Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nhằm bảo vệ môi trường làng nghề đúc đồng thôn quảng bố, xã quảng phú, huyện lương tài, tỉnh bắc ninh - Pdf 28


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ NGẦN

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
NHẰM BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ ĐÚC ĐỒNG
THÔN QUẢNG BỐ, XÃ QUẢNG PHÚ, HUYỆN LƯƠNG TÀI,
TỈNH BẮC NINH
CHUYÊN NGÀNH : KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
MÃ SỐ : 60.44.03.01 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN XUÂN THÀNH
HÀ NỘI - 2014
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page i


Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS. Nguyễn Xuân
Thành đã dành nhiều thời gian trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cho tôi
hoàn thành đề tài nghiên cứu đề tài này.
Tôi cũng xin cảm ơn UBND xã Quảng Phú, Phòng Tài nguyên & Môi
trường, Phòng Thống kê huyện Lương Tài đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho
tôi tiếp cận và thu thập những thông tin, lấy mẫu phân tích cần thiết cho đề
tài.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, những người đã
động viên và giúp đỡ tôi về tinh thần, vật chất trong suốt quá trình học tập và
thực hiện đề tài.
Hà Nội, ngày 04 tháng 9 năm 2014
Học viên Nguyễn Thị Ngần
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii

MỤC LỤC Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình ix

2.2.2 Thực trạng sản xuất của làng nghề đúc đồng Quảng Bố, Quảng
Phú, Lương Tài, Bắc Ninh. 21
2.2.3 Hiện trạng công tác quản lý môi trường tại làng nghề 21
2.2.4 Đánh giá hiện trạng môi trường làng nghề 21
2.2.5 Đề xuất một số giải pháp, biện pháp giảm thiểu. 21
2.3 Phương pháp nghiên cứu 21
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: thu thập số liệu tại các
phòng ban ở địa phương. 21
2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp: Phương pháp điều tra PRA
bằng bảng hỏi 22
2.3.3 Phương pháp lấy mẫu 23
2.3.4 Phương pháp so sánh 26
2.3.5 Phương pháp phân tích các thành phần môi trường 26
2.3.6 Phương pháp xử lý số liệu 29
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của xã Quảng Phú 30
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 30
3.1.2 Dân số, lao động, việc làm và thu nhập 31
3.1.3 Hiện trạng phát triển kinh tế 32
3.2 Hiện trạng sản xuất của làng nghề Quảng Bố 35
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v

3.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển 35
3.2.2 Quy mô sản xuất 35
3.2.3 Quy trình đúc đồng và dòng xả thải 36
3.2.4 Nguồn lao động 37
3.2.5 Máy móc, thiết bị, nhà xưởng 38
3.2.6 Nhu cầu về nguyên liệu, nhiên liệu sản xuất 39
3.2.7 Đặc trưng chất thải tại làng nghề đúc đồng Quảng Bố 40

TSS Nồng độ chất rắn lơ lửng
QCVN Quy chuẩn Việt Nam
KCN, CCN Khu công nghiệp, Cụm công nghiệp
CNH-HĐH Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
TTCN Tiểu thủ công nghiệp
USD Đồng đô la Mỹ
VSMT Vệ sinh môi trường

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii

DANH MỤC BẢNG

STT Tên bảng Trang

1.1 Dự tính sản lượng vật đúc của Việt Nam giai đoạn 2011-2020 15
2.1 Vị trí lấy mẫu nước mặt, thôn Quảng Bố 24
2.2 Vị trí lấy mẫu không khí tại làng nghề Quảng Bố 25
2.3 Danh mục các tiêu chuẩn phân tích từng chỉ tiêu 27
3.1 Dân số và số hộ xã Quảng Phú, huyện Lương Tài, năm 2013 32
3.2 Một số tiêu trí ngành nông nghiệp xã Quảng Phú 33
3.3 Mức tăng hàng năm giá trị ngành tiểu thủ công nghiệp, thương
mại và dịch vụ xã Quảng Phú 33
3.4 Một số chỉ tiêu về văn hoá, giáo dục, y tế 34
3.5 Số hộ tham gia đúc đồng tại Quảng Bố 36
3.6 Các thiết bị chính sử dụng trong quá trình sản xuất 39
3.7 Nhu cầu sử dụng và chi phí nguyên, nhiên liệu đầu vào cho sản

