Đánh giá thực trạng môi trường làng nghề mộc truyền thống Thủ Độ, xã An Tường - huyện Vĩnh Tường - tỉnh Vĩnh Phúc. - Pdf 29


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN VĂN TẤN Tên đề tài:
“ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ MỘC
TRUYỀN THỐNG THỦ ĐỘ, XÃ AN TƯỜNG - HUYỆN VĨNH TƯỜNG
TỈNH VĨNH PHÚC” KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khoa học môi trường
Khoa : Môi trường
Khoá học : 2010 - 2014
Thái Nguyên, năm 2014

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành đề tài tốt nghiệp em
đã được sự quan tâm, giúp đỡ của nhiều tập thể và các nhân. Nhân đây em xin
bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới:
Tập thể các thầy cô giáo trong Khoa Môi Trường, trường Đại học
Nông Lâm Thái Nguyên đã tân tình giúp đỡ em trong quá trình học tập và
nghiên cứu đề tài.
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn cô
giáo TS. Vũ Thị Quý đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình thực
hiện đề tài tốt nghiệp.
Qua thời gian 4 tháng thực tập tại Phòng TNMT huyện Vĩnh Tường
tỉnh Vĩnh Phúc em đã rút ra rất nhiều bài học thực tế mà khi ngồi trên ghế nhà
trường em chưa được biết đến, em xin chân thành cảm ơn toàn thể cán bộ,
nhân viên trong Phòng TNMT huyện Vĩnh Tường, người dân đã tận tình giúp
đỡ em suốt quá trình thực tập tốt nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã giúp đỡ
động viên em trong suốt quá trình thực tập.
Trong quá trình thực tập và làm khóa luận, em đã cố gắng hết mình,
nhưng do kinh nghiệm và kiến thức của bản thân còn hạn chế nên khóa luận
của em không tránh được những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự tham
gia đóng góp ý kiến của các thầy cô và các bạn để chuyên đề của em được
hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn !

Thái Nguyên, ngày 02 tháng 05 năm 2014
DANH MỤC CÁC BẢNG Trang
Bảng 2.1. Trình độ kỹ thuật ở các làng nghề hiện nay 8
Bảng 2.2. Phân vùng môi trường các sông, suối, kênh, mương, khe, rạch 16
Bảng 4.1. Cơ cấu kinh tế năm 2012 của xã An Tường và làng Thủ Độ 22
Bảng 4.2. Dân số và lao động ở làng nghề Thủ Độ 23
Bảng 4.3 . Kinh nghiệm nghề mộc của lao động làng nghề Thủ Độ (N=30) . 24
Bảng 4.4. nguyên liệu và định mức sản xuất 26
Bảng 4.5. Kết quả phân tích chất lượng môi trường không khí làng nghề gỗ,
Thủ Độ, An Tường - Vĩnh Tường - Vĩnh Phúc năm 2011 33
Bảng 4.6. Kết quả phân tích chất lượng môi trường nước tại sông Hồng đoạn
chảy qua Thủ Độ (20/11/2012) 35
Bảng 4.7 : Kết quả phân tích chất lượng nước thải thôn
Thủ Độ (19/11/2012) 37
Bảng 4.8: Các loại bệnh thường gặp của người dân làng nghề Thủ Độ 39
Bảng 4.9. Phân tích SWOT về quản lý môi trường làng nghề Thủ Độ 47DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang
Hình 2.1. Phân loại làng nghề Việt Nam theo loại hình sản xuất 6
Hình 2.2. Sự phân bố các làng nghề Việt Nam theo khu vực 7
Hình 4.1. Bản đồ vị trí huyện Vĩnh Tường 20
Hình 4.2. Quy trình sản xuất của làng nghề mộc Thủ Độ kèm dòng thải 27
Hình 4.3. Đánh giá của người dân về sự ô nhiễm nguồn nước ở

