BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ NINH
TUYỂN CHỌN - XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG
BÀI TẬP KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP
CỦA HỌC SINH THEO CHUẨN KIẾN THỨC, KĨ NĂNG
(Chủ đề: Kim loại kiềm - Kim loại kiềm thổ - Nhôm)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
VINH - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ NINH
TUYỂN CHỌN - XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG
BÀI TẬP KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP
CỦA HỌC SINH THEO CHUẨN KIẾN THỨC, KĨ NĂNG
(Chủ đề: Kim loại kiềm - Kim loại kiềm thổ - Nhôm)
Chuyên ngành: Lí luận và Phương pháp dạy học bộ môn Hóa học
Mã số: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học
PGS. TS. NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG
VINH - 2014
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
- Thầy giáo PGS. TS. Nguyễn Xuân Trường - Giảng viên khoa Hóa trường
Đại học Sư phạm Hà Nội đã giao đề tài, tận tình hướng dẫn và tạo mọi điều kiện
thuận lợi nhất cho tôi nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.
- Thầy giáo PGS. TS. Cao Cự Giác và PGS. TS Phan Thị Hồng Tuyết đã
1.2.3. Phân loại đánh giá kết quả học tập của học sinh 18
1.2.4. Công cụ kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS 20
1.2.5. Phân tích câu hỏi và đề thi trắc nghiệm khách quan 23
1.3. Kiểm tra - đánh giá kết quả học tập môn Hóa học của học sinh theo chuẩn kiến thức,
kỹ năng 28
1.3.1. Chuẩn kiến thức, kỹ năng môn Hóa học Trung học phổ thông 28
1.3.2. Phân loại chuẩn kiến thức, kĩ năng theo thang bậc nhận thức của Bloom
30
1.3.3. Yêu cầu đổi mới kiểm tra - đánh giá kết quả học tập môn Hóa học bám
sát chuẩn kiến thức, kỹ năng 34
1.3.4. Quy trình kiểm tra - đánh giá kết quả học tập theo chuẩn kiến thức, kỹ
năng 36
1.4. Tuyển chọn - xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hóa học trong kiểm tra - đánh
giá kết quả học tập của học sinh 36
1.4.1. Khái niệm về bài tập 36
1.4.2. Tác dụng của bài tập hóa học 37
1.4.3. Phân loại bài tập hóa học 37
1.4.4. Những yêu cầu cơ bản của việc tuyển chọn - xây dựng và sử dụng hệ
thống bài tập dùng trong kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học
sinh theo chuẩn kiến thức, kĩ năng 39
1.5. Thực trạng kiểm tra - đánh giá kết quả học tập môn Hóa học của học sinh THPT 41
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 44
CHƯƠNG 2 HỆ THỐNG BÀI TẬP KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ
HỌC TẬP MÔN HÓA HỌC THEO CHUẨN KIẾN THỨC KĨ NĂNG (THỂ
HIỆN QUA CHỦ ĐỀ: KIM LOẠI KIỀM - KIM LOẠI KIỀM THỔ - NHÔM)
45
2.1. Phân tích nội dung kiến thức chủ đề Kim loại kiềm - Kim loại kiềm thổ - Nhôm 45
2.1.1. Chuẩn kiến thức, kĩ năng 45
2.1.2. Xác định những thao tác, hoạt động cần kiểm tra - đánh giá theo chuẩn
kiến thức, kĩ năng 47
3.5.1. Về định tính 102
3.5.2. Về định lượng 102
5
3.6. Kết quả thăm dò giáo viên và học sinh về nội dung và phương thức kiểm tra - đánh
giá kết quả học tập theo chuẩn kiến thức, kĩ năng 108
3.6.1. Đối với giáo viên 108
3.6.2. Đối với học sinh 110
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 110
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 112
I. Những kết quả cụ thể của luận văn 112
II. Kết luận 112
III. Một số kiến nghị 113
TÀI LIỆU THAM KHẢO 114
PHỤ LỤC 116
6
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
CTCT: Công thức cấu tạo
CTPT Công thức phân tử
DD: Dung dịch
ĐH: Đại học
ĐC: Đối chứng
GD&ĐT: Giáo dục và Đào tạo
GV: Giáo viên
HĐDH: Hoạt động dạy học
HĐNT: Hoạt động nhận thức
HH: Hỗn hợp
HS: Học sinh
KT-ĐG: Kiểm tra - đánh giá
KT-KN: Kiến thức - kĩ năng
PPDH: Phương pháp dạy học
Thế kỷ XXI - thế kỷ của nền văn minh trí tuệ với tốc độ phát triển mạnh mẽ
trong các lĩnh vực khoa học và công nghệ. Nước ta đang đứng trước những cơ hội
và thách thức to lớn để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại
hóa (CNH - HĐH). Xu thế phát triển của thời đại và công cuộc xây dựng đất nước
đòi hỏi chúng ta phải đào tạo được nguồn nhân lực có chất lượng toàn diện về mọi
mặt. Do đó, trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản,
toàn diện giáo dục và đào tạo, Đảng ta đã tiếp tục chỉ đạo:
"Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà
nước và của toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi
trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội; Đổi mới căn bản,
toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ
quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính
sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý
của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục - đào tạo và việc
tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả
các bậc học, ngành học ".