1.1 Phân loại làng nghề Việt Nam theo ngành sản xuất 5
1.2 Sơ đồ Bộ máy tổ chức quản lý Nhà nước về BVMT tỉnh Bắc Ninh 19
1.3 Sơ đồ vị trí lấy mẫu thôn Quảng Bố 23
3.1 Sơ đồ hành chính xã Quảng Phú năm 2013 30
3.2 Biểu đồ cơ cấu kinh tế xã Quảng Phú 32
3.3 Quy trình đúc đồng làng nghề Quảng Bố kèm theo dòng thải 37
3.4 Sơ đồ hệ thống quản lý môi trường xã Quảng Phú 43
3.5 Nồng độ bụi lơ lửng trong không khí xung quanh khu vực làng
nghề Quảng Bố 53
3.6 Độ ồn xung quanh khu vực làng nghề Quảng Bố 53
3.7 Nồng độ Chì trong đất nông nghiệp làng nghề Quảng Bố 61
3.8 Tháp xử lý bụi và khí thải 63
3.9 Hệ thống xử lý khí thải 64
3.10 Hệ thống thu gom và xử lý khí thải 65
3.11 Đề xuất sơ đồ mô hình tổ chức quản lý vệ sinh môi trường 67

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1

ĐẶT VẤN ĐỀ1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự phát triển của xã hội hiện đại, tài nguyên thiên nhiên ngày
một cạn kiệt do sự khai thác và sử dụng của con người. Chính vì vậy việc tái
chế, tái sử dụng các loại chất thải, sản phẩm đã qua sử dụng là một việc rất có
ý nghĩa. Các hoạt động tái chế chất thải đã góp phần quan trọng trong việc tận
dụng phế thải trên phạm vi toàn quốc và là lời giải cho bài toán phát triển bền
vững, trong đó có sự đóng góp không nhỏ của các làng nghề.
Trong những năm gần đây, việc khôi phục và phát triển của các làng nghề

nghề gây ra.
- Đề xuất giải pháp phải có tính khả thi để khắc phục những yếu kém,
tồn tại về quá trình đúc đồng tại Quảng Bố, Quảng Phú, Lương Tài, Bắc Ninh.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3

Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Khái quát chung về làng nghề
1.1.1. Khái niệm và tiêu chí công nhận làng nghề
Làng nghề thường được hiểu theo nhiều cách khác nhau nên cũng có
nhiều khái niệm về làng nghề.
Theo nhà nghiên cứu Trần Minh Yến: "Làng nghề là một thiết chế kinh
tế - xã hội ở nông thôn, được cấu thành bởi hai yếu tố làng và nghề, tồn tại

- Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời
điểm đề nghị công nhận.
- Chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nước.
Như vậy, không phải bất kỳ làng nào có hoạt động ngành nghề cũng gọi
là làng nghề mà cần có qui định một số tiêu chuẩn nhất định.
1.1.2. Đặc điểm chung của làng nghề
Ở mỗi làng nghề tuy bao giờ cũng có sự khác nhau về quy mô sản xuất, quy
trình công nghệ, tính chất sản phẩm nhưng đều có chung một số đặc điểm sau:
- Lực lượng lao động trong làng nghề đa số là người dân sống trong
làng. Các ngành nghề phi nông nghiệp trong làng sẽ tạo ra sản phẩm giúp cho
người dân tăng thu nhập trong lúc nông nhàn.
- Hộ gia đình là đơn vị cơ bản của sản xuất với nguồn nhân lực từ thành
viên trong gia đình và cơ sở hạ tầng tự có. Nhờ vào nhân lực gia đình đã tạo
cho các hộ gia đình khả năng thu nhập không phân biệt lứa tuổi và giới tính vì
nó đáp ứng nhu cầu chung của các thành viên trong gia đình
- Cơ sở sản xuất dịch vụ tại làng xã là nơi có nhiểu hộ gia đình cùng
tham gia. Điều này tạo nên tính chất riêng biệt của làng nghề, dẫn đến xu thế
độc quyền những nghề nghiệp, sản phẩm.
- Tính chuyên môn hóa và sự phụ thuộc lẫn nhau trong các làng nghề
rất rõ rệt. Một số trường hợp, sự phân chia lao động trong làng nghề phụ
thuộc vào từng khâu trong quy trình sản xuất. Nghề càng phức tạp, càng có
nhiều công đoạn sản xuất thì tính chuyên môn hóa càng cao. Sự phân chia này
không chỉ trong một làng mà còn có thể mở rộng trong nhiều làng.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5

- Phần lớn kỹ thuật - công nghệ của làng nghề còn lạc hậu, chủ yếu
vẫn sử dụng các thiết bị thủ công, bán cơ khí hoặc đã được cải tiến một
phần, đa số mua lại từ các cơ sở công nghiệp quốc doanh, các thiết bị này
đã cũ, không đồng bộ, không

