BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGÔ THỊ HOÀI THU
YẾU TỐ KỲ ẢO TRONG TRUYỆN NGẮN
NGÔ TỰ LẬP
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số: 60. 22 . 01 . 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học
TS. NGUYỄN DUY BÌNH
NGHỆ AN - 2014
MỤC LỤC
NGHỆ AN - 2014 1
MỤC LỤC 2
MỞ ĐẦU 4
1. Ý DO CHỌN ĐỀ TÀI 4
2. ỊCH SỬ VẤN ĐỀ 5
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 8
3.1. Đối tượng nghiên cứu 8
3.2. Phạm vi nghiên cứu 8
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8
5. ĐÓNG GÓP CỦA UẬN VĂN 8
6. CẤU TRÚC UẬN VĂN 9
Chương 1 10
sơ lưỢc vỀ nhà văn ngô tỰ lẬp 10
và giỚi thuyẾt vỀ văn hỌc kỲ Ảo 10
1.1. Sơ lược về tác giả Ngô Tự ập 10
1.1.1. Tiểu sử tác giả 10
1.1.2. Sự nghiệp sáng tác 10
1.1.3. Những tác phẩm văn học mang màu sắc kỳ ảo của Ngô Tự Lập 11
1.2. Giới thuyết về văn học kỳ ảo 12
3.4.4. Mô típ mộng du, giấc mơ 95
KẾT LUẬN 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
PHỤ LỤC 104
(Sách, báo đã xuất bản của Ngô Tự Lập) 104
Thơ: 104
Truyện 104
Tiểu luận/Nghiên cứu 104
Tác phẩm dịch: 105
Truyện, thơ và tiểu luận của ông được dịch và xuất bản tại Hoa Kỳ, Bỉ, Pháp, Ấn Độ, Thụy
Điển,Canada, Thái an: 105
3
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Kì ảo là một trong những thủ pháp nghệ thuật độc đáo của kho tàng
văn xuôi thế giới. Ngoài vai trò lạ hóa, hấp dẫn người đọc thì yếu tố kì ảo
còn có tác dụng giúp nhà văn biểu hiện, khám phá hiện thực và thể hiện
những quan niệm mới mẻ về nhân sinh, thế giới, con người Trong văn
học Việt Nam, yếu tố kì ảo đã tạo thành một dòng chảy liên tục không
ngừng nghỉ suốt chiều dài lịch sử từ thời cổ đại cho đến cận hiện đại. Tuy
nhiên do đặc điểm xã hội, tâm lí, nhận thức mỗi thời kì khác nhau nên yếu
tố kì ảo ở mỗi giai đoạn văn học cũng không giống nhau. Ngay từ thời kì sơ
khai của văn học, văn học dân gian Việt Nam đã gắn liền với yếu tố kì ảo.
Những hiện thực tự nhiên, xã hội, những ước mơ, hoài bão đều được thể
hiện qua các yếu tố mang tính chất kì ảo, huyền thoại. Sang văn học trung
đại yếu tố kì ảo thể hiện qua sáng tác của các tác giả như Nguyễn Dữ với
Truyền kì mạn lục, Trần Thế Pháp với ĩnh nam chích quái Sáng tác của
họ nhằm mượn thế giới của những giấc mơ, thế giới của những chuyện
thần kì để cảnh báo về những chuyện xấu xa ở trần gian nhằm hướng con
người đến một cuộc sống tốt đẹp hơn, hạnh phúc hơn. Ở thời kì văn học
mở ra những không gian nghệ thuật mới, hình tượng nghệ thuật sinh động,
hấp dẫn, thế giới tâm linh bí ẩn. Đây có thể coi là đóng góp riêng của nhà
văn tài năng này cho văn học viết đương đại.
Chọn đề tài Yếu tố kì ảo trong truyện ngắn Ngô Tự Lập, chúng tôi
muốn thể hiện sự yêu thích, sự quan tâm đối với sáng tác của nhà văn.
Đồng thời, chúng tôi cũng hi vọng góp phần minh định một phương diện
nghệ thuật quan trọng trong bức tranh đa sắc màu của cây bút đầy nội lực
và triển vọng này.
