MỤC LỤC
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
kết quả nêu trong chuyên đề thực tập này là do tôi tự thu thập, trích dẫn, tuyệt đối
không
sao chép từ bất kỳ một tài liệu nào.
Hà Nội, ngày 02 tháng 06 năm 2015
Tác giả chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Hải Hà
LỜI NI ĐU
Chúng ta đang sống trong thời đại của sự phát triển mạnh mẽ về tất cả các
lĩnh vực xã hội. Bao trùm lên bức tranh toàn cảnh là sự phát triển và ngày càng
hoàn thiện của nền kinh tế thị trường, chính điều này đã tạo nên diện mạo mới
đầy khởi sắc cho nền kinh tế - xã hội nước ta. Sự gia nhập tổ chức thương mại
thế giới WTO đã mở ra những vận hội mới cũng như những thách thức đối với
nền kinh tế đang trên bước đường phát triển và hội nhập. Điều này đòi hỏi sự
phát triển đồng bộ của các yếu tố, các thực thể trong nền kinh tế quốc dân.
Sự phát triển của nền kinh tế là tác động cộng hưởng của nhiều nhân tố,
trong đó không thể không nói tới một trong những nhân tố quan trọng là các
doanh nghiệp. Hoạt động có hiệu quả của các doanh nghiệp được phản ánh trong
nhiều chỉ tiêu về kết quả kinh doanh, về khả năng thanh toán… thể hiện một
phần trong chu trình bán hàng – thu tiền của đơn vị. Chu trình bán hàng – thu
tiền đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt động của một doanh nghiệp,
nó góp phần giúp cho doanh nghiệp thu hồi được vốn đã đầu tư vào hoạt động
sản xuất kinh doanh và trên hết, tạo ra lợi nhuận để cho hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp ngày càng lớn mạnh. Thêm vào đó, chu trình bán hàng –
thu tiền liên quan tới rất nhiều khoản m\c trên Báo cáo tài chính, một sự sai sót
nhỏ trong việc ghi nhận doanh thu cũng làm ảnh hưởng lớn đến toàn bộ Báo cáo
tài chính.
trả tiền và chấp nhận thanh toán. Về bản chất tiêu th\ là quá trình thực hiện giá
trị và giá trị sử d\ng của sản phẩm hàng hoá lao v\, dịch v\ đồng thời tạo vốn để
tái sản xuất mở rộng. Thực hiện tốt quá trình tiêu th\ sản phẩm doanh nghiệp
mới có thể thu hồi vốn và thực hiện được giá trị thặng dư- một nguồn thu quan
trọng để tích luỹ vào ngân sách và các quỹ của doanh nghiệp nhằm mở rộng quy
mô sản xuất và nâng cao đời sống người lao động.
Dưới góc độ kiểm toán quá trình bán hàng và thu tiền liên quan đến nhiều
chỉ tiêu trong Bảng cân đối kế toán (như tài khoản tiền, các khoản phải thu, các
khoản dự phòng phải thu khó đòi) và báo cáo kết quả kinh doanh (doanh thu, các
khoản giảm trừ doanh thu, giá vốn hàng bán, chi phí tài chính bất thường và các
khoản thu nhập tài chính bất thường có được từ các khoản hoàn nhập dự
phòng ). Đây là những chỉ tiêu cơ bản mà những người quan tâm đến tình hình
tài chính của doanh nghiệp dùng để phân tích khả năng thanh toán hiệu quả kinh
doanh, tiền năng, triển vọng phát triển cũng như những rủi ro tiềm tàng trong
tương lai. Để có được những hiểu biết sâu sắc về chu trình bán hàng và thu tiền
thì trước hết phải nắm được các đặc điểm, các thuộc tính của chu kỳ.
Các đặc điểm của chu kỳ bán hàng và thu tiền gồm có:
- Mật độ phát sinh của các nghiệp v\ tiêu th\ tương đối lớn và phức tạp.
- Có liên quan đến đối tượng bên ngoài doanh nghiệp.
- Chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của quy luật cung cầu.
- Doanh thu là cơ sở để đánh giá hiệu quả của một quá trình kinh doanh và
lập phương án phân phối thu nhập đồng thời thực hiện nghĩa v\ với Nhà nước
nên chỉ tiêu này dễ bị xuyên tạc.