NGHIÊN CỨU 18
3.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 18
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu
18
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu
18
3.2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 18
3.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
3.3.1. Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 18
3.3.2. Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 19
3.3.3. Phương pháp thống kê, xử lý số liệu 19
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 20
4.1. TỔNG QUAN ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI LÀNG NGHỀ
THỦ ĐỘ 20
4.1.1. Điều kiện tự nhiên 20
4.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội 22
4.1.3. Lịch sử hình thành và phát triển làng nghề Mộc Thủ Độ 23
4.2. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ PHÁT SINH CHẤT THẢI TẠI LÀNG NGHỀ MỘC
THỦ ĐỘ 25
4.2.1. Tình hình sản xuất của làng nghề Thủ Độ 25
4.2.1.1. Quy mô sản xuất 25
4.2.1.2. Nguyên liệu và định mức sử dụng trong sản xuất 25
4.2.1.3. Quy trình sản xuất 27
4.2.2. Nguồn phát sinh, thành phần và hàm lượng chất thải ở làng nghề
Thủ Độ 29
4.2.2.1. Chất thải rắn 29
4.2.2.2. Chất thải lỏng 30
4.2.2.3. Bụi, tiếng ồn và hơi sơn 30
4.3. HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ THỦ ĐỘ 32
4.3.1. Môi trường không khí 32

công ăn việc làm cho nông dân, nâng cao thu nhập Song, bộ mặt của nông
thôn có làng nghề hiện nay đã “thay đổi” theo nhiều nghĩa. Trong đó có cả sự
thay đổi về chất lượng môi trường theo hướng tiêu cực. Theo kết quả khảo sát
của 52 làng nghề điển hình trong cả nước (do Bộ Tài nguyên và Môi trường
tổ chức) cho thấy, hiện có tới 46% làng nghề môi trường bị ô nhiễm nặng (đối
với không khí, nước, đất hoặc cả 3 dạng); ô nhiễm vừa và nhẹ đều chiếm
27% (Đặng Kim Chi, 2011).
Vấn đề ô nhiễm môi trường do các hoạt động sản xuất làng nghề gây ra
ở Việt Nam đã được đề cập đến qua nhiều thời kỳ trên nhiều khía cạnh như
kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường. Điển hình như các công trình “Làng
nghề thủ công truyền thống Việt Nam” của Bùi Văn Vượng (1998) hay cuốn
sách “Làng nghề Việt Nam và môi trường” năm 2005 và “Báo cáo hiện trạng
kinh tế - xã hội làng nghề Việt Nam” năm 2011 của Đặng Kim Chi, đã có
những nghiên cứu tổng quát nhất về vấn đề làng nghề và thực trạng ô nhiễm
môi trường các làng nghề hiện nay. Những nghiên cứu này nhìn chung đã giải
quyết được vấn đề lý luận cơ bản về các làng nghề, hiện trạng và xu hướng
phát triển, vấn đề ô nhiễm môi trường và một số giải pháp. Tuy nhiên, các
nghiên cứu đi sâu vào một làng nghề nào đó thì hiện nay hầu như chưa được
nghiên cứu một cách toàn diện. Mỗi khu vực làng nghề có những điều kiện và
thực tế khác nhau cho sự phát triển và bảo tồn. Hơn nữa, mỗi khu vực bị ô
nhiễm cũng có những nguồn gây ô nhiễm không giống nhau, vì vậy việc
nghiên cứu cụ thể, chi tiết để có thể đánh giá toàn diện về tiềm năng, thực
2
trạng cũng như xu hướng của các làng nghề có ý nghĩa quan trọng cả về khoa
học và thực tiễn.
Thôn Thủ Độ - An Tường là một làng nghề mộc truyền thống, nổi tiếng
về kĩ thuật làm đồ gỗ, đồ mĩ nghệ. Sản xuất làng nghề đã đóng góp vai trò
đáng kể trong phát triển kinh tế của huyện Vĩnh Tường nói chung và xã An
Tường nói riêng. Song, hiện tại hầu như chưa có nghiên cứu chi tiết nào về
tình hình môi trường của làng nghề.

