan hệ giữa chương trình cơ bản với
Dạy học tự chọn cần được tiến hành trên cơ sở lấy trình độ phát triển chung
của HS làm nền tảng. Một mặt cần chăm lo làm cho mọi HS đều đạt được yêu
cầu của chương trình và phát triển toàn diện, mặt khác cần phát huy khả năng,
sở trường, năng khiếu, hứng thú của từng em.
1.1.3. Đáp ứng nhu cầu của người học
- Trạng thái hoạt động, khi tính tích cực găn liền với hoat động.
- Tính tích cực bao hàm tính chủ động, có ý thức của chủ thể.
Theo Đại từ điển tiếng Việt, khái niệm “tích cực” cũng được hiểu theo
hai nghĩa. Với nghĩa thứ nhất, “tích cực” là “chủ động, hướng hoạt động
10
nhằm tạo ra những thay đổi, phát triển” và thứ hai là “hăng hái, năng nổ với
công việc” [58, 1627].
Như vậy, tính tích cực là một phẩm chất vốn có của con người trong
đời sống xã hội, thể hiện sự chủ động, mạnh mẽ, sáng tạo của chủ thể trong
việc tiếp cận và tác động tới môi trường xung quanh, nhằm đạt tới mục đích
với hiệu quả cao.
1.2.1.2. Tính tích cực của chủ thể nhìn từ góc độ của Triết học
Từ góc nhìn triết học, tính tích cực được xem là một thuộc tính chung
của vật chất, tạo thành sự vận động của vật chất. Đặc biệt, tính tích cực được
thể hiện rõ nhất trong mối quan hệ tác động của chủ thể tới khách thể. Từ điển
Triết học đã khẳng định: “Ngày nay, người ta quan niệm chủ thể là con người
hoạt động tích cực và nhận thức, có ý thức và ý chí; còn khách thể là cái mà
hoạt động nhận thức và hoạt động khác của chủ thể hướng vào đó, gắn chặt
với vấn đề cơ bản của triết học, vấn đề về mối quan hệ giữa chủ thể và khách
thể được chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm giải quyết theo cách khác
nhau” [52,192]. Cũng theo từ điển này, chủ nghĩa duy vật biện chứng xuất phát
từ chỗ thừa nhận khách thể tồn tại không phụ thuộc vào chủ thể song đồng thời
cũmg xem xét chúng trong sự thống nhất. Khách thể không phải là mặt đối lập,
trừu tượng của chủ thể, vì chủ thể tích cực cải tạo khách thể, và cơ sở của sự
tác động qua lại giữa chúng là thực tiễn lịch sử của xã hội loài người” [52,193].
Như vậy, có thể khẳng định tính tích cực của chủ thể được hình thành
và bộc lộ trong quá trình cải tạo thế giới bên ngoài. Điều đó có nghĩa là con
người chỉ trở thành chủ thể (đặc biệt là một chủ thể ý thức) trong lịch sử,
trong xã hội, và là một thực thể xã hội mà năng lực và khả năng của nó là
hứng thú trong việc học tập và tạo sự thông hiểu cho người học, chứ không
phải chỉ cung cấp kiến thức một cách đơn thuần, đưa ra những thứ đã có sẵn
để học thuộc lòng. Trải qua hàng thế kỷ ánh sáng, chính nhà triết học đồng
12
thời cũng là nhà giáo dục học J.J.Rousseau đã chủ trương là hãy để trẻ (người
học) tự học bằng chính kinh nghiệm. Và ông cũng cho rằng việc tự học của
người học chính là một phương pháp hay hơn nhiều so với cách dạy phô
trương kiến thức thường thấy trong các trường học ở châu Âu trước đây.
Đi tìm một cái nhìn đúng đắn hơn, các nhà nghiên cứu cho rằng tích
cực hóa thực chất là sự vận động, chuyển hóa bên trong của chủ thể học sinh,
là quá trình hoạt động tâm lý nhận thức của bản thân chủ thể. Các nhà giáo
dục châu Âu từ thế kỷ XVI, XVII đã sớm nhận ra được tầm quan trọng của
tích cực hóa trong dạy học. Họ cho rằng, bất cứ một phương pháp nào cũng
phải phát huy được tính tích cực của học sinh, nhà giáo dục phải phát triển
sức mạnh nội tại bên trong chủ thể, nếu không đó chỉ là phương pháp tồi.
Bước qua thế XX, các nhà Giáo dục học càng chú ý đến quá trình phát triển
trí tuệ và tâm hồn của người học, đặc biệt là “tính hoạt động” của nó. Trên cơ
sở đó, nhiều phương pháp giáo dục mang tính tích cực và hiện đại đã ra đời.