- Các quan hệ thanh toán trong mua bán rất phức tạp, chiếm d\ng vốn lẫn
nhau, công nợ dây dưa khó đòi. Tuy nhiên, việc lập dự phòng nợ khó đòi lại
mang tính chủ quan và thường dựa vào khả năng ước đoán của Ban Giám đốc
nên rất khó kiểm tra và thường bị lợi d\ng để ghi tăng chi phí.
Lệnh êu thụ Duyệt bán chịu Chuyển giao hàng Lập hoá đơn Kế toán tổng hợp Khoản phải thu Thu ền
Duyệt bán chịuLập hoá đơn vận chuyển
Lệnh bán Lệnh bán được duyệt
Gửi ền vào ngân hàng
Sơ đồ 1.1: Chức năng của chu trình bán hàng – thu tiền
(theo nguồn giáo trình kiểm toán tài chính - ĐHKTQD)
1.1.2. Các chức năng cơ bản của chu trình bán hàng – thu tiền
Xuất phát từ bản chất và hình thức biểu hiện, chu trình bán hàng – thu tiền
được c\ thể hóa thành các chức năng sau:
Xử lý đơn đặt hàng của người mua
Được xem là điểm khởi đầu của chu trình bán hàng- thu tiền. Hình thức đặt
hàng của người mua rất phong phú, có thể là đơn đặt hàng hay phiếu yêu cầu mua
hàng, có thể là người mua xem hàng qua catalog hay trên trang web của Công ty rồi
tiến hành đặt hàng qua thư điện tử hay điện thoại… Dù theo hình thức nào thì về
mặt pháp lý, việc đặt hàng thể hiện nhu cầu và sự sẵn sàng mua theo những điều
kiện xác định của khách hàng. Đối với khách thể kiểm toán, khi nhận được đơn đặt
hang, cần cân nhắc xem xét một số yếu tố như: khả năng cung ứng của doanh
nghiệp có đáp ứng được nhu cầu của khách hàng hay không; khả năng thanh toán
của khách hàng; điều kiện về giá cả, phương thức thanh toán… để đi đến quyết định
có cung cấp hàng hóa, dịch v\ cho khách hàng hay không.
Xét duyệt bán chịu
Ngay từ thỏa thuận ban đầu, sau khi quyết định bán hàng, việc doanh nghiệp
xem xét vấn đề bán chịu một phần hay bán chịu toàn bộ lô hàng là vô cùng quan
trọng. Vì nếu doanh nghiệp không thực hiện chính sách bán chịu tức là không tạo ra
sự linh hoạt trong thanh toán, tất yếu sẽ không khuyến khích bán hàng. Nhưng nếu
doanh nghiệp không xem xét, kiểm soát chặt chẽ chính sách này thì có thể dẫn đến
tình trạng nợ khó đòi, thậm chí là thất thu do khách hàng mất khả năng thanh toán
hoặc cố tình không thanh toán. Do vậy, các chính sách phê chuẩn bán chịu được
thực hiện tại đơn vị bán hàng để làm giảm thiểu những khoản phải thu không thu
hồi được. Quá trình xét duyệt bán chịu thường gồm việc đánh giá về các đơn đặt
hàng và thông tin nợ của khách hàng và được phê chuẩn bởi người có thẩm quyền
trong doanh nghiệp để có thể quản lý một cách tốt nhất các khoản phải thu.
Chuyển giao hàng
Lập dự phòng phải thu khó đòi là cần thiết khi doanh nghiệp thực hiện việc
bán chịu sau do không phải lúc nào khách hàng cũng trong điều kiện kinh doanh
thuận lợi và có khả năng thanh toán ổn định, dẫn đến tình trạng các khoản nợ đã đến
hạn mà khách hàng vẫn chưa trả được nợ. Thời điểm lập dự phòng là cuối kỳ đối
với các công ty chứng khoán và cuối năm đối với các công ty khác.
Theo thông tư số 13/2006/TT-BTC của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn chế
độ trích lập và sử dụng các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, tổn thất các
khoản đầu tư tài chính, nợ khó đòi và bảo hành sản phẩm, hàng hóa, công trình xây
lắp tại doanh nghiệp, quy định về việc lập dự phòng phải thu khó đòi như sau:
Bảng 01: Quy định về việc lập dự phòng
Thời gian quá hạn Tỷ lệ lập dự phòng
3 tháng – 12 tháng 30%
12 tháng – 2 năm 50%
2 năm – 3 năm 70%
>3 năm Xóa sổ
Doanh nghiệp có thể xóa sổ trước thời hạn trong trường hợp khách nợ chết,
mất tích có sự xác nhận của cơ quan công an hoặc khách nợ bị phá sản có chứng
nhận của tòa án. Khi lập dự phòng hoặc xóa sổ phải đảm bảo đầy đủ chứng từ hợp
lý, hợp lệ. Sau khi xóa sổ không được hủy chứng từ và phải theo dõi trên TK 004.