Để thực hiện tốt các mục tiêu giáo dục mà Đảng đã đề ra, ngoài việc hoàn
thiện một khối lượng tri thức khoa học lớn, cần phải đổi mới về nội dung và đổi
mới phương pháp dạy học. Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học nói chung và
phương pháp dạy học Hóa học nói riêng là một trong những mặt mang tính chiến
lược, cấp thiết trước những yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.
Trong việc đổi mới phương pháp dạy học thì không thể tách rời đổi mới vấn đề
kiểm tra - đánh giá. Bởi vì mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học và kiểm tra -
đánh giá là những thành tố quan trọng của quá trình dạy học ở trường phổ thông,
chúng có quan hệ mật thiết và biện chứng với nhau. Cải tiến nội dung và phương
pháp thi cử nhằm đánh giá đúng trình độ tiếp thu tri thức, khả năng học tập, khắc
phục những mặt yếu kém và tiêu cực của giáo dục. Kiểm tra- đánh giá có vai trò vô
cùng quan trọng, đó là một biện pháp để nâng cao chất lượng dạy học bộ môn, đó là
khâu mở đầu và cũng là khâu kết thúc của quá trình dạy học này, để mở ra một quá
trình dạy học khác cao hơn, đồng thời nó cũng có tác động điều tiết trở lại quá trình
giúp cho một số giáo viên có thêm tài liệu phục vụ cho quá trình dạy học chúng tôi
chọn đề tài:
“Tuyển chọn - xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập kiểm tra - đánh giá kết
quả học tập của học sinh theo chuẩn kiến thức kĩ năng (Chủ đề: Kim loại kiềm -
Kim loại kiềm thổ - Nhôm)”.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở tìm hiểu lý luận và thực tiễn việc kiểm tra - đánh giá trong dạy
học Hóa học ở trường Trung học phổ thông, đề tài đi sâu nghiên cứu hai vấn đề:
- Tuyển chọn - xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập chủ đề: Kim loại kiềm-
Kim loại kiềm thổ và Nhôm theo chuẩn kiến thức, kĩ năng.
10
- Thiết lập ma trận đề kiểm tra và xây dựng đề thi từ hệ thống bài tập chủ đề:
Kim loại kiềm - Kim loại kiềm thổ - Nhôm để dùng trong kiểm tra - đánh giá kết
quả học tập của học sinh.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh ở các trường THPT.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
- Tuyển chọn - xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập;
- Thiết kế ma trận và biên soạn đề kiểm tra chủ đề: Kim loại kiềm - Kim loại
kiềm thổ - Nhôm.
4. Nhiệm vụ của đề tài
- Nghiên cứu tổng quan các vấn đề lí luận và thực tiễn về kiểm tra - đánh giá.
- Nghiên cứu nội dung kiến thức trong chương trình hóa học vô cơ lớp 12-
Chủ đề: Kim loại kiềm - Kim loại kiềm thổ - Nhôm.
- Tuyển chọn - xây dựng và sử dụng bài tập theo từng chủ đề dùng trong
KT- ĐG.
- Thiết kế ma trận và biên soạn đề kiểm tra phần Kim loại kiềm - Kim loại
kiềm thổ - Nhôm.