phường hội. Các làng nghề được lan truyền và nhiều hộ gia đình cùng sản
xuất một loại sản phẩm. Nhưng do nhu cầu trao đổi hàng hóa, các nghề mang
tính chất chuyên môn sâu hơn, được cải tiến kỹ thuật hơn và thường được giới
hạn trong quy mô nhỏ (làng), dần tách ra khỏi nông nghiệp để chuyển hẳn
sang nghề thủ công. Như vậy, làng nghề đã xuất hiện.
Theo Đặng Kim Chi (2005, tr 5) có thể hiểu làng nghề “là làng nông
thôn Việt Nam có ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, phi nông nghiệp chiếm ưu
thế về số lao động và thu nhập so với nghề nông”.
Có rất nhiều ý kiến và quan điểm khác nhau khi đề cập đến tiêu chí để
một làng ở nông thôn được coi là một làng nghề. Nhưng nhìn chung, theo
Đặng Kim Chi (2005) các ý kiến thống nhất ở một số tiêu chí sau:
- Giá trị sản xuất và thu nhập của từ phi nông nghiệp ở làng nghề đạt trên
50% so với tổng giá trị sản xuất và thu nhập chung của làng nghề trong năm;
hoặc doanh thu hàng năm từ ngành nghề ít nhất đạt trên 300 triệu đồng, hoặc:
- Số hộ và số lao động tham gia thường xuyên hoặc không thường
xuyên, trực tiếp hoặc gián tiếp đối với nghề phi nông nghiệp ở làng ít nhất đạt
30% so với tổng số hộ hoặc lao động ở làng nghề có ít nhất 300 lao động.
- Sản phẩm phi nông nghiệp do làng sản xuất mang tính đặc thù của
làng và do người trong làng tham gia.
Theo Báo cáo hiên trạng môi trường quốc gia năm 2008, tiêu chí công
nhận làng nghề gồm có 3 tiêu chí:
- Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động
ngành nghề nông thôn.
4
- Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời
điểm đề nghị công nhận.
- Chấp hành tốt chính sách Pháp luật của Nhà nước. (Bộ Tài nguyên và
Môi trường, 2009).
2.1.2. Sự hình thành và phát triển làng nghề Việt Nam hiện nay
Làng nghề là một trong những đặc thù của nông thôn Việt Nam. Nhiều

- Quy mô sản xuất ngành nghề nhỏ (gia đình, thôn, xóm), trình độ thủ
công, thiết bị chắp vá, lạc hậu, cơ sở sản xuất xen lẫn trong khu dân cư.
- Lực lượng lao động không phân biệt tuổi tác, giới tính, phần lớn có
quan hệ gia đình, dòng họ, được đào tạo theo kiểu “cha truyền con nối”.
- Phát triển không theo quy hoạch, không ổn định, có tính thời vụ thăng
trầm phụ thuộc vào đặc điểm sản xuất và nhu cầu của thị trường.
- Các làng nghề từ Bắc vào Nam có tính chất tương đồng về nghề và
sản phẩm. Tính văn hóa nghệ thuật do hiện tượng di dân, di nghề và hiện
tượng bành trướng tự nhiên của hiện tượng kinh tế xã hội làng nghề.
b. Phân loại làng nghề
Để có được những kết quả nghiên cứu xác thực, đúng đắn và có thể
quản lý tốt các làng nghề thì cần có sự nhìn nhận theo nhiều khía cạnh, nhiều
góc độ khác nhau đối với làng nghề. Bởi vậy, hệ thống phân loại các làng
nghề dựa trên các số liệu thông tin điều tra, khảo sát là cơ sở khoa học cho
nghiên cứu, quản lý hoạt động sản xuất cũng như việc quản lý, bảo vệ môi
trường làng nghề. Cách phân loại làng nghề phổ biến nhất là phân theo
loại hình sản xuất, loại hình sản phẩm (Bộ Tài nguyên Môi trường, 2009).
Theo cách này có thể phân thành 6 nhóm ngành sản xuất gồm:
+ Làng nghề ươm tơ, dệt vải và may đồ da.
+ Làng nghề chế biến lương thực thực phẩm, chăn nuôi và giết mổ.
+ Làng nghề tái chế phế liệu (giấy, nhựa, kim loại…).
+ Làng nghề thủ công mỹ nghệ, thêu ren.
+ Làng nghề vật liệu xây dựng, khai thác đá.
+ Các nhóm ngành khác (mộc gia dụng, cơ khí nhỏ, đóng thuyền, quạt
giấy, đan vó, lưới ).
6

Hình 2.1. Phân loại làng nghề Việt Nam theo loại hình sản xuất
(Trích dẫn từ Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2009)