Thẩm định và xóa sổ khoản phải thu không thu hồi được
Việc tồn tại các khoản phải thu không thu hồi được thường khó tránh khỏi khi
doanh nghiệp thực hiện chính sách bán chịu. Sau khi thẩm định, có chứng cứ chắc
chắn không thể thu hồi được khoản nợ đó do khách hàng mất khả năng thanh toán
(phá sản, giải thể ), doanh nghiệp cần tiến hành xóa sổ các khoản phải thu này.
1.1.3. Hoạt động KSNB đối với chu trình bán hàng – thu tiền
1.1.3.1. Tổ chức hạch toán kế toán bán hàng – thu tiền
* Trong chu trình bán hàng – thu tiền, các chứng từ sổ sách được sử d\ng
chủ yếu bao gồm:
- Đơn đặt hàng, phiếu yêu cầu mua hàng
- Phiếu tiêu th\
Sơ đồ 01: Quy trình luân chuyển chứng từ trong chu trình bán hàng – thu tiền
(6)
(7)
(8)
(2)
(1)
(4)
(3)
(1)
TK 521, 531, 532 TK 511, 512
TK 911
TK 111, 112
TK 33311
TK004
TK 131 TK 642
TK 139
(2)
(5)
Sơ đồ 02. Hạch toán kế toán chu trình bán hàng – thu tiền
Ghi chú:
(1): Doanh thu bán hàng (có VAT) thu tiền ngay
(2): Doanh thu bán chịu (có VAT)
(3): Cuối kỳ kết chuyển các khoản giảm trừ doanh thu
(4): Kết chuyển doanh thu thuần cuối kỳ
(5): Lập dự phòng nợ phải thu khó đòi
(6): Hoàn nhập dự phòng
(7): Bù đắp bởi quỹ dự phòng
(8): Xóa sổ nợ phải thu khó đòi
1.1.3.2. Hoạt động KSNB đối với chu trình bán hàng – thu tiền
Bán hàng – thu tiền là chu trình cực kỳ quan trọng trong mọi doanh nghiệp.
• Phân cách nhiệm vụ đầy đủ trong tổ chức công tác tài chính kế toán
Đây là hoạt động KSNB trọng yếu được thiết lập với m\c đích ngăn ngừa sai
sót và gian lận trong kế toán nói chung và trong chu trình bán hàng – thu tiền nói
riêng. Việc phân cách phải được thực hiện ít nhất ở ba mặt sau: phân cách người ghi
sổ bán hàng với người ghi sổ khoản phải thu, phân cách người thu tiền với người
ghi sổ khoản phải thu, phân cách người thực hiện chức năng bán hàng với người
chịu trách nhiệm phê chuẩn việc bán chịu.
• Tính độc lập của người kiểm tra, kiểm soát
Đây là yếu tố chủ yếu trong việc phát huy hiệu lực của kiểm soát nội bộ.
Thông thường, sử d\ng kiểm toán viên nội bộ để kiểm soát việc xử lý và ghi sổ các
nghiệp v\ bán hàng và thu tiền sẽ đảm bảo chất lượng kiểm soát và ph\c v\ tốt cho
việc thực hiện các m\c tiêu kiểm toán.
1.1.4. Mục tiêu của kiểm toán chu trình bán hàng – thu tiền trong kiểm toán
BCTC
CMKT số 200, khoản 11 đã xác định rõ: “Mục tiêu của kiểm toán BCTC là
giúp cho KTV và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến xác nhận rằng BCTC có được lập
trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành hoặc được chấp nhận rằng
BCTC có được lập trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành hoặc được
chấp nhận, có tuân thủ pháp luật liên quan và có phản ánh trung thực và hợp lý
trên các khía cạnh trọng yếu hay không”. Bên cạnh đó, đối với đơn vị được kiểm
toán, m\c tiêu kiểm toán BCTC giúp đơn vị thấy rõ những tồn tại, sai sót để khắc
ph\c nhằm nâng cao chất lượng thông tin tài chính của mình. Do vậy, có thể khẳng
định m\c tiêu kiểm toán là đích cần đạt tới đồng thời là thước đo kết quả kiểm toán
cho mỗi cuộc kiểm toán c\ thể.
