BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LƯƠNG THỊ HỒNG VÂN
VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM KIẾN TẠO
VÀO DẠY HỌC MÔN KHOA HỌC
Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN - 2014
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LƯƠNG THỊ HỒNG VÂN
VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM KIẾN TẠO
VÀO DẠY HỌC MÔN KHOA HỌC
Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục học bậc Tiểu học
Mã số: 60140101
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS NGUYỄN THỊ HƯỜNG
NGHỆ AN - 2014
4
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu luận văn, ngoài sự cố
gắng của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm của thầy cô,
8. Cấu trúc luận văn 14
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 15
1.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề 15
1.2. Một số vấn đề về quan điểm dạy học kiến tạo 17
1.2.1. Khái niệm về kiến tạo và dạy học kiến tạo 17
1.2.2. Đặc điểm của dạy học kiến tạo 19
1.2.3. Các luận điểm cơ bản của dạy học kiến tạo 21
1.2.4. Các loại kiến tạo trong dạy học 24
1.2.5. Vai trò của giáo viên và học sinh trong dạy học kiến tạo 31
1.3. Môn Khoa học và việc dạy học theo quan điểm kiến tạo 33
1.3.1. Mục tiêu môn Khoa học 33
1.3.2. Nội dung chương trình môn Khoa học ở Tiểu học 34
1.3.3. Ý nghĩa của việc vận dụng quan điểm kiến tạo trong dạy học môn
Khoa học 35
1.4. Một số đặc điểm tâm lí của học sinh Tiểu học có liên quan đến đề tài36
Kết luận chương 1 39
Chương 2
CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 41
2.1. Khái quát về quá trình nghiên cứu thực trạng 41
2.1.1. Mục đích khảo sát 41
2.1.2. Đối tượng khảo sát 41
2.1.3. Nội dung khảo sát 41
2.1.4. Phương pháp khảo sát 42
2.2. Kết quả khảo sát 42
2.2.1. Thực trạng dạy môn Khoa học ở các trường Tiểu học hiện nay 42
2.2.2. Thực trạng việc vận dụng quan điểm dạy học kiến tạo vào quá
trình dạy học môn Khoa học 52
2.3. Đánh giá chung về thực trạng 58
Kết luận chương 2 59
QĐKT : Quan điểm kiến tạo
TH : Tiểu học
PPDH : Phương pháp dạy học
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1. Cơ chế hoạt động của kiến tạo cơ bản [8] 25
Bảng 1.2. Cơ chế hoạt động của kiến tạo xã hội [8] 28
Bảng 2.1. Các phương pháp mà giáo viên Tiểu học sử dụng trong dạy học
môn Khoa học (Khảo sát trên tổng số 90 giáo viên) 43
Bảng 2.2. Các hình thức dạy học được GV sử dụng trong dạy học môn
Khoa học ở Tiểu học (Khảo sát trên tổng số 90 giáo viên) 46
Bảng 2.3. Thực trạng sử dụng đồ dùng trong dạy học môn Khoa học 47
Bảng 2.4. Kết quả kiểm tra định kì lần 4 môn Khoa học
khối 4 và khối 5 năm học 2012-2013 49
Bảng 2.5. Kiến thức học sinh nắm được sau khi học xong một số bài
Khoa học lớp 4 49
Bảng 2.6. Kiến thức học sinh nắm được sau khi học xong một số bài
Khoa học lớp 5 50
Bảng 2.7. Sự hiểu biết của giáo viên về dạy học vận dụng quan điểm kiến tạo
trong môn Khoa học 53
Bảng 2.8. Các mức độ nhận thức của giáo viên về vai trò của vận dụng
quan điểm kiến tạo trong dạy học môn khoa học 54
Bảng 2.9. Mức độ vận dụng quan điểm kiến tạo của giáo viên vào dạy học
môn Khoa học 54
Bảng 2.10. Đánh giá ưu điểm của việc vận dụng quan điểm kiến tạo
trong dạy học môn Khoa học 55
Bảng 2.11. Đánh giá của giáo viên về khó khăn của vận dụng
quan điểm kiến tạo trong dạy học Khoa học 56
Bảng 3.1. Bảng tổng hợp kết quả bài thử nghiệm 1 93
Bảng 3.2. Bảng phân phối kết quả bài thử nghiệm 1 93
dạy học như: lí thuyết tình huống, quan điểm kiến tạo, dạy học dự án là một
hướng được nhiều nhà sư phạm lựa chọn. Quan điểm kiến tạo là một trong
những lí thuyết vượt trội được sử dụng trong giáo dục. Quan điểm này khuyến
khích học sinh tự xây dựng kiến thức cho mình dựa trên thực nghiệm cá nhân
và áp dụng trực tiếp vào môi trường học tập của các em.