(Trích dẫn từ Chi cục bảo vệ Môi trườngVĩnh Phúc, 2012)
b. Tình hình sản xuất của các làng nghề
- Công nghệ, thiết bị và cơ sở hạ tầng sản xuất
Hầu hết các cơ sở sản xuất nghề nông thôn, nhất là ở khu vực các hộ tư
nhân vẫn còn sử dụng các loại công cụ thủ công truyền thống hoặc cải tiến
một phần. Trình độ công nghệ thủ công và bán cơ khí vẫn chiếm tỷ lệ hơn
60% ở các làng nghề (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2009).
Hiện nay, để đáp ứng nhu cầu của thị trường trong nước và thế giới, nhiều
làng nghề đã áp dụng công nghệ mới, thay thế máy móc mới, hiện đại. Ví dụ,
làng gốm Bát Tràng đã dùng đã dần dần đưa công nghệ nung gốm sứ bằng lò tuy
nen (dùng ga và điện) thay cho lò hộp và lò bầu (dùng than và củi), nhào luyện
đất bằng máy thay cho bằng tay thủ công, dùng bàn xoay bằng mô tơ điện thay
cho bàn xoay bằng tay…nhờ đó mà năng suất và chất lượng sản phẩm cũng
được nâng cao rõ rệt (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2009).
8
Bảng 2.1. Trình độ kỹ thuật ở các làng nghề hiện nay

Trình độ kỹ
thuật
Chế biến
nông - lâm -
thủy sản
Thủ công mỹ
nghệ và vật
liệu xây dựng
Các ngành
dịch vụ
Các
ngành
khác

và II, tỷ lệ hết cấp III chưa đến 20%. Đối với các chủ hộ và chủ doanh nghiệp,
nhìn chung trình độ học vấn, chuyên môn còn rất hạn chế. Có tới 1,3 - 1,6%
trong số họ không biết chữ, trình độ học vấn bình quân mới đạt lớp 7 - 8/12.
Tỷ lệ chưa qua đào tạo kiến thức quản lý chuyên môn ở các chủ hộ chiếm
51,5 - 69,89%, đối với các chủ doanh nghiệp chiếm hơn 43% (Trần Minh
Yến, 2008).
Đây là một trong những hạn chế có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả sản xuất,
chất lượng sản phẩm và bảo vệ môi trường trong hoạt động của các làng nghề.
- Giá trị sản lượng các làng nghề
Trong thời gian qua, các làng nghề Việt Nam đã có nhiều bước tiến
mới trong quá trình phát triển. Cơ cấu các ngành nghề đa dạng, có sự chuyển
dịch đáng kể, tăng tỷ trọng các ngành chế biến lương thực, thực phẩm và cơ
khí, giảm tỷ trọng các ngành sản xuất vật liệu. Các sản phẩm đã và đang dần
bám sát nhu cầu và thị hiếu của thị trường. Nhiều làng nghề đã đầu tư cải tiến
kỹ thuật, nâng cao tay nghề… Do đó giá trị sản lượng cũng như chất lượng
sản phẩm không ngừng tăng lên, dần xâm nhập các thị trường khó tính trên
thế giới.
Giá trị sản xuất CN-TTCN của làng nghề từ năm 2000 - 2010 tăng từ
21-25% /năm. Giá trị xuất khẩu các mặt hàng thủ công mỹ nghệ của Việt
Nam trong những năm qua liên tục tăng: từ 235 triệu USD năm 2001, lên 600
triệu USD năm 2006 và hơn 900 triệu USD năm 2010 và mục tiêu đề ra sẽ đạt
2 tỷ USD năm 2013. (Chi cục Bảo vệ môi trường Vĩnh Phúc, 2012).
2.2. VAI TRÒ CỦA LÀNG NGHỀ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ _ XÃ HỘI VÀ
SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG
2.2.1. Tác động của sản xuất làng nghề tới kinh tế xã hội
Làng nghề đóng vai trò vô cùng quan trọng trong thúc đẩy phát triển kinh tế
xã hội, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện
đại hóa và xóa đói giảm nghèo ở nông thôn, giải quyết việc làm lúc nông nhàn,
tăng thu nhập và phát triển du lịch (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2009).
Xác định vai trò quan trọng của làng nghề, Đảng và nhà nước đã chỉ ra