Khi tiến hành kiểm toán, bước đầu tiên KTV cần hiểu được m\c tiêu kiểm
toán chung, sau đó c\ thể hóa các m\c tiêu chung này vào từng phần hành c\ thể
gọi là các m\c tiêu kiểm toán đặc thù. Đối với kiểm toán chu trình bán hàng – thu
tiền, chu trình này bao gồm nghiệp v\ bán hàng và nghiệp v\ thu tiền. Mặc dù hai
loại nghiệp v\ này có quan hệ chặt chẽ với nhau tạo nên chu trình xác định nhưng
mỗi loại lại có yêu cầu riêng và phản ánh c\ thể vào sổ kế toán riêng theo trình tự
Quyền và
nghĩa v\
Hàng hóa đã bán thuộc sở hữu
của đơn vị
Doanh nghiệp có quyền đối với
các khoản phải thu
Định giá Các khoản bán hàng đã ghi sỏ
đúng số lượng, chủng loại hàng
hóa đã vận chuyển và hóa đơn
bán hàng đã được lập đúng
Các khoản tiền thu đã ghi sổ và
đã nhận đều đúng với giá hàng
bán, các khoản phải thu khách
hàng được định giá một cách
đáng tin cậy theo giá trị ròng có
thể thực hiện được. Đối với
nghiệp v\ thu tiền bằng ngoại
tệ, KTV cần quan tâm đến tỷ
giá hối đoái quy đổi
Chính xác số
học
Các nghiệp v\ bán hàng được
tính toán đúng, các con số cộng
sổ, chuyển sổ, lên Báo cáo khớp
với nhau
Các khoản thu tiền được tính
toán chính xác, được cộng sổ,
chuyển sổ và lên Báo cáo đúng
Phân loại và Các nghiệp v\ bán hàng được Các khoản tiền được phân loại
Giai đoạn I
Đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán
Ký hợp đồng kiểm toán
Thu thập thông n về khách hàng
Thực hiện thủ tục phân ]ch
Đánh giá ]nh trọng yếu và rủi ro
Tìm hiểu hệ thống KSNB của khách hàng và đánh giá rủi ro kiểm soát
Thiết kế phương pháp kiểm toán chu trình bán hàng – thu ền
• Nguồn lực kiểm toán được phân bổ một cách phù hợp cả về chất lượng và số lượng
KTV
• Kế hoạch kiểm toán được lập một cách đầy đủ và chu đáo dẫn đến sự phối hợp công
việc giữa các KTV cũng như giữa KTV với các bộ phận có liên quan (kiểm toán nội
bộ, chuyên gia bên ngoài…) đạt hiệu quả, từ đó giảm chi phí kiểm toán và nâng cao
chất lượng kiểm toán.
• Kế hoạch kiểm toán phù hợp giúp tránh hiểu lầm giữa KTV và đơn vị được kiểm
toán và phối hợp công việc với đơn vị (nội dung công việc sẽ thực hiện, thời gian
tiến hành kiểm toán, trách nhiệm của mỗi bên…)
• Căn cứ vào kế hoạch kiểm toán, KTV có thể kiểm soát và đánh giá chất lượng cuộc
kiểm toán.
Đặc biệt, tầm quan trọng của giai đoạn lập kế hoạch đã được quy định thành
chuẩn mực – đòi hỏi KTV phải tuân thủ đầy đủ khi tiến hành kiểm toán – như sau:
“Kế hoạch kiểm toán phải được lập cho mọi cuộc kiểm toán. Kế hoạch kiểm toán
phải được lập một cách thích hợp nhằm đảm bảo bao quát hết các khía cạnh trọng
yếu của cuộc kiểm toán; phát hiện gian lận, rủi ro và những vấn đề tiềm ẩn; và đảm
bảo cuộc kiểm toán được hoàn thành đúng thời hạn. Kế hoạch kiểm toán trợ giúp
KTV phân công công việc cho trợ lý kiểm toán và phối hợp với KTV và chuyên gia
khác về công việc kiểm toán.” (CMKT số 300 Lập kế hoạch kiểm toán). Từ đó có
thể khẳng định: giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán có vai trò hết sức quan trọng, đòi
hỏi KTV phải đặc biệt coi trọng để đảm bảo chất lượng và hiệu quả toàn bộ cuộc
kiểm toán.