- Thực nghiệm sư phạm đánh giá tính khả thi và hiệu quả của việc sử dụng
12
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Một số nghiên cứu trên thế giới
Khẳng định vai trò, ý nghĩa quan trọng của KT và ĐG năng lực nhận thức
của HS, nhà giáo dục học J.A.Comenxki (1592 - 1670) người Séc đã coi việc KT-
ĐG tri thức HS như một yếu tố góp phần nâng cao hiệu quả quá trình dạy học. Đặc
biệt I.B Bazelov đề xuất một hệ thống ĐG tri thức trong trường học và chia hệ
thống ĐG làm 12 bậc và vận dụng vào thực tiễn dạy học, ông cho rằng có 3 bậc phù
hợp với trình độ nhận thức của HS phổ thông: tốt - trung bình - kém. Hệ ĐG này áp
dụng ở một số nước, trong đó có Nga.
Phương pháp ĐG mới bằng TNKQ bên cạnh phương pháp TL truyền thống
thông qua bộ thang đo năng lực nhận thức và quy trình ĐG đã được nhiều nhà khoa
học giáo dục Anh, Mĩ nghiên cứu. Tiêu biểu như O.W.Caldwell và S.A.Courtis năm
1845, hay Fisher năm 1864. Năm 1894, Rice - nhà bác học Mĩ đề xuất quy trình ĐG
theo tinh thần đổi mới mở đầu cho việc ĐG, đo lường có hệ thống trong giáo dục.
Thế kỷ XX, có nhiều công trình nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ chức năng KT-
ĐG tri thức HS đối với việc góp phần phát huy tính tích cực, tự lực, độc lập, hứng
thú của HS trong hoạt động học tập; xác định qui trình, hình thức ĐG tri thức thích
hợp với từng loại đối tượng HS, từng môn học, tiêu biểu như V.M.Palonxki với công
trình "Những vấn đề dạy học của việc đánh giá tri thức; F.I. Pêrôvxki với công trình
"Cơ sở lý luận và thực tiễn của kiểm tra tri thức; X.V.Uxôva với "Con đường hoàn
thiện của việc kiểm tra đánh giá tri thức. kĩ năng.
Dưới góc độ là phương tiện điều khiển quá trình dạy học, tiêu biểu có
T.A.Ilina "Việc đánh giá là một phương tiện kích thích mạnh mẽ và có một ý nghĩa
giáo dục rất lớn trong điều kiện nếu như nó được giáo viên sử dụng đúng đắn"; N.V
Savin "Kiểm tra là một phương tiện quan trọng không chỉ để ngăn ngừa việc lãng
quên mà còn để nắm được tri thức một cách vững chắc hơn". ông đề xuất hệ thống
gồm 5 bậc: Xuất sắc (điểm 5), Tốt (điểm 4), Trung bình (điểm 3), Xấu (điểm 2), Rất
phương diện sư phạm.
1.2. Kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh
1.2.1. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1.1. Kiểm tra
Theo Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê: "Kiểm tra là xem xét tình hình thực
tế để đánh giá, nhận xét". Theo Phạm Hữu Tòng "Kiểm tra là sự theo dõi, tác động
của người kiểm tra đối với người học nhằm thu được những thông tin cần thiết để
đánh giá''.
Một số nhà nghiên cứu khác cho rằng: “Kiểm tra là thuật ngữ chỉ cách thức
hoặc hoạt động giáo viên sử dụng để thu thập thông tin về biểu hiện kiến thức, kĩ
năng và thái độ học tập của học sinh trong học tập nhằm cung cấp dữ kiện làm cơ
sở cho việc đánh giá”; Kiểm tra được hiểu theo nghĩa rộng như là theo dõi quá trình
học tập và cũng có thể được hiểu theo nghĩa hẹp như là công cụ kiểm tra hoặc một
14
bài kiểm tra trong các kỳ thi”; “Việc kiểm tra cung cấp những dữ kiện, những thông
tin làm cơ sở cho việc đánh giá”.
Theo nghiên cứu của Trần Bá Hoành, Nguyễn Công Khanh, Lê Đức Ngọc,
Dương Thiệu Tống, KT kết quả học tập của HS thường được chia thành các loại sau:
- KT thường xuyên: Việc KT thường xuyên được thực hiện qua quan sát một
cách có hệ thống hoạt động của lớp học nói chung, của mỗi HS nói riêng, qua các
khâu ôn tập, củng cố bài cũ, tiếp thu bài mới, vận dụng kiến thức đã học vào thực
tiễn. KT thường xuyên giúp cho GV kịp thời điều chỉnh cách dạy, HS kịp thời điều
chỉnh cách học, tạo điều kiện vững chắc để quá trình dạy học chuyển dần sang
những bước mới.