điều đáng lo ngại. Để khắc phục khó khăn về mặt môi trường thì xu hướng
“phát triển bền vững” được coi là hợp lý và phù hợp với thời đại. Phát triển
bền vững có thể hiểu “là sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện
tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế
11
hệ tương lai”. Muốn giải quyết được theo xu hướng này, cần nắm được
nguyên nhân của các vấn đề khó khăn nói chung và nguyên nhân, hậu quả của
việc ô nhiễm môi trường nói riêng trong hoàn cảnh cụ thể của từng làng nghề
để có được các giải pháp phù hợp nhằm giảm thiểu ô nhiễm và nâng cao hiệu
quả kinh tế.
2.2.2. Tác động của sản xuất làng nghề tới sức khỏe cộng đồng
Tại các làng nghề ở Việt Nam, nơi sản xuất đan xen với khu nhà ở, hầu
hết dân cư của làng tham gia vào quá trình sản xuất nên nguy cơ ảnh hưởng
của điều kiện lao động và chất thải sản xuất đến sức khỏe người dân là rất lớn.
Do môi trường không khí, nước ngầm, nước mặt và đất tại các làng nghề
thường bị ô nhiễm nên số người dân tại các làng nghề bị mắc các bệnh đường
hô hấp, đau mắt, bệnh ngoài da, tiêu hóa, phụ khoa là rất cao. Ngoài ra là một
số bệnh mang tính nghề nghiệp như bệnh bụi phổi, ung thư, thần kinh, đau
lưng, đau cột sống
Ô nhiễm môi trường làng nghề làm gia tăng tỷ lệ người mắc bệnh đang
tham gia lao động và sinh sống tại chính làng nghề đó. Tỷ lệ này đang có xu
hướng tăng cao trong những năm gần đây. Theo các kết quả nghiên cứu cho
thấy, tuổi thọ của người dân tại các làng nghề ngày càng giảm đi, thấp hơn 10
năm so với tuổi thọ trung bình toàn quốc và so với làng không làm nghề tuổi
thọ này cũng thấp hơn từ 5 đến 10 năm. Ở các làng tái chế kim loại, tỷ lệ
người mắc bệnh ung thư, thần kinh rất phổ biến, nguyên nhân gây bệnh chủ
yếu là do sự phát thải khí độc, nhiệt cao và bụi kim loại từ các cơ sở sản xuất
(Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2009).
Tại các làng sản xuất kim loại, tỷ lệ người mắc các bệnh liên quan đến
thần kinh, hô hấp, ngoài da, điếc và ung thư chiếm tới 60% dân số. Tại các

nấu kim loại, tẩy giấy và nhuộm… Thường thì nước thải ra bị nhiễm màu
nặng và gây ra hiện tượng đổi màu đối với dòng sông nhận nước thải, có mùi
rất khó chịu. Hơn nữa là sự vượt quá TCCP đối với các hàm lượng BOD,
COD, SS, và coliform, các kim loại nặng… ở cả nước mặt và nước ngầm, làm
chết các sinh vật thủy sinh và chứa các mầm bệnh nguy hại cho con người.
- Ô nhiễm không khí: gây bụi, hóa chất, hơi sơn, tiếng ồn và nóng do sử
dụng than và củi chủ yếu trong sản xuất vật liệu xây dựng, gốm sứ và sản xuất
mộc (Trần Ngọc Chấn, 2000).
- Ô nhiễm chất thải rắn: do tái chế nguyên liệu (giấy, nhựa, kim loại…)
hoặc do bã thải của các loại thực phẩm (sắn, dong), các loại rác thải thông
13
thường: nhựa, túi nilon, giấy, hộp, vỏ lon, kim loại và các loại rác thải khác
thường được đổ ra bất kỳ dòng nước hoặc khu đất trống nào. Làm cho nước
ngầm và đất bị ô nhiễm các chất hóa học độc hại, ảnh hưởng tới sức khỏe của
con người.
GS.TS. Đặng Kim Chi đã cảnh báo "100% mẫu nước thải ở các làng
nghề được khảo sát có thông số vượt tiêu chuẩn cho phép. Môi trường không
khí bị ô nhiễm có tính cục bộ tại nơi trực tiếp sản xuất, nhất là ô nhiễm bụi
vượt tiêu chuẩn cho phép (TCCP) và ô nhiễm do sử dụng nhiên liệu than củi.
Tỷ lệ người dân làng nghề mắc bệnh cao hơn các làng thuần nông, thường gặp
ở các bệnh về đường hô hấp, đau mắt, bệnh đường ruột, bệnh ngoài da. Nhiều
dòng sông chảy qua các làng nghề hiện nay đang bị ô nhiễm nặng; nhiều
ruộng lúa, cây trồng bị giảm năng suất do ô nhiễm không khí từ làng
nghề"(Đặng Kim Chi, 2005).
Một trong những nguyên nhân của tình trạng ô nhiễm kể trên là do các
cơ sở sản xuất kinh doanh ở các làng nghề còn manh mún, nhỏ lẻ, phân tán,
phát triển tự phát, không đủ vốn và không có công nghệ xử lý chất thải. Bên
cạnh đó, ý thức của chính người dân làm nghề cũng chưa tự giác trong việc
thu gom, xử lý chất thải. Nếu không có các giải pháp ngăn chặn kịp thời thì
tổn thất đối với toàn xã hội sẽ ngày càng lớn, vượt xa giá trị kinh tế mà các