Lập kế hoạch kiểm toán bao gồm bảy bước công việc sau đây:
mới sẽ có rất nhiều khó khăn và rủi ro, có thể ảnh hưởng đến kết quả cuộc kiểm
toán và nghiêm trọng hơn ảnh hưởng đến uy tín của Công ty kiểm toán.
Xem xét tính độc lập của KTV trong mối quan hệ với khách hàng
• Đối với khách hàng cũ: KTV cần thường xuyên cập nhật thông tin về khách hàng
và đánh giá xem liệu có thay đổi nào dẫn đến rủi ro khiến công ty kiểm toán phải
ngừng cung cáp dịch v\ kiểm toán cho công ty đó không?
*Nhận diện lý do kiểm toán của khách hàng
Thực chất của việc nhận diện lý do kiểm toán là việc xác định người sử d\ng
BCTC và m\c đích sử d\ng BCTC của họ. Ban đầu, KTV thực hiện phỏng vấn Ban
Giám đốc khách hàng (đối với khách hàng mới) hoặc dựa vào kinh nghiệm những
lần kiểm toán trước (đối với khách hàng cũ) để có những thông tin về lý do kiểm
toán. Sau này, trong quá trình thực hiện kiểm toán, KTV vẫn tiếp t\c thu thập thông
tin về vấn đề này vì hai yếu tố trên cần nhận diện có ảnh hưởng đến số lượng bằng
chứng cần thu thập và mức độ chính xác của các kết luận kiểm toán. Ví d\, nếu các
BCTC càng được sử d\ng rộng rãi thì các thông tin trên BCTC càng phải trung thực
và hợp lý dẫn đến số lượng bằng chứng thu thập càng phải nhiều.
*Lựa chọn đội ngũ KTV
Có nhận định rằng: Thủ tục kiểm toán rất đa dạng có thể áp dụng hiệu quả
trong trường hợp này nhưng có thể lại không đem lại kết quả mong muốn trong
những tình huống tương tự. Điều này có nghĩa là ngoài việc thiết kế một chương
trình kiểm toán hợp lý, một cuộc kiểm toán có đạt hiệu quả hay không còn ph\
thuộc vào người thực hiện chương trình kiểm toán ấy. Nhận định này nhấn mạnh
vai trò của đội ngũ nhân viên kiểm toán. Một đội ngũ nhân viên thích hợp sẽ mang
lại hiệu quả cao hơn cho cuộc kiểm toán.
1.2.1.2. Ký hợp đồng kiểm toán
Nhìn nhận dưới góc độ là DN cung cấp dịch v\, cũng giống như các DN
khác với đích cần đạt được là sự thỏa thuận cung cấp dịch v\ cho khách hàng, đối
với các công ty kiểm toán đó là Hợp đồng kiểm toán. Theo CMKT Việt nam số
210, “Hợp đồng kiểm toán: Là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa các bên tham gia
ký kết (công ty kiểm toán, khách hàng) về các điều khoản và điều kiện thực hiện
- Trao đổi với KTV khác và với các nhà tư vấn đã cung cấp dịch v\ cho đơn vị
được kiểm toán hoặc hoạt động trong cùng lĩnh vực với đơn vị được kiểm toán;
- Trao đổi với chuyên gia, đối tượng bên ngoài có hiểu biết về đơn vị được kiểm
toán (Ví d\: chuyên gia kinh tế, cơ quan cấp trên, khách hàng, nhà cung cấp );
- Tham khảo các ấn phẩm liên quan đến lĩnh vực hoạt động của của đơn vị được
kiểm toán (Ví d\: Số liệu thống kê của Chính phủ, báo chí chuyên ngành )
- Các văn bản pháp lý và các quy định có ảnh hưởng đến đơn vị được kiểm toán;
- Khảo sát thực tế văn phòng, nhà xưởng của đơn vị được kiểm toán
- Các tài liệu do đơn vị kiểm toán cung cấp (Ví d\: Nghị quyết và biên bản các
cuộc họp, tài liệu gửi cho các cổ đông hay cho cơ quan cấp trên, báo cáo quản lý nội
bộ, BCTC định kỳ, các chính sách về quản lý kinh tế, tài chính, thuế, hệ thống kế
toán, tài liệu KSNB, quy định về quyền hạn, chức năng, nhiệm v\ của từng bộ phận
trong DN )
b. Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng
Bước công việc này giúp cho KTV nắm bắt được các quy định mang tính
pháp lý thông qua tiếp xúc, phỏng vấn Ban Giám đốc công ty khách hàng. KTV cần
thu thập Giấy phép thành lập, điều lệ công ty, BCTC, báo cáo kiểm toán, biên bản
thanh tra (nếu có); Biên bản họp HĐQT, Ban Giám đốc, Đại hội đồng cổ đông; các
hợp đồng bán hàng quan trọng
1.2.1.4. Thực hiện thủ tục phân tích
Thủ t\c phân tích được sử d\ng trong tất cả các giai đoạn của cuộc kiểm
toán: từ lập kế hoạch cho đến thực hiện và kết thúc kiểm toán.