- KT định kỳ: Hình thức KT này được thực hiện sau khi học xong một
chương, một phần của chương trình hoặc sau một học kỳ. Nó giúp cho GV và HS
nhìn lại kết quả dạy học sau những kỳ hạn nhất định, ĐG trình độ HS nắm kiến
thức, kỹ năng, kỹ xảo, củng cố, mở rộng những điều đã học, đặt cơ sở tiếp tục học
sang những phần mới.
- KT tổng kết: Hình thức KT này được thực hiện vào cuối mỗi giáo trình,
trị và đáng tin cậy; và xem xét mức độ phù hợp giữa tập hợp thông tin này và một
tập hợp tiêu chí phù hợp với các mục tiêu định ra ban đầu hay điều chỉnh trong quá
trình thu thập thông tin nhằm ra một quyết định”
- “Đánh giá được hiểu là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán
về kết quả công việc, dựa vào sự phân tích những thông tin thu được đối chiếu với
mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra, nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện
thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục”.
- “Đánh giá là quá trình thu thập thông tin, chứng cứ về đối tượng đánh giá
và đưa ra những phán xét, nhận định về mức độ đạt được theo các tiêu chí đã đưa ra
trong các chuẩn hay kết quả học tập” (mô hình ARC).
- “Đánh giá là quá trình thu thập thông tin, chứng cứ về đối tượng đánh giá
và đưa ra những phán xét, nhận định về mức độ đạt được theo các tiêu chí đã được
đưa ra trong các tiêu chuẩn hay kết quả học tập. Đánh giá có thể là đánh giá định
lượng dựa vào các con số hoặc định tính dự vào các ý kiến và giá trị”.
Đánh giá gồm có 3 khâu chính là: Thu thập thông tin, xử lí thông tin và ra
quyết định. Đánh giá là một quá trình bắt đầu khi chúng ta định ra một mục tiêu
phải theo đuổi và kết thúc khi đưa ra quyết định liên quan đến mục tiêu đó, đồng
thời cũng lại mở đầu cho một chu trình giáo dục tiếp theo.
Đánh giḠthực hiện đồng thời 2 chức năng: vừa là nguồn thông tin phản hồi
về quá trình dạy học, vừa góp phần điều chỉnh hoạt động này.
Theo chúng tôi: Đánh giá kết quả học tập của học sinh là một quá trình thu
thập các thông tin về kiến thức, kỹ năng, thái độ của học sinh một cách đầy đủ,
đúng đắn, chính xác với năng lực của học sinh từ đó so sánh với một tập hợp các
tiêu chí thích hợp của mục tiêu đã xác định nhằm đưa ra quyết định theo một mục
đích nào đó giúp điều chỉnh quá trình dạy học tốt hơn.
Như vây, thành tích học tập của mỗi HS phải được ĐG đúng, công bằng.
Việc ĐG đúng loại trừ được việc tuỳ tiện hạ thấp hoặc nâng cao yêu cầu. Việc ĐG
16
sai sẽ không động viên được HS. Khi ĐG, GV phải tỏ thái độ thiện chí và tế nhị,
động viên từng bước tiến bộ nhỏ, tin tưởng ở những thành tích sắp tới của mỗi HS.
tiêu dạy học, xác định mức độ thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình
giáo dục mà HS đạt được khi kết thúc một giai đoạn học tập (kết thúc một bài,
chương, chủ đề, mô đun, lớp học, cấp học). Chức năng xác định đòi hỏi tính chính
xác, khách quan, công bằng.
17
- Chức năng điều khiển: Phát hiện những mặt tốt, mặt chưa tốt, khó khăn,
vướng mắc và xác định nguyên nhân. Kết quả đánh giá là căn cứ để quyết định giải
pháp cải thiện thực trạng, nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học và giáo dục thông
qua việc đổi mới, tối ưu hóa PPDH của GV và hướng dẫn HS biết tự đánh giá để tối
ưu hóa phương pháp học tập.