- Bộ Nông Nghiệp và phát triển nông thôn đã ban hành Thông tư số
116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 hướng dẫn thực hiện một số nội dung
của Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/7/2006 về phát triển ngành nghề
nông thôn.
- Bộ tài chính đã ban hành Thông tư số 113/2006/TT-BTC ngày
28/12/2006 về việc hướng dẫn một số nội dung về ngân sách nhà nước hỗ trợ
phát triển ngành nghề nông thôn theo Nghị Định số 66/2006/NĐ-CP ngày
07/7/2006 của Chính phủ.
Gần đây nhất Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi Trường ban hành

Thông
tư 46/2011/TT-BTNMT quy định về bảo vệ môi trường làng nghề.
Ngoài ra, còn rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật tuy không quy
định cụ thể đối với làng nghề nhưng phạm vi điều chỉnh bao gồm cả đối
tượng làng nghề.
Về Quy chuẩn, Bộ NTN&MT đã nghiên cứu xây dựng chuyển đổi hoặc
ban hành 23 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường, trong đó có các quy
chuẩn thải và quy chuẩn chất lượng môi trường xung quanh.
15
Tuy nhiên, tương tự như các văn bản khác, Quy chuẩn kỹ thuật quốc
gia về môi trường được ban hành và áp dụng cho mọi đối tượng sản xuất,
kinh doanh, dịch vụ; không phân biệt đối tượng có nằm trong làng nghề
hay không. Vì vậy, do năng lực xử lý chất thải của các cơ sở trong làng còn
rất hạn chế, nên thực tế khi áp dụng các Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về
môi trường vào các cơ sở tiểu thủ công nghiệp trong làng nghề đã gặp
nhiều khó khăn.
2.4.2. Quy phạm pháp luật (VBQPPL); ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn
kỹ thuật môi trường làng nghề theo thẩm quyền của địa phương)
a. Việc ban hành VBQPPL
Để cụ thể hóa đường lối chính sách của Đảng và Chính phủ ở địa

quy định phân vùng môi trường tiếp nhận nước thải và khí thải trên địa bàn tỉnh
để áp dụng các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường. Quy
định này áp dụng đối với cơ quan quản lý nhà nước về môi trường và các tổ
chức, cá nhân liên quan đến hoạt động phát thải nước thải, khí thải vào môi
trường, trong đó làng nghề là đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh.
Nội dung Quyết định 01/2012/QĐ-UBND về phân vùng môi trường
các sông, suối, kênh, mương, khe, rạch để tiếp nhận nước thải được thể hiện
tại Bảng 2.2.
Bảng 2.2. Phân vùng môi trường các sông, suối, kênh, mương, khe, rạch
TT

Tên sông, suối, kênh, rạch
Lưu lượng
dòng chảy
Q (m
3
/s)
Thời điểm áp dụng
Từ
năm
2012
Từ
năm
2015
Từ
năm
2020

1 Sông Hồng
200 < Q <


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status