1.2. Nghiên cứu môi trường làng nghề trên Thế giới
Đối với các nước châu Á, sự phát triển kinh tế làng nghề truyền thống
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6

là giải pháp tích cực cho các vấn đề kinh tế xã hội nông thôn. Thực tế nhiều
quốc gia trong
khu
vực có những kinh nghiệm hiệu quả trong phát triển làng
nghề, điển hình như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Thái Lan.
Trung Quốc: sau thời kỳ cải cách mở cửa năm 1978, việc thành lập và
duy trì Xí nghiệp Hương Trấn, tăng trưởng với tốc độ 20 - 30 % đã giải quyết
được 12 triệu lao động dư thừa ở nông thôn.
Ở Nhật Bản: Hoạt động tái chế được dựa trên cơ sở tính toán lượng
rác sản sinh ra, chi phí đổ thải và tỉ lệ tái chế. Các hoạt động tái sử dụng,
quay vòng và thu hồi chất thải là một trong những giải pháp có hiệu quả về
mặt chi phí xử lý và tiêu hủy chất thải, cũng như bảo vệ được nguồn lực cho
các hoạt động này được hỗ trợ bởi hệ thống luật và quy định của nhà nước
bao gồm: Luật quản lý rác thải và giữ vệ sinh công cộng (1970); Luật quản
lý rác thải (1992); Luật thúc đẩy sử dụng các nguồn tài nguyên có thể tái chế
(1991); Luật tái chế vỏ hộp và bao bì (1996) và Luật tái chế thiết bị điện
(1998). Theo con số thống kê của nước này, ngay từ năm 1995 đã có 50%
giấy loại, 100% các chai thủy tinh và 75% số lượng đồ hộp vỏ kim loại và
nhôm được thu hồi, tái chế.
Ấn Độ: Chính phủ Ấn Độ đặc biệt quan tâm, đề ra nhiều biện pháp và
các chính sách để bảo tồn, phát triển các nghề tiểu thủ công mỹ nghệ, tạo ưu
thế vươn ra thị trường thế giới như tổ chức các trung tâm phát triển công nghệ
và thiết kế mẫu mã, nhằm nghiên cứu, thiết kế mẫu mã và công nghệ, ứng
dụng các công nghệ mới, đồng thời quan tâm tới đào tạo thợ nghề: khoảng
400 trung tâm dạy nghề rải rác ở các vùng trong nước, đội ngũ thợ lành nghề,

hàng, còn làng nghề truyền thống có nhiệm vụ cung cấp dịch vụ, đồng thời
làm nhiệm vụ gia công cho trung tâm công nghiệp lớn.
1.3. Nghiên cứu môi trường làng nghề ở Việt Nam
1.3.1. Lịch sử phát triển làng nghề Việt Nam
Sự phát triển của các làng nghề Việt Nam đã trải qua những giai đoạn
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8

khác nhau, gắn với những cung bậc thăng trầm của lịch sử. Đặc biệt, từ giai
đoạn đổi mới nền kinh tế đến nay, dưới tác động to lớn của sự biến đổi nền
kinh tế trong nước cũng như trên toàn thế giới, sự phát triển của các làng nghề
cũng có những thay đổi lớn, có những thành công mới nhưng cũng có không
ít những vấn đề nan giải.
Làng nghề trước Cách mạng tháng Tám đã khá phong phú, đa dạng, nó
được hình thành từ các nghề cũ và một số nghề mới được phát triển nhằm đáp
ứng thị trường luôn thay đổi phức tạp (nhìn chung không khác lắm so với các
nghề đương thời). Thời gian này, nghề dệt lụa (Hà Đông) đã có những bước tiến
xa hơn, trở thành nghề thủ công xuất khẩu và tạo công ăn việc làm cho số lượng
lao động lớn.
Từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay, có thể chia lịch sử phát triển của
làng nghề thành các giai đoạn sau:
- Giai đoạn 1954 - 1978: ưu tiên phát triển công nghiệp nặng, khuyến
khích các thợ thủ công tham gia vào các hợp tác xã nên trong giai đoạn này,
nhiều làng nghề đã bị mai một.
- Giai đoạn 1978 - 1985: Kinh tế chính trị thế giới có nhiều biến động,
cùng với sức ép về dân số và sự cấm vận của Mỹ kinh tế Việt Nam đã lâm vào
giai đoạn khủng hoảng, đời sống của nhân dân gặp rất nhiều khó khăn. Sự suy
sụp của hệ thống bao cấp đã khiến các hộ nông dân và tiểu thủ công nghiệp buộc
phải tìm đường cải thiện cuộc sống theo con đường tự phát. Nhiều làng nghề đã
được khôi phục lại nhằm đáp ứng nhu cầu rất thấp của nhân dân.