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Yếu tố kì ảo không phải là vấn đề thi pháp mới xuất hiện mà ngược lại
nó đã tồn tại từ lâu đời trong lịch sử văn học thế giới, vì vậy đến nay đã có
5
rất nhiều công trình ở trong nước cũng như trên thế giới quan tâm nghiên
cứu vấn đề này trên nhiều bình diện, của nhiều tác giả. Đáng chú ý phải kể
đến tác phẩm: Cái kì ảo trong tác phẩm của Balzac của Lê Nguyên Cẩn
(1999) và Dẫn luận về văn chương kì ảo của Tzevan Todorov (2008). Hai
công trình đã thực sự cho người đọc một cái nhìn đa chiều và thấu đáo về
yếu tố kì ảo trên nhiều phương diện.
Yếu tố kì ảo xuất hiện trong văn xuôi Việt Nam sau 1975 cho thấy
những cách tân, những đổi mới trong phương thức tư duy, nội dung thể
hiện cũng như trong kĩ thuật viết truyện của các nhà văn. Vấn đề này đã thu
hút sự chú ý và tâm sức của các nhà nghiên cứu, phê bình và cũng được đề
cập đến trong một số bài báo, chuyên luận, công trình nghiên cứu khoa học.
Ví dụ như bài “Yếu tố kì ảo trong truyện ngắn Hồ Anh Thái” của Điêu Thị
Tố Uyên đăng trên báo Văn Nghệ Quân Đội số ra ngày 02/04/2013, Bài
“Yếu tố kì ảo trong truyện ngắn Việt Nam hiện đại từ sau 1975” của tác giả
Phùng Hữu Hải in trên báo điện tử VNEXPRESS số ra Thứ hai, 19/6/2006.
Ngô Tự Lập là cây bút đam mê những tìm tòi mới lạ. Đánh giá về các
tác phẩm của ông nhiều nhà phê bình đã lột tả được thần thái độc đáo của
nhà văn tài năng này. Nhận xét về tập truyện ngắn Giấc ngủ kì lạ của ông
đánh giá xung quanh nhà văn – nhà thơ – dịch giả Ngô Tự Lập là chưa đầy
đủ nhưng có thể nhận thấy các bài viết đều đề cập đến sự đổi mới, sáng tạo
không ngừng nghỉ, sức hút kì lạ trong các tác phẩm của ông. Ngô Tự Lập là
một cây bút sắc sảo và có nhiều đóng góp quan trọng cho văn học dân tộc.
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về ông chưa nhiều, đặc biệt chưa có
công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ về yếu tố kì ảo trong truyện
ngắn của ông.
Nghiên cứu yếu tố kì ảo trong sáng tác của Ngô Tự Lập (qua các tập
truyện ngắn) sẽ giúp chúng tôi hiểu sâu sắc hơn về thế giới nghệ thuật của
nhà văn, cũng như có những nhìn nhận, đánh giá xác đáng hơn về quá trình
vận động của văn xuôi Việt Nam đương đại.
7
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Yếu tố kì ảo với những biểu hiện đa dạng và hiệu quả thẩm mĩ của nó
trong các tập truyện ngắn của Ngô Tự Lập.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu các tác phẩm văn xuôi của Ngô Tự Lập mà ở đó có sử
dụng yếu tố kì ảo để làm phương thức biểu hiện tác phẩm. Cụ thể bao gồm
các tác phẩm sau: Vĩnh biệt đảo hoang, tập truyện ngắn, (1991), Tháng có
15 ngày, truyện ngắn, (1993), Mùa đại bàng, truyện ngắn, (1995), Mộng du
và những truyện khác, tuyển tập, (1997), Giấc ngủ kỳ lạ của ông ương Tử
Ban (2005).
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong quá trình nghiên cứu và triển khai đề tài, chúng tôi sử dụng các
phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu thi pháp học
- Phương pháp tiếp cận hệ thống
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp phân tích
(2006), từng là thuyền trưởng hải quân, biên tập viên NXB Quân đội nhân
dân và NXB Hà Nội, Giám đốc Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh. Ngô Tự
Lập được biết đến như là một nhà văn, nhà thơ và dịch giả với hơn 20 cuốn
sách đã xuất bản (truyện, thơ, dịch thuật và tiểu luận). Hiện nay, ông là Phó
Tổng biên tập Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, là hội viên Hội
Nhà Văn Việt Nam và Hội Nhà Văn Hà Nội.