Xuyên suốt chiều dài lịch sử phát triển, chúng ta có thể nhận thấy các
phương pháp giáo dục nói chung và dạy học nói riêng đều chú trọng đến từng
cá thể người học. Tuy nhiên, người thầy chỉ là người tổ chức, tạo ra những
điều kiện, những tình huống, những trạng thái, quỹ đạo cũng như mối liên hệ
cần thiết để có thể thỏa mãn những nhu cầu phát triển về thể chất, trí tuệ cũng
như tâm hồn của người học. Vì vậy, có thể nói, người học chính là “chủ thể”,
những bài học và những tác phẩm văn chương chính là “đối tượng” của một
hoạt động dạy học. Do đó, trong mỗi giờ học văn chương ở nhà trường trung
học phổ thông thì người học chính là “chủ thể”, tác phẩm văn chương là “đối
tượng”, còn người thầy đóng vai trò là một “liên chủ thể”.
Mặc dù còn nhiều quan niệm chưa thống nhất, song hầu hết các nhà
chuyển biến vị trí của người học từ thụ động sang chủ động, từ đối tượng tiếp
14
nhận tri thức sang tìm kiếm tri thức để nâng cao hiệu quả học tập. Để làm
được điều đó đòi hỏi phải có sự chuyển biến đồng bộ trong quá trình dạy học.
Nói cách khác, để tạo tính tích cực trong hoạt động học tập của học sinh, thì
cách dạy của GV lẫn cách học của HS phải mang tính tích cực.
1.2.2. Phương pháp tích cực trong dạy học
1.2.2.1. Khái niệm phương pháp tích cực
Phương pháp tích cực (PPTC) là một thuật ngữ rút gọn, đuợc dùng ở
nhiều nước, để chỉ ra những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát
huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học. “Tích cực” được dùng
với nghĩa là hoạt động, chủ động, trái với không hoạt động, thụ động chứ
không theo nghĩa tiêu cực.
PPTC hướng tới việc hoạt động, tích cực hóa hoạt động nhận thức của
người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ
không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy, đành rằng
để dạy học theo PPTC thì giáo viên phải nổ lực nhiều hơn so với dạy học theo
phương pháp thụ động.
1.2.2.2. Một số dấu hiệu đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực
a) Tăng cường tổ chức các hoạt động học tập của học sinh
Trong PPTC, người học - đối tượng của hoạt động dạy, đồng thời là
chủ thể hoạt động học được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo viên
tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ
chứ không phải thụ động tiếp thu những trí thức được giáo viên sắp đặt. Được
đưa vào những tình huống của đời sống thực tế, người học trực tiếp quan sát,
thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của
mình, từ đó nắm được kiến thức kĩ năng mới, vừa nắm được phương pháp
“làm ra” kiến thức, kĩ năng đó, không rập khuôn theo những khuôn mẫu có
sẵn, được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo.
16
trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó
người học nâng mình lên một trình độ mới. Bài học vận dụng được vốn hiểu
biết và kinh nghiệm của mỗi HS và của cả lớp chứ không phải chỉ dựa trên
vốn hiểu biết và kinh nghiệm sống của GV.
d) Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò
Trong dạy học việc đánh giá HS không chỉ nhằm mục đích nhận thức
thực trạng và điều chỉnh hoạt động của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện
nhận thức thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy.
Trước đây GV giữ độc quyền đánh giá HS. Trong PPTC, GV phải
hướng dẫn HS phát triển kĩ năng tự đánh giá để điều chỉnh cách học. Liên
quan đến điều này, GV cần tạo điều kiện thuận lợi để HS được tham gia đánh
giá lẫn nhau. Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực
rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho HS.
Việc kiểm tra, đánh giá không thể dựng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức,
lặp lại các kĩ năng đã học mà phải khuyến khích trí thông minh, óc sáng tạo
trong việc giải quyết những tình huống thực tế.
1.2.2.3. Mối quan hệ giữa học tích cực và dạy học tích cực
Đều có cơ sở là tư tưởng “lấy người học làm trung tâm” với một số
biểu hiện:
- Thừa nhận, tôn trọng, hiểu, đồng cảm với HS. Đạt được độ tin cậy,
tạo sức thu hút, thuyết phục, kích thích động cơ bên trong của HS.
- Dựa vào kinh nghiệm của người học, khai thác kinh nghiệm đó, dồn
thành sức mạnh trong quá trình tự khám phá.
- Chống gò ép, ban phát, giáo điều, nuôi dưỡng tính sẵn sàng, tính tích
cực ý chí của người học để đạt được mục đích học tập và phát triển cá nhân.
- Người học tự nhận thức, tự phát triển, tự thực hiện, tự kiểm tra, đánh
giá, tự hoàn thiện trong môi trường, được đảm bảo quyền lựa chọn tối đa của
HS (quyết định, ứng xử, hoạt động…).