Các tiêu chí của KT-ĐG:
- Đảm bảo tính toàn diện: ĐG được các mặt kiến thức, kĩ năng, năng lực, ý
thức, thái độ, hành vi của HS.
- Đảm bảo độ tin cậy: Tính chính xác, trung thực, minh bạch, khách quan, công
bằng trong đánh giá, phản ánh được chất lượng thực của HS, của cơ sở giáo dục.
- Đảm bảo tính khả thi: Nội dung, hình thức, cách thức, phương tiện tổ chức
kiểm tra, đánh giá phải phù hợp với điều kiện HS, cơ sở giáo dục, đặc biệt là phù
hợp với mục tiêu theo từng môn học.
- Đảm bảo yêu cầu phân hóa: Phân loại được chính xác trình độ, mức độ,
năng lực nhận thức của HS, cơ sở giáo dục; cần đảm bảo dải phân hóa rộng đủ cho
phân loại đối tượng.
- Đảm bảo hiệu quả: Đánh giá được tất cả các lĩnh vực cần đánh giá HS, cơ
sở giáo dục; thực hiện được đầy đủ các mục tiêu đề ra; tạo động lực đổi mới phương
pháp dạy học, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.
Kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh nhằm mục đích:
- Đối với HS: KT-ĐG kết quả học tập giúp xác định năng lực và trình độ của
HS để phân loại, tuyển chọn và hướng nghiệp cho HS (ĐG đầu vào); xác định kết quả
học tập của HS theo mục tiêu của chương trình môn học; thúc đẩy, động viên HS cố
gắng khắc phục thiếu sót, phát huy năng lực của mình để học tập đạt kết quả hơn; ĐG
sự phát triển nhân cách nói chung của HS theo mục tiêu giáo dục (ĐG đầu ra).
học tập của HS theo thứ tự và phân loại HS theo thứ tự. Thông thường, ĐG theo
chuẩn được sử dụng trong các kỳ thi HS giỏi, thi tuyển HS vào lớp 10, trường
chuyên, đại học Vì mục đích là sắp xếp theo thứ tự, nên trong ĐG theo chuẩn phải
sử dụng những công cụ ĐG (các đề KT, đề thi) giống nhau. Bộ công cụ cần phải
phân biệt được năng lực HS.
+ Đánh giá theo tiêu chí: nhằm xác định kết quả học tập của mỗi HS theo
mục tiêu giáo dục. ĐG theo tiêu chí chỉ rõ những kiến thức, kỹ năng và thái độ nào
mà HS phải đạt được trong quá trình học tập. Đánh giá này không đặt trọng tâm vào
việc so sánh mức độ kết quả học tập của HS này với HS khác. Các tiêu chí là cơ sở
ĐG mức độ thành công trong học tập của HS. Loại hình ĐG này thường được sử
dụng trong các kỳ KT học kỳ, KT cuối năm học, thi tốt nghiệp
- Xét theo hình thức, đánh giá kết quả học tập gồm có 4 loại:
+ Kiểm tra miệng: KT miệng cung cấp thông tin cho ĐG quá trình được thực
hiện bằng hình thức vấn đáp. Mục tiêu của KT miệng là: ngoài việc KT-ĐG kết quả
học tập thường xuyên của HS, còn thu hút sự chú ý của HS đối với bài học; kích
thích sự tham gia tích cực của HS vào bài giảng của GV; giúp GV thu thập thông
tin phản hồi về bài giảng của mình để có những điều chỉnh thích hợp, đây chính là
mục tiêu chính của KT miệng và cũng là một trong những mục tiêu ít được GV
quan tâm nhất. Khi thực hiện KT miệng cần chú ý: Không nhất thiết phải tiến hành
19
KT miệng vào đầu tiết học. Nên kết hợp KT miệng với việc dạy bài mới để không
những KT được việc nắm bài học cũ mà còn KT được việc nắm bài học mới để có
những điều chỉnh thích hợp và kịp thời cho nội dung và phương pháp dạy học, làm
cho việc dạy bài mới, tiết bài tập, tổng kết chương có hiệu quả hơn; Không nên chỉ
dừng lại ở mức độ "nhận biết", chỉ yêu cầu HS nhắc lại các kiến thức đã học mà cần
yêu cầu HS "vận dụng" những kiến thức này vào những tình huống mới.