Theo CMKT Việt Nam số 520 – Quy trình phân tích thì “KTV phải áp dụng
quy trình phân tích trong quá trình lập kế hoạch kiểm toán để tìm hiểu tình hình
kinh doanh của đơn vị và xác định những vùng có thể có rủi ro. Quy trình phân tích
giúp KTV xác định nội dung, lịch trình và phạm vi của các thủ tục kiểm toán khác.”
Như vậy, việc thực hiện thủ t\c phân tích trong giai đoạn lập kế hoạch giúp KTV
xác định nội dung cơ bản của cuộc kiểm toán. Tất nhiên phạm vi, mức độ thực hiện
thủ t\c phân tích là tùy thuộc vào đặc trưng hoạt động kinh doanh của khách hàng.
Ở giai đoạn này, KTV có thể áp d\ng cả phân tích ngang và phân tích dọc.
chính là sai số có thể chấp nhận được cho mỗi khoản m\c. Việc phân bổ này giúp
KTV xác định số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập cho từng khoản m\c nói
trên theo hướng giảm chi phí mà vẫn đảm bảo mức độ trọng yếu không vượt quá
ước tính ban đầu cho BCTC.
b. Đánh giả rủi ro kiểm toán
Rủi ro kiểm toán: Là rủi ro do KTV và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến nhận
xét không thích hợp khi BCTC đã được kiểm toán còn có những sai sót trọng yếu
(CMKT Việt Nam số 400)
Rủi ro kiểm toán bao gồm ba bộ phận: rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát và
rủi ro phát hiện
Rủi ro tiềm tàng: Là rủi ro tiềm ẩn, vốn có do khả năng từng nghiệp v\, từng khoản
m\c trên BCTC chứa đựng sai sót trọng yếu khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp, chưa kể
đến sự tác động của hệ thống KSNB. Rủi ro này liên quan đến hoạt động và ngành
nghề kinh doanh của khách hàng. C\ thể đối với chu trình bán hàng – thu tiền có
một số rủi ro tiềm tàng như: Tính trung thực của Ban Giám đốc, các nghiệp v\ bán
hàng bất thường,rủi ro trong việc quản lý tiền, dự phòng phải thu khó đòi.
Rủi ro kiểm soát: Là rủi ro xảy ra sai sót trọng yếu trong từng nghiệp v\, từng
khoản m\c trong BCTC khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp mà hệ thống kế toán và hệ
thống KSNB không ngăn ngừa hết hoặc không phát hiện và sửa chữa kịp thời. Một
số rủi ro kiểm soát như: hệ thống KSNB hoạt động không hiệu quả, không phân
cách trách nhiệm giữa người bán hàng và người ghi sổ, giữa người ghi sổ và người
giữ tiền ; không đánh số thứ tự trước đối với các chứng từ bán hàng, thu tiền
Rủi ro phát hiện: Là khả năng xảy ra các sai sót hoặc gian lận trong BCTC mà
không được KTV phát hiện trong quá trình kiểm toán. Như vậy rủi ro phát hiện ph\
thuộc vào số lượng mẫu chọn kiểm tra cũng như trình độ nghiệp v\ của KTV. Ví
d\: khi chọn mẫu một số nghiệp v\ bán hàng, KTV thường chọn các nghiệp v\ có
quy mô lớn hoặc phát sinh bất thường mà bỏ qua các nghiệp v\ có quy mô nhỏ