1.1.2. Sự nghiệp sáng tác
Ngô Tự Lập bắt đầu sáng tác năm 1989. Truyện ngắn đầu tay của ông
là ửa trong lòng biển đã đoạt giải thưởng sáng tác về Hải quân và Giải
Hoa phượng đỏ của Hội Văn học nghệ thuật Hải Phòng. Ngoài làm thơ,
viết truyện ngắn và tiểu luận, Ngô Tự Lập còn là một dịch giả tiếng Nga,
tiếng Pháp và tiếng Anh. Ông đã từng nhận nhiều giải thưởng: Giải "Tác
phẩm tuổi xanh" của báo Tiền Phong (1991), giải "Hoa Phượng Đỏ" của
HVHNT Hải Phòng (1992), giải sáng tác về "Biển và Hải Quân" của Bộ tư
lệnh Hải quân (1990), giải thưởng sáng tác văn học của NXB Hà Nội
(1993), giải thưởng truyện ngắn hay 2003 của báo Người ao Động TP Hồ
Chí Minh" (2003), giải thưởng cuộc thi tiểu luận "Về trí thức và phát triển"
10
của tạp chí Khoa Học và Tổ Quốc (2003), giải "Bông Hồng Vàng" về
truyện ngắn của Hội Tấm Lòng Vàng (1994), tặng thưởng về dịch thuật văn
học của tạp chí Văn Nghệ Quân Đội (1990).
Sách, các bài báo đã xuất bản của Ngô Tự Lập gồm có thơ, truyện,
tiểu luận-nghiên cứu, dịch thuật (Xem phần Phụ lục)
1.1.3. Những tác phẩm văn học mang màu sắc kỳ ảo của Ngô Tự Lập
Các tập truyện của Ngô Tự Lập đã tạo một dấu ấn sâu nặng trong lòng
độc giả. Cách viết của ông cho thấy nhà văn là người không ngừng tìm tòi,
đổi mới và sáng tạo. Đọc các truyện ngắn của ông, người đọc không khỏi
ngỡ ngàng về những phát hiện thú vị và độc đáo.
Ngô Tự Lập cho rằng, viết văn thực chất là giải bài toán tối ưu mang
tính trí tuệ cùng những tính chất nghề nghiệp trong thao tác biểu đạt. Với
1.2.1. Khái niệm “kì ảo”, “yếu tố kì ảo”
Kì ảo vốn là một khái niệm quen thuộc và lâu đời, nó xuất phát từ thời
cổ đại. Theo từ điển ngôn ngữ Pháp, “kỳ ảo” là tính từ, bắt nguồn từ tiếng
Hy Lạp “Phatastitos”, tiếng La tinh “Phantasticus” để chỉ những gì được
tạo nên bởi trí tưởng tượng chứ không tồn tại trong thực tế. Các từ ngữ Hy
Lạp và La Tinh đều có liên quan với từ “Phantasia” (tiếng Anh: “Fantasy”,
tiếng Pháp: Fantasie”) nghĩa là trí tưởng tượng phóng túng.
Theo Hán ngữ đại từ điển, “kì” là “khác thường”, còn “ảo” là không
thực. Nó thiên về tính chất li kì hiếm thấy.
Kì ảo bao hàm trong nó cả cái kì và cái ảo, nghĩa là không phân biệt
nổi ranh giới giữa thực – hư. Có thể thấy yếu tố kì ảo là những điều lạ lùng,
huyền bí, vừa chân thực vừa hư huyễn. Nhân tố quan trọng nhất của nó là
sự tưởng tượng, hư cấu của người sáng tạo nhằm thể hiện ý đồ nghệ thuật
nào đó, theo khuynh hướng phi thường hóa.
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, “Kỳ ảo là một thể loại văn
học nghệ thuật trong đó phép thuật và các yếu tố siêu nhiên khác được sử
dụng làm đề tài, cốt truyện hay bối cảnh. Trong nhiều tác phẩm, người ta
12
vẽ ra những thế giới mà ma thuật hiện hữu trong cuộc sống thường ngày.