- Kiểm tra viết: Là hình thức quan trọng nhất trong việc KT-ĐG kết quả học
tập của HS. Nó có thể cung cấp thông tin cho ĐG định hình hoặc ĐG tổng kết, ĐG
theo chuẩn hoặc ĐG theo tiêu chí. Bài KT thường được tiến hành vào lúc kết thúc
một hoặc một số vấn đề có liên quan với nhau ở một hoặc một số chương, cuối mỗi
duy của HS để đi đến đáp án, nhờ đó mà ĐG chính xác hơn về trình độ, năng lực
của HS.
- Nhược điểm: Do HS tự viết câu trả lời và bài giải nên phương án trả lời của
HS cũng rất đa dạng và phong phú. Việc ĐG các phương án trả lời cũng như bài
giải này sẽ thiếu tính khách quan vì phụ thuộc nhiều vào chủ quan của người chấm;
việc chấm bài khó khăn, mất nhiều thời gian; điểm số có độ tin cậy thấp vì khó xác
định được một cách đơn trị các tiêu chí ĐG, cũng như chứa nhiều yếu tố ngẫu nhiên
(tâm trạng và sự mệt mỏi của người chấm, thứ tự các bài chấm, chữ viết ) có thể
ảnh hưởng đến việc cho điểm; Việc sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại để
chấm bài cũng như phân tích câu hỏi, đề KT, đặc biệt là khi KT-ĐG một số lớn HS
gặp nhiều khó khăn.
Những nhược điểm này có thể ảnh hưởng đến những tiêu cực trong KT-ĐG
như học tủ, học lệch, quay cóp và trong việc dạy như dạy tủ, đối xử thiên vị trong
KT-ĐG.
1.2.4.2. Trắc nghiệm khách quan
TNKQ là loại hình câu hỏi, bài tập mà các phương án trả lời đã có sẵn, hoặc
nếu HS phải tự viết câu trả lời thì câu trả lời phải là câu ngắn và chỉ có duy nhất một
cách viết đúng. Trắc nghiệm này được gọi là “ khách quan” vì tiêu chí ĐG là đơn
nhất, hoàn toàn không phụ thuộc vào yếu tố chủ quan của người chấm.
- Một số dạng trắc nghiệm khách quan thường dùng: Có 5 loại câu hỏi trắc
nghiệm khách quan, tuy nhiên trong thực tế người ta thường sử dụng 4 loại câu hỏi
trắc nghiệm sau đây: ghép đôi, điền khuyết, sắp lại thứ tự và câu hỏi nhiều lựa chọn.
+ Loại câu hỏi TN nhiều lựa chọn: (Multiple choise question- MCQ): Đây là
loại câu hỏi được sử dụng rộng rãi nhất. Dạng câu hỏi này thường đưa ra 1 nhận
định và có từ 4 đến 5 phương án trả lời, thí sinh phải chọn để đánh dấu vào 1
phương án đúng hoặc đúng nhất. Câu hỏi gồm 2 phần:
Phần chính (phần dẫn): Nêu ra một vấn đề hay đưa ra một ý tưởng rõ ràng
nhằm giúp cho người làm bài có thể hiểu rõ câu TN muốn đòi hỏi điều gì để lựa
chọn câu trả lời thích hợp.
Phần lựa chọn: Gồm có nhiều hướng giải đáp được đánh dấu A, B, hay 1, 2,
không cho thấy quá trình suy nghĩ, lập luận của HS để trả lời hoặc giải một bài tập.
Do đó, nếu chỉ sử dụng duy nhất một hình thức TNKQ trong KT-ĐG thì việc
KTĐG có thể trở thành yếu tố hạn chế việc rèn luyện kỹ năng diễn đạt của HS.
1.2.4.3. Một số khác biệt và tương đồng giữa TL và TNKQ
Những điểm tương đồng:
- Đều có thể đo lường hầu hết kết quả học tập quan trọng bằng hình thức viết.
- Đều có chức năng khuyến khích HS học tập để đạt mục tiêu: hiểu biết các
nguyên lí, tổ chức, phối hợp các ý tưởng, ứng dụng kiến thức trong việc giải
quyết các vấn dề.
- Đều đòi hỏi sự vận dụng ít nhiều sự phán đoán chủ quan.