11
Môn Khoa học là một trong những môn học quan trọng ở bậc Tiểu học.
Cùng với các môn học khác, môn Khoa học góp phần trang bị kiến thức và
hình thành kĩ năng, kĩ xảo học tập, đặt nền móng cho sự phát triển nhân cách
học sinh và cho giáo dục phổ thông. Cụ thể: Môn Khoa học ở Tiểu học trang
bị một số kiến thức cơ bản, đơn giản và gần gũi với học sinh thuộc các lĩnh
vực khoa học thực nghiệm (Vật lí, Hóa học, Sinh học), khoa học về sức khỏe
và môi trường, những ứng dụng thực tế giúp học sinh dễ tiếp cận với các môn
học tương ứng ở các lớp trên và vốn kiến thức để vào đời. Chương trình được
cấu trúc thành các chủ đề, trong mỗi chủ đề nội dung các bài học liên quan
với nhau. Rất thuận lợi để có thể áp dụng lí thuyết kiến tạo vào dạy học môn
Khoa học giúp học sinh tự kiến tạo kiến thức của bản thân mình dựa trên
những tri thức và kinh nghiệm đã có từ trước, phát huy tính tích cực, độc lập,
sáng tạo của học sinh.
Trong thời gian qua, đã có nhiều đề tài nghiên cứu, vận dụng quan điểm
kiến tạo vào dạy học một số môn học ở bậc Tiểu học như Toán, Tiếng Việt
Tuy nhiên, chưa có một công trình nào đi sâu, nghiên cứu việc vận dụng lí
thuyết kiến tạo vào dạy học môn Khoa học.
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Vận dụng
quan điểm kiến tạo vào dạy học môn Khoa học ở trường Tiểu học”, góp
phần nâng cao chất lượng dạy học môn học này ở Tiểu học.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực tiễn, đề tài đề xuất quy trình vận
dụng quan điểm kiến tạo vào dạy học môn Khoa học ở Tiểu học, nhằm góp
phần nâng cao chất lượng dạy học môn học này ở trường Tiểu học.
- Nghiên cứu sản phẩm hoạt động
13
- Thử nghiệm sư phạm
Các phương pháp này được sử dụng nhằm xác lập cơ sở thực tiễn của
đề tài.
7.3. Phương pháp thống kê toán học: để xử lí số liệu thu được.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn có
3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận của đề tài
Chương 2: Cơ sở thực tiễn của đề tài
Chương 3: Quy trình vận dụng quan điểm kiến tạo vào dạy học môn
Khoa học ở trường Tiểu học
14
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề
Quan điểm kiến tạo ra đời vào cuối thế kỉ XVIII, xuất phát từ tuyên bố
của nhà triết học Giam Battista Vico cho rằng: “Con người chỉ có thể hiểu
một cách rõ ràng những cái gì mà họ xây dựng nên cho mình” [5-17]. Tuy
nhiên, người đầu tiên nghiên cứu để phát triển tư tưởng kiến tạo một cách rõ
ràng và áp dụng vào việc dạy học đó là J. Piaget. Theo ông, nền tảng của việc
học là khám phá và các cấu trúc nhận thức phải có lịch sử phát sinh và phát
triển nằm trong một quá trình kép: đồng hoá và điều ứng.