Kỳ ảo được phân biệt với khoa học giả tưởng và kinh dị khi nó tránh xa
yếu tố giả khoa học hay rùng rợn, mặc dù ba thể loại này đôi khi lại chồng
chéo lẫn nhau (đều là thể loại con của Speculative fiction).”
Hiện nay, cái kì ảo là một hình thái nhận thức thẩm mĩ đặc biệt, nó trở
thành một phương thức tư duy nghệ thuật của nhà văn và là một phương
pháp đọc riêng để người đọc thuyên giải những mê lộ, “trận đồ bát quát”
trong trò chơi với văn bản, đồng thời sự mê ly của cái kì ảo đã “thôi miên”
được giới nghiên cứu văn học. Về cơ bản, các nhà nghiên cứu đều thống
nhất với nhau ở chỗ: Cái kì ảo phải đề cập đến cái siêu nhiên
(supernatural), cái không thể xảy ra (impossible), cái bí ẩn, cái không thể
giải thích, không thể thừa nhận, nó đột nhập vào cuộc sống thực hoặc thế
học hiện đại). Ông xác định “cái kì ảo là sản phẩm của trí tưởng tượng, hư
cấu”, “trong thực tế, cái kì ảo chỉ có thể ra đời từ bản thân cái tưởng tượng
(fantaisie) – cái duy nhất sinh ra nó, hợp pháp hóa nó và xác định nó như
một sản phẩm mĩ học đặc thù”, cái kì ảo tạo ra khả năng thường trực về suy
luận, một sự thâm nhập của cái không có khả năng hoặc không thể nhìn
thấy được trong lĩnh vực của những điều giải thích được” [6, 28]
George Munteanu trong Từ điển thuật ngữ văn học có xác định: “Cái
kì ảo bao hàm mọi cái ngẫu nhiên không quen thuộc, nhưng giải thích được
bằng hàng loạt nghiên nhân có thực” [6, 28].
Trong Văn học kì ảo Pháp, M. Schneider cũng đưa ra nhận xét: “Cái
kì ảo khai thác không gian nội tâm, nó gắn liền với sự sợ hãi trong cuộc
sống và trong hi vọng thay đổi” [6, 18].
P.G.Castex cũng có cho rằng: “Cái kì ảo trong văn học là hình thức
thuần túy (…) nó được tạo ra từ giấc mơ, từ sự mơ tín, sợ hãi, hối hận, từ
sự kích thích quá độ của trí não hay tâm linh, từ sự mê đắm và từ tất cả mọi
hiện tượng mang tính chất bệnh lí. Nó được nuôi dưỡng bằng ảo giác, bằng
sự khủng khiếp điên cuồng” [6, 20].
14
Theo các Từ điển giải nghĩa của Pháp, Từ điển thuật ngữ văn học của
Rumani, nội hàm thuật ngữ kỳ ảo được xác định như sau: “Cái kì ảo là sản
phẩm của trí tưởng tượng, được tạo ra nhờ khả năng suy tưởng; ở đó cái
siêu nhiên chiếm ưu thế. Đó là những cái không mang tính chân thực, chỉ
tuân theo quy luật của tưởng tượng. Đó là cái kì quặc, dị thường, hư ảo,
quái dị, siêu nhiên, kinh khủng, huyễn hoặc” [6, 15].
Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, đã đưa ra định nghĩa từ về
các thuật ngữ kì ảo, quái dị, kinh dị, có thể mỗi từ có một ý nghĩa riêng
nhất định song chúng đều nói lên một nội dung là: những điều không thực,
gây ấn tượng mạnh.
Lê Huy Bắc trong công trình Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo và
Gabriel Garcia Marquez cho rằng: “Thế giới của văn học huyền ảo là thế
thuật khác để xây dựng cốt truyện, nhân vật hướng đến việc bộc lộ chủ đề
tư tưởng tác phẩm. Chính cái kỳ ảo cũng là một trong những yếu tố tạo nên
phong cách nghệ thuật của tác phẩm văn học.
1.2.2. Khái niệm “văn học kì ảo”
Yếu tố kì ảo là một bộ phận của văn học nhân loại, theo thời gian yếu
tố kì ảo đã có những biến đổi nhất định để phù hợp với văn học thời đại
mới.