với giá thành rẻ. Các nghề truyền thống chủ yếu sử dụng các nguyên liệu sẵn có
trong nước, vốn là các tài nguyên thiên nhiên điển hình của miền nhiệt đới: tre
nứa, gỗ, tơ tằm, các sản phẩm của nông nghiệp nhiệt đới (lúa gạo, hoa quả, ngô,
khoai, sắn…), các loại vật liệu xây dựng…
- Mặt khác, sản phẩm từ các làng nghề không chỉ đáp ứng các thị trường
trong nước với các mức độ nhu cầu khác nhau mà còn xuất khẩu sang các thị
trường nước bạn với nhiều mặt hàng phong phú, có giá trị cao. Trong đó, điển
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10

hình nhất là các mặt hàng thủ công mỹ nghệ (hiện nay, mặt hàng này xuất khẩu
đạt giá trị gần 1 tỷ

USD/năm). Giá trị hàng hóa từ các làng nghề hàng năm
đóng góp cho nền kinh tế quốc dân 40 - 50 ngàn tỷ đồng. Góp phần chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, đẩy nhanh quá trình CNH - HĐH nông thôn.
- Đặc biệt, phát triển các nghề truyền thống đang góp phần giải quyết
công ăn việc làm cho hơn 11 triệu lao động chuyên và hàng ngàn lao động nông
nhàn ở nông thôn, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân.
- Hơn nữa, nhiều làng nghề hiện nay có xu hướng phát triển theo hướng
phục vụ các dịch vụ du lịch. Đây là hướng đi mới nhưng phù hợp với thời đại
hiện nay và mang lại hiệu quả kinh tế cao, đồng thời có thể giảm thiểu tình
trạng ô nhiễm môi trường, nâng đời sống vật chất và tinh thần cho người dân.
1.3.3. Làng nghề và các vấn đề môi trường
Bên cạnh mặt tích cực, sự phát triển hoạt động sản xuất tại làng nghề
cũng mang lại nhiều bất cập, đặc biệt về vấn đề môi trường xã hội. Những tồn
tại từ nhiều năm qua trong quá trình phát triển làng nghề có thể coi là một
trong những nguyên nhân làm chất lượng môi trường làng nghề ngày càng
suy giảm, ảnh hưởng không nhỏ không chỉ tới sự phát triển bền vững ở làng
nghề mà của cả nền kinh tế đất nước. Đó là:

Hầu hết các làng nghề không đủ cơ sở hạ tầng kỹ thuật để thu gom và xử
lý chất thải đạt tiêu chuẩn môi trường, như không có hệ thống thu gom và xử
lý nước thải, không có bãi chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh, không chú ý đầu
tư phương tiện thu gom chất thải nguy hại. Đây là một thách thức lớn vì để
khắc phục điều này đòi hỏi nhiều thời gian và kinh phí.
Với những đặc điểm trên, môi trường làng nghề đang ngày càng ô nhiễm
nghiêm trọng. Theo Báo cáo môi trường quốc gia năm 2008 với chủ đề "Môi
trường làng nghề Việt Nam", hiện nay “hầu hết các làng nghề ở Việt Nam đều
bị ô nhiễm môi trường (trừ các làng nghề không sản xuất hoặc dùng các
nguyên liệu không gây ô nhiễm như thêu, may ). Chất lượng môi trường tại
hầu hết các làng nghề đều không đạt tiêu chuẩn khiến người lao động phải
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12

tiếp xúc với các nguy cơ gây hại

cho sức khỏe, trong đó 95% là từ bụi; 85,9%
từ nhiệt và 59,6% từ hóa chất. Kết quả khảo sát 52 làng nghề cho thấy, 46%
làng nghề có môi trường bị ô nhiễm nặng ở cả 3 dạng; 27% ô nhiễm vừa và
27% ô nhiễm nhẹ”.
Tình trạng ô nhiễm môi trường ở các làng nghề xảy ra ở mấy loại phổ
biến sau đây:
- Ô nhiễm nước: Ở Việt Nam, các làng nghề chưa có hệ thống xử lý
nước thải công nghiệp, nước thải được đổ trực tiếp ra hệ thống kênh rạch
chung hoặc ra sông. Nguyên nhân gây ô nhiễm nước chủ yếu là quá trình xử
lý công nghiệp như: chế biến lương thực thực phẩm, mây tre, dệt, in, nung
nấu kim loại, tẩy giấy và nhuộm… Thường thì nước thải ra bị nhiễm màu
nặng và gây ra hiện tượng đổi màu đối với dòng sông nhận nước thải, có mùi
rất khó chịu. Hơn nữa là sự vượt quá TCCP đối với các hàm lượng BOD,
COD, SS, và coliform, các kim loại nặng… ở cả nước mặt và nước ngầm, làm