Một tác giả khác có nhiều đóng góp cho sự phát triển quan điểm kiến tạo
là L. X. Vugotxky. Ông cho rằng: Trẻ em học các khái niệm khoa học thông
qua sự mâu thuẫn giữa những quan niệm hàng ngày của chúng với những khái
niệm của người lớn. Người lớn giới thiệu cho trẻ em những khái niệm chuẩn
mực, nhưng đồng thời trẻ em phải tự kiến tạo sự hiểu biết riêng của mình với
thế giới xung quanh chứ không chỉ chấp nhận và ghi nhớ một cách khiên
học, cao đẳng. Đối với môn Khoa học ở Tiểu học thì gần đây có công trình
nghiên cứu của Lương Việt Thái (2006), “Nghiên cứu tổ chức quy trình dạy
học một số nội dung vật lí trong môn Khoa học ở Tiểu học và Môn Vật lí ở
Trung học cơ sở vận dụng tư tưởng của lí thuyết kiến tạo”, đã đưa ra một số
đặc điểm của dạy học vận dụng lí thuyết kiến tạo và tìm hiểu xây dựng quy
trình ở góc độ nội dung vật lí của môn Khoa học Tiểu học.
Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu về hướng dạy học này nhìn
chung còn ở mức độ khái quát, chưa đi sâu vào nghiên cứu và xây dựng thành
quy trình trình cụ thể cho các tiết dạy môn Khoa học ở trường tiểu học.
16
1.2. Một số vấn đề về quan điểm dạy học kiến tạo
1.2.1. Khái niệm về kiến tạo và dạy học kiến tạo
1.2.1.1. Kiến tạo
Theo từ điển Tiếng Việt, “kiến tạo” là xây dựng nên. Như vậy, kiến tạo
là một động từ chỉ hoạt động của con người tác động lên một đối tượng nhằm
tạo nên một đối tượng mới theo nhu cầu bản thân.
1.2.1.2. Dạy học kiến tạo
Bản chất của quá trình học tập là quá trình nhận thức của học sinh (HS),
đó chính là quá trình phản ánh thế giới khách quan vào ý thức của các em.
Quá trình nhận thức nói chung, nhận thức của HS nói riêng, về cơ bản được
diễn ra theo quy luật “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư
duy trừu tượng trở về với thực tiễn” (V. I. Lê Nin).
Con đường đi từ trực quan đến trừu tượng thường diễn ra thông qua
nhiều hoạt động phức hợp như quan sát vật mẫu hay tình huống, phân tích,
tổng hợp, quy nạp, chọn lọc, mô hình hóa các quan hệ, hiện tượng của hiện
thực khách quan, …từ đó hình thành nên kiến thức. Quá trình nhận thức của
HS có những nét tương đồng và khác biệt với quá trình nhận thức khoa học
của các nhà khoa học. Quá trình đó được tổ chức và hình thành bằng các
phương pháp sư phạm do giáo viên (GV). Sản phẩm được HS tìm ra là cái
mới đối với bản thân được lấy từ kho tàng tri thức của nhân loại.
quan hệ tương tác với những chủ thể khác”.
Như vậy, dù có nhiều cách diễn đạt khác nhau về dạy học kiến tạo,
nhưng các tác giả đều nhấn mạnh đến vai trò chủ động của HS trong quá trình
học tập và cách thức họ thu nhận các tri thức đó cho bản thân. HS không học
bằng cách tiếp nhận những tri thức do người khác truyền cho một cách áp đặt
mà bằng cách đặt mình vào môi trường học tập từ đó họ tích cực, chủ động
18
đồng hoá và điều ứng các kiến thức và kĩ năng đã có để phát hiện và giải
quyết vấn đề, xây dựng nên những hiểu biết mới cho bản thân. Đồng thời dạy
học kiến tạo đưa ra các khái niệm mới như: Đồng hóa và điều ứng.