Lê Nguyên Cẩn, trong tác phẩm Cái kì ảo trong tác phẩm của Banlzac,
nhận định: “Văn học kì ảo chứa đựng trong nó những yếu tố ma quái, những
điều lạ lùng hay những sự kiện, con người không có thực.” [6, 12].
Trong cuốn Dẫn luận về văn học kì ảo, Todorov lại chỉ ra rằng: “văn
học kì ảo đặc biệt chú ý miêu tả các hình thức thái quá lẫn sự chuyển hóa
đặc biệt của chúng, hoặc là sự đồi bại. Chưa kể vị trí của cái tàn nhẫn và
bạo lực, ngay cả cái chết, cuộc sống sau chết, các xác chết mà ma quái
cũng đều gắn với đề tài tình yêu.” [50, 18]
Như vậy, có thể khẳng định văn học kì ảo là bộ phận văn học hướng
tới việc phản ánh những yếu tố kì lạ, khác thường, dị thường trong đó đặc
16
trưng chung nhất của nó là tính ước lệ, tượng trưng, tạo ra những biểu
tượng mang tính đa nghĩa. Nhằm hướng tới một xã hội với đời sống tâm lí
con người vô cùng phức tạp và tinh vi, từ đó cho người đọc cái nhìn đa
chiều và góc cạnh về cuộc sống nhân sinh và thế giới quan.
1.2.3. Giới thuyết của Ngô Tự Lập về văn học kỳ ảo
Văn học kì ảo không chỉ có sức hút kì lạ trong sáng tác văn học, nó
còn là đề tài hấp dẫn trong lĩnh vực nghiên cứu, phê bình. Ngô Tự Lập là
nhà văn thành công trong việc kết hợp giữa nghiên cứu và sáng tác về văn
học kỳ ảo. Giới thuyết của ông về văn học kỳ ảo chủ yếu được trình bày
trong các bài nghiên cứu có giá trị như: Ma với tư cách là nhân vật văn học
[127]; Những đường bay của mê lộ [143].
Trong Những đường bay của mê lộ, nhà văn đã đưa ra nhiều định
trong thực tế; cái có tính tưởng tượng, siêu nhiên". Thực ra đây là một định
nghĩa không đầy đủ, mặc dù sự kỳ ảo đúng là được sinh ra bởi sự tưởng
tượng và làm cho cái siêu nhiên xâm nhập vào thế giới tự nhiên.” [29, 148];
“Trở lại thuật ngữ fantastique, ta thấy rằng từ fantasie trong tiếng Anh, hay
fantaisie trong tiếng Pháp được mượn từ âm nhạc và hội họa thực ra để chỉ
những tác phẩm mang tính phóng túng, không tuân theo qui luật. Vào đầu
thế kỷ XIX, bên cạnh từ này người ta còn thường dùng những từ
như grotesque và arabesque, điều gắn liền với trào lưu tìm về văn hóa
phương Đông khá thịnh hành. Các văn nghệ sĩ, chẳng hạn Schumann trong
âm nhạc hay Delacroix trong hội họa, kêu gọi phá bỏ các cấu trúc tác phẩm
theo lối cũ. Văn học cũng không thoát khỏi trào lưu đó. Tác phẩm Récits
de Péterbourg của Gogol chẳng hạn, ban đầu được in dưới cái
tên Arabesques.
Trong cuộc đấu tranh chống lại những luật lệ và khuôn khổ cũ, các
nhà lãng mạn chủ nghĩa tái tạo từ tác phẩm Hoffmann một kiểu công cụ
đấu tranh tuyệt vời. Nhưng họ cần phải có một thuật ngữ không phải
18
là fantasie vốn mang nghĩa quá cụ thể và quá hẹp. Thế là thuật
ngữ fantastique ra đời” [29, 150-151]
Ngô Tự Lập khẳng định: “Về bản chất, văn học kỷ ảo là một cách
nhìn và cách thể hiện thế giới khác hẳn. Lựa chọn sự mơ hồ của một thuật
ngữ, các nhà lãng mạn chủ nghĩa thời đó đã mơ hồ cảm thấy rằng họ đang
bước vào một thứ mê lộ học thuật do chính học thuật tạo ra.” [29, 152]
Ông cho rằng những định nghĩa gần chính xác nhất và có tính phổ quát
cao nhất, bao gồm các định nghĩa sau: "Sự kỳ ảo ( ) có đặc trưng ( ) là sự
đột nhập dữ dội của cái huyền bí vào khuôn khổ đời thực." Chúng ta có thể
tham khảo những định nghĩa khác nhau, như của Louis Vax: "Truyện kỳ
ảo, trong khi vẫn trú ngụ trong thế giới của chúng ta, muốn giới thiệu với
chúng ta những người cũng giống như chúng ta, nhưng bất ngờ phải chứng
kiến những điều không giải thích nổi"; hoặc của Caillois: "Toàn bộ sự kỳ
gian, cả những biến cố xảy ra trong đó.” [29, 184]
Nói về vấn đề kì ảo, tác giả Ngô Tự Lập đã có một số nghiên cứu như:
Ma trong văn học kỳ ảo phương Đông và phương Tây (1996), luận văn thạc
sĩ, (École Normale Supérieure de Fontenay/St. Cloud), Paris; hay Những
đường bay của mê lộ (2003), Hội Nhà Văn, Hà Nội. hoặc Minh triết của
Giới hạn (2004), NXB Hội nhà văn, Hà Nội.
Ngô Tự Lập cũng khẳng định “Ngày nay có lẽ chẳng có người cầm bút
nào không cảm thấy trong mình ít nhiều phẩm chất có tên kì ảo.” (Ngô Tự
Lập, Lưu Minh Sơn, 1998, “lời tựa”, Đêm bướm ma, Nxb Văn học)
Trong Đường bay của những mê lộ, Ngô Tự Lập từng cho rằng “Ngay
cả hiện thực cũng chỉ là một giấc mơ, một giấc mơ hỗn loạn, vô tận, giấc
mơ với những đường bay của mê lộ…”[29, 185]
Theo ông: “Truyện kỳ ảo đưa ra những sự kiện không thể giải thích
nổi bằng những quy luật thông thường. Đó là một thế giới, nơi cái thực và
cái ảo, cái tự nhiên và cái siêu nhiên xâm nhập lẫn nhau ” [29, 162]
20
Hay tác giả từng nhận định: “Kì ảo đó chính là mê lộ nghệ thuật, và
cũng như trong lĩnh vực khác, nó xuất hiện ở mọi nơi, khi trật tự đã trở nên
bó buộc, vừa đáng ghét vừa đáng sợ và tính hợp lý của trật tự ấy đã bị
thành câu hỏi. Tuy nhiên, những thiết chế văn minh càng chặt chẽ, càng ráo
riết thì sự xuất hiện của nó càng kịch tính, như những gì chúng ta chứng
kiến ở phương Tây.” [29]
Như vậy, ở vai trò là một nhà phê bình Ngô Tự Lập đã đưa ra được cái
nhìn khách quan, khoa học và hợp lý về khái niệm cái kì ảo và văn học kì ảo.
Theo cách đánh giá của ông, cái kì ảo có sức lan tỏa lâu bền, từ trong văn học
cổ trung đại, đến văn học đương đại. Và “Tiêu chí phân loại truyện kì ảo chỉ có
thể là sự ngờ vực mà nó gây ra nơi người đọc” mà thôi. [29, 171]
Trên đây là những giới thuyết đầy đủ và khoa học của Ngô Tự Lập về
yếu tố kì ảo, văn học kì ảo. Chúng ta thấy nhà văn Ngô Tự Lập hiểu rất rõ
văn học kì ảo, và đặc biệt là những vấn đề lý thuyết về văn học kì ảo. Đó là
một hiện tượng văn hóa cho rằng: “con người, bằng khả năng tưởng tượng
của chính nó, đã tạo ra thế giới thứ hai, thế giới vốn chỉ tồn tại trong tưởng
22
tượng song lại khoác màu thần bí của một thế giới ảo, song song tồn tại với
cuộc sống hiện thực của con người”.[6]
Không gian trong tác phẩm Ngô Tự Lập chứa đựng nhiều yếu tố kì ảo.
Đó có thể là không gian kì bí, lạ lùng ở cõi trần, không gian chập chờn
trong cõi vô thức, mộng mị, không gian nhạt nhòa, mịt mù hư vô. Trong
thế giới không gian kì ảo này, những cảm nhận về cuộc sống cứ ẩn hiện,
chập chờn, đan cài giữa âm và dương, hư và thực, những linh cảm, điềm
báo cứ quẩn quanh, bủa vây con người. Không gian kì ảo cứ bủa vây, xâm
nhập vào mọi ngõ ngách của đời sống và tâm hồn nhân vật.
Trong các truyện ngắn của Ngô Tự Lập, không gian kì ảo tập trung
xoay quanh ba kiểu không gian chính, đó là kiểu không gian huyền thoại
hay mang màu sắc huyền thoại; không gian của tưởng tượng, thế giới của
mơ mộng, mộng du và không gian của biển cả kì bí, rộng lớn, bao la.
Kiểu không gian được thiết lập qua những giấc mơ có thể xem là
không gian chính, bao trùm toàn bộ sáng tác của ông. Dù ít, dù nhiều, gần
như tác phẩm nào cũng có đề cập đến giấc mơ, nếu không là giấc mơ thì đó
cũng là thế giới của tưởng tượng, của mộng du hay của ảo mộng Đó là
kiểu không gian được thiết lập không phụ thuộc vào ý thức của con người,
nó tồn tại trong môi trường vô ý thức, mộng mị của con người. Trong tình
trạng vô thức con người bước vào một thế giới khác, ở đó có khi mọi trật tự
và các mối quan hệ bị đảo lộn, người và ma có thể giao tiếp, trao đổi, thông
thương và tiếp xúc với nhau. Kiểu không gian này tạo cho tác phẩm mang
màu sắc của sự bí hiểm, kì quái thậm chí là kinh dị…
Không gian kì ảo thường gắn liền với những nhân vật của một thế giới
khác như ma, quỷ, thần thánh, mộng du, ảo mộng, huyễn hoặc, huyền
thoại…
2.1.1.1. Không gian huyền thoại
Bảng khảo sát biểu hiện của không gian huyền thoại
Vĩnh biệt đảo hoang Không gian nửa thật nửa hư trên đảo hoang
Hóa thân Không gian kì lạ, khác thường ở vùng Sơn Hạ
Món quà Không gian mang màu sắc cổ tích kiểu được ông
bụt tặng quà của ông già Enten.
Giấc ngủ kì lạ của
ông ương Tử Ban
Huyền thoại về bài thuốc dân gian của dân miền
biển
Chuyện ở Xêma Không gian đời thực mang màu sắc cổ tích của kì
quan thứ nhất ở Xêma
ửa trong lòng biển Không gian bí hiểm, mang màu sắc huyền thoại
với kiểu kết cấu lời nguyền.
Xác chết trả thù Không gian huyền thoại bao trùm bởi “những lời
nguyền” và sự trả giá cho tội lỗi vì phạm lời
nguyền.
Bão lạc mùa Huyền thoại mang tính chất lời nguyền trong dân
gian làng biển
Được ngọc Không gian kì ảo, huyền thoại của nhân vật mõ
Biền khi ở trấn Hạ Xuyên và khi gặp vua Cát Vũ
Trước hết đó là không gian vừa hư vừa thực trên đảo hoang trong
truyện ngắn Vĩnh biệt đảo hoang: “Bấy lâu nay thế giới của nàng chỉ là một
hòn đảo nhỏ chơi vơi giữa bốn bề sóng gió (…). Xung quanh nàng là đại
dương vô tận và đối với nàng cũng là một sinh vật biết thở hít, biết yêu
thương và căm giận.(…). Bạn bè của nàng là những đàn cá tung tăng vô tư
lự, những con rùa cần mẫn, những đàn chim nhiều không kể xiết từ chân
trời xa bay về cùng với mùa xuân, đậu đầy trên các mỏm đá, cất tiếng kêu
vang động và khoan khoái giũ những đôi cánh mỏng manh đã rã rời sau
chặng đường xa Loài người đối với nàng chỉ gồm có nàng và cha nàng.”
[25, 16-17]