Định, Bắc Ninh… Làng nghề đúc nhôm Vân Chàng - Nam Định, làng nghề
đúc đồng Phước Kiều - Quang Nam, làng nghề đúc đồng Ngũ Xã - Hà Nội,
làng nghề tái chế kim loại Châu Khê - Bắc Ninh, làng nghề tái chế kim loại
màu Quảng Bố - Bắc Ninh.
* Về hiện trạng môi trường:
Hầu hết các làng nghề tái chế kim loại ở nước ta hiện nay đều có quy
trình tái chế tương đối đơn giản, dễ vận hành, hoàn toàn bằng thủ công. Họ
thu mua các phế thải như thép vụn, phế liệu do máy móc, dụng cụ sắt bị hư
hỏng, vật dụng gia đình…tái chế thành sản phẩm mới theo sự đặt hàng của
người mua.
Đặc thù của các làng nghề công nghệ sản xuất và thiết bị ở các làng nghề
phần lớn lạc hậu, chắp vá. Thiết bị phần lớn là đơn giản, không đảm bảo được
yêu cầu kỹ thuật, an toàn và vệ sinh môi trường. Thường sử dụng các nhiện liệu
rẻ tiền, hóa chất độc hại (kể cả đã cấm sử dụng) để hạ giá thành sản phẩm. Tuy
lượng chất thải của làng nghề loại này không lớn nhưng chứa nhiều thành phần
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14

độc hại. Ô nhiễm đáng quan tâm nhất là ô nhiễm không khí và nước.
Trình độ người lao động ở các làng nghề, chủ yếu là lao động thủ công,
văn hóa thấp, số lao động chỉ tốt nghiệp cấp I, II chiếm trên 60%. Kiến thức
tay nghề không toàn diện dẫn tới tiêu hao nhiều nguyên liệu, làm tăng phát
thải nhiều chất ô nhiễm môi trường nước, đất, không khí, ảnh hưởng tới giá
thành sản phẩm và chất lượng môi trường.
* Ở nhiễm môi trường tại các làng nghề thường khá cao tại các khu vực
sản xuất, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ người lao động.
Chất lượng môi trường tại hầu hết khu vực sản xuất trong các làng nghề
đều không đạt tiêu chuẩn. Các nguy cơ mà người lao động tiếp xúc khá cao:
95% người lao động có nguy cơ tiếp xúc với bụi, 85,9% tiếp xúc với nhiệt,
59,6% tiếp xúc với hoá chất (đề tài KC 08.09 (2005)).

Tiêu chí 2011- 2015 2016 - 2020
Sản phẩm đúc bình quân (kg/người) 14,11 19,92
Dân số dự kiến (Triệu người) 90 95
Sản lượng vật đúc bình quân
(triệu tấn)
1,2 - 1,4 1,8 - 2,0
Tùy theo trình độ công nghệ, ngành đúc kim loại thường có tỷ lệ loại nạp
lò/thành phẩm cao, tiêu thụ nhiều nhiên liệu, năng lượng và vấn đề chất thải
(rắn, lỏng, khí) cũng như an toàn lao động, vệ sinh môi trường công nghiệp.
Trong một số trường hợp, khi đó độ chính xác thấp, tỷ lệ sản phẩm hỏng cao
cũng góp phần vào việc tiêu thụ tài nguyên lớn. Đúc kim loại là ngành công
nghiệp có tiềm năng về tái chế kim loại quay vòng. Sản xuất sạch hơn góp
phần hỗ trợ doanh nghiệp quản lý và sử dụng tài nguyên có hiệu quả hơn.
1.3.6. Một số làng nghề tái chế kim loại ở Việt Nam
* Làng nghề tái chế chì Văn Môn - Bắc Ninh: Sản phẩm đúc chì
khoảng 220 - 250 tấn/năm. Hầu hết các hoạt động thu gom, mua bán và tái

Trích đoạn Một số làng nghề tỏi chế kim loại ở Việt Nam Lịch sử phỏt triển làng nghề Bắc Ninh Cụng tỏc quản lý Nhàn ước về mụi trường tỉnh Bắc Ninh ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIấN CỨU Phương phỏp phõn tớch cỏc thành phần mụi trường
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status