Trong quá trình dạy học theo quan điểm kiến tạo GV không đọc bài
giảng, giải thích hoặc nỗ lực chuyển tải kiến thức mà là người tạo tình huống
cho học sinh thiết lập các cấu trúc cần thiết. GV là người xác nhận kiến thức,
là người thể chế hóa kiến thức cho học sinh.
1.2.2. Đặc điểm của dạy học kiến tạo
Trên cơ sở những nghiên cứu về QĐKT theo chúng tôi dạy học theo lối
kiến tạo có những đặc điểm sau đây:
- Học sinh là chủ thể tích cực xây dựng nên kiến thức cho bản thân mình
dựa trên những kiến thức đã có từ trước. Giáo viên là người tổ chức, cố vấn,
hỗ trợ khi cần thiết.
Giáo viên cần tổ chức được môi trường học tâp mang tính kiến tạo,
không nên cố gắng làm cho HS nắm nội dung bằng giải thích, minh họa hay
truyền đạt các kiến thức có sẵn để áp dụng vào một cách máy móc. HS cần
kiến tạo kiến thức cho bản thân mình dựa trên những tri thức kinh nghiệm đã
có từ trước. Chỉ khi nào người học tạo nên được mối liên hệ hữu cơ giữa kiến
thức mới và cũ, sắp xếp kiến thức mới vào cấu trúc (hiện có hoặc thay đổi cho
phù hợp) thì quá trình học tập mới có ý nghĩa.
- Mục đích của dạy học kiến tạo không chỉ là truyền thụ kiến thức mà
chủ yếu là làm thay đổi hoặc phát triển các quan niệm của HS, qua đó HS
kiến tạo kiến thức mới, đồng thời phát triển trí tuệ và nhân cách của mình.
niệm. Từ đó, thống nhất với nhau để xây dựng tri thức mới. Bài học trở thành
quá trình học hỏi lẫn nhau chứ không phải là sự tiếp nhận thụ động từ GV.
20
- Tổ chức cho HS vận dụng kiến thức thông qua các bài tập vận dụng,
các hiện tượng mới có liên quan.
Thông qua các bài tập vận dụng, HS vừa được củng cố nội dung bài học
và luyện tập dần dần hình thành phương pháp nhận thức, kiến tạo tri thức trên
cả hai phương diện kiến tạo cơ bản và kiến tạo xã hội.
- Tăng cường phát huy tính tự tin, tích cực, chủ động, sáng tạo và khả
năng tự học thông qua tổ chức thực hiện các hoạt động học tập của HS, HS
tự tìm tòi và giải quyết vấn đề.
Học sinh tự học có nghĩa là rèn luyện cho mình được phương pháp, kĩ
năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo ra cho họ lòng ham học, khơi dậy nội
lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ đạt được cao hơn. Vì vậy
ngày nay người ta nhấn mạnh mặt hoạt động học trong quá trình dạy học, nỗ
lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động.
- Đổi mới kiểm tra đánh giá, khuyến khích học sinh tiến hành tự đánh giá.
Thực hiện tự đánh giá giúp HS kiểm tra lại kiến thức của bản thân để từ
đó điều chỉnh cách học, phương pháp học của mình. Đây là hoạt động quan
trọng của dạy học kiến tạo. Ngoài ra, giáo viên nên khuyến khích học sinh có
thể đánh giá HS khác và đánh giá GV.
1.2.3. Các luận điểm cơ bản của dạy học kiến tạo
Trong những năm gần đây việc nghiên cứu và hoàn thiện tư tưởng của
Piaget và Vưgotxky về dạy học theo quan điểm KT đã được nhiều nhà nghiên
cứu quan tâm nhưng về cơ bản việc dạy học theo điểm này dựa vào năm luận
điểm sau đây:
Luận điểm 1: Tri thức được kiến tạo một cách tích cực bởi chủ thể nhận thức
(học sinh) chứ không phải tiếp thu một cách thụ động từ môi trường bên ngoài.
Luận điểm này khẳng định vai trò trung tâm của người học trong quá
trình dạy học, đóng vai trò quyết định đến quá trình chuyển hóa tri thức từ
phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh, đáp ứng những nhu cầu xã hội
đặt ra.
Luận điểm 4: Kiến thức được học sinh kiến tạo thông qua con đường
mô tả theo sơ đồ sau:
Khi phân tích quá trình học tập, chúng tôi nhận thấy nếu chỉ một mình
học sinh Tiểu học thì việc tự mình kiến tạo ra kiến thức mới là một việc
không hề đơn giản. Quá trình kiến tạo ra kiến thức mới cần có sự tham gia
của yếu tố môi trường, giáo viên là người tạo ra môi trường học tập, tổ chức
cho học sinh thực hiện việc kiến tạo tri thức theo chu trình sau:
Sơ đồ 2
Kiến thức và
kinh nghiệm
đã có
Phán đoán,
đưa ra các giả
thuyết
Tri
thức
mới
Thất bại
Kiểm
nghiệm
Điều
chỉnh
Kiến thức,
kinh nghiệm
đã có của
HS, SV
Môi trường
dạy học (do
Trong dạy học môn Khoa học nói riêng, dạy học nói chung, hoạt động
kiến tạo được phân thành hai loại: Kiến tạo cơ bản (radical constructivism) và
kiến tạo xã hội (social constructivism).
1.2.4.1. Kiến tạo cơ bản
Theo nghĩa hẹp, kiến tạo cơ bản thể hiện ở chỗ cá nhân tìm kiếm tri thức
cho bản thân trong quá trình đồng hóa và điều ứng, có nghĩa là chủ thể nhận
thức bằng cách tự mình thích nghi với môi trường, sinh ra những mâu thuẫn,
những khó khăn và những sự mất cân bằng [18].
24
Theo nghĩa rộng, kiến tạo cơ bản khẳng định rằng tri thức không được thu
nhận một cách bị động mà do chính chủ thể tích cực xây dựng nên. Mặt khác,
mục đích của quá trình nhận thức của học sinh là quá trình tái tạo lại tri thức
của cộng đồng, những hiểu biết của bản thân được lấy từ kho tàng tri thức của
nhân loại và được sàng lọc cho phù hợp với từng đối tượng HS. Kiến tạo cơ
bản đề cao vai trò của cá nhân trong quá trình nhận thức và cách thức cá nhân
xây dựng tri thức cho bản thân. Kiến tạo cơ bản quan tâm đến quá trình chuyển
hóa bên trong của cá nhân trong quá trình nhận thức và coi trọng kinh nghiệm
của mỗi cá nhân, nhấn mạnh vai trò chủ động của mỗi người học [18].
Kiến tạo cơ bản có ưu điểm là khẳng định vai trò chủ động của người
học trong quá trình nhận thức. Người học tự xây dựng nên tri thức cho bản
thân mình trong quá trình học tập. Tuy nhiên, nhược điểm của kiến tạo cơ
bản: coi trọng quá mức vai trò chủ động của cá nhân nên người học bị đặt
trong tình trạng cô lập và kiến thức xây dựng được sẽ thiếu tính xã hội.
Cơ chế hoạt động của nó ra sao? Theo Ngô Tất Hoạt, cơ chế này diễn ra như
sau:
Bảng 1.1. Cơ chế hoạt động của kiến tạo cơ bản [8]
Nhận thức
của người học
Nhiệm vụ
cần giải quyết