22
- Giá trị cùng tuỳ thuộc vào tính khách quan, độ tin cậy của
chúng.
Bảng 1.1. So sánh sự khác biệt của TNKQ và TL
TT Tự luận Trắc nghiệm khách quan
1 HS phải tự soạn câu trả lời và
diễn tả bằng ngôn ngữ của mình
HS chọn câu trả lời đúng nhất trong
một số câu đã cho sẵn
2 Ít câu hỏi, nhưng có tính tổng quát
và phải trả lời dài
Nhiều câu hỏi chuyên biệt, chỉ
cần trả lời ngắn gọn
3 Phải suy nghĩ, viết Phải đọc và suy nghĩ
4 Kết quả của bài TL phụ thuộc
người chấm
Kết quả của bài TNKQ không
phụ thuộc người chấm
5 Khó chấm và khó cho điểm chính xác Dễ chấm, cho điểm chính xác
pháp, nội dung dạy học để ngày càng hiệu quả hơn.
- Thứ hai, từ việc phân tích câu hỏi, xem xét kết quả bài làm của HS giúp
chúng ta ĐG được mức độ khó, dễ của câu hỏi, từ đó điều chỉnh cho hợp lý để có
23
được bộ câu hỏi TN để ĐG kết quả học tập của HS ngày càng chính xác và hiệu
quả hơn.
1.2.5.2. Phương pháp phân tích, đánh giá bài trắc nghiệm
Phân tích thống kê các câu hỏi TN để xem xét từng câu hỏi cũng như toàn bộ
bài TN có đạt được những mục đích đề ra hay không, điều đó phụ thuộc vào mục
đích của bài TN.
Nguyên tắc chung để phân tích câu hỏi của một bài TN là ta thường so sánh
câu trả lời của mỗi câu hỏi đó với điểm số chung của toàn bài với mong muốn có
nhiều HS (ở nhóm khá giỏi) và đồng thời có ít HS (ở nhóm yếu) trả lời được câu hỏi
đó. Nghĩa là phổ các điểm của một lớp HS phải trải càng rộng càng tốt. Nếu không
đạt được điều đó có thể câu hỏi TN soạn chưa chính xác với yêu cầu về chất lượng
của HS, hoặc nội dung kiến thức chưa dạy đúng yêu cầu của nội dung chương trình.
Việc phân tích câu trả lời của HS nhằm xác định các chỉ số về độ khó, độ
phân biệt, độ giá trị và độ tin cậy của một câu hỏi, một bài trắc nghiệm.
Theo kinh nghiệm của các nhà nghiên cứu giáo dục ở Việt Nam và trên thế
giới, trong mẫu phân bố chuẩn người ta thường chia HS thành 3 nhóm:
- Nhóm điểm cao (H): chọn 27% HS đạt điểm cao nhất (có thể dao động
trong khoảng từ 25% - 33%).
- Nhóm điểm thấp (L): chọn 27% HS đạt điểm thấp nhất (có thể dao động
trong khoảng từ 25% - 33%).
- Nhóm trung bình (M): khoảng 46% HS còn lại.
Việc chia nhóm chỉ là tương đối, đối với các lớp ít HS thì sai số thống kê là
khá lớn.
1.2.5.3. Độ khó của câu hỏi
Khi nói đến độ khó, hiểu nhiên phải xem câu hỏi đó là khó đối với đối tượng
nào. Nhờ việc thể nghiệm trên các đối tượng HS phù hợp, người ta có thể đo độ khó
%
n
TC
D
−
=
Trong đó: C- Là số người trong nhóm cao điểm trả lời đúng câu TN
T- Là số người trong nhóm thấp điểm trả lời đúng câu TN
n- Là tổng số HS dự thi trắc nghiệm.
Phân loại chỉ số D của một câu TN là:
- Nếu
%40D
>
: Độ phân biệt rất tốt.
- Nếu
%)39%30(D
−∈
: Độ phân biệt tốt
- Nếu
%)29%20(D
−∈
: Độ phân biệt trung bình
- Nếu
%19D
<
: Độ phân biệt thấp
* Tiêu chuẩn để chọn câu hỏi tốt
Sau khi đã phân tích và tính toán thì các câu hỏi thỏa mãn các tiêu chuẩn sau
đây được xếp vào danh mục các câu hỏi hay: