Tìm hiểu nhận thức của người dân về môi trường trên địa bàn xã Quyết Thắng, Thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. - Pdf 29


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
 PHẠM HỒNG VIỆT TÌM HIỂU NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI DÂN VỀ MÔI TRƯỜNG
TRÊN ĐỊA BÀN XÃ QUYẾT THẮNG, THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN,
TỈNH THÁI NGUYÊN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính Quy
Chuyên nghành : Khoa học môi trường
Khoa : Môi trường
Khóa học : 2010 – 2014
Giảng viên hướng dẫn : Th.S Dư Ngọc Thành
quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống,
sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên.” (Theo Điều 1,
Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam).
Môi trường có mối quan hệ mật thiết với cuộc sống của con người, là
nơi cung cấp cho chúng ta không gian để sống, cung cấp những nguồn tài
nguyên quý giá như: đất, nước, không khí, khoáng sản,… phục vụ cho cuộc
sống sinh hoạt, cũng như hoạt động sản xuất và là nơi chứa đựng chất thải.
Tuy nhiên, Con người đã tác động quá nhiều đến môi trường, khai thác đến
mức cạn kiệt các nguồn tài nguyên, thải nhiều chất độc làm cho môi trường
không còn khả năng tự phân hủy. Vì vậy, chúng ta cần phải có các biện pháp
để bảo vệ và cải tạo môi trường.
Bảo vệ môi trường chính là bảo vệ sự sống của chúng ta. Nhà nước đã
ban hành hàng loạt các văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường nhằm xử lý,
răn đe những tổ chức, cá nhân có hành vi làm tổn hại đến môi trường và các
công nghệ xử lý rác thải, phát minh khoa học ra đời nhằm giảm thiểu những
tác động đến môi trường. Nhưng việc đầu tiên góp phần bảo vệ môi trường đó
là nâng cao nhận thức để mọi người cùng hiểu, biết, và hành động. Chỉ có
nhận thức đúng, suy nghĩ đúng mới hành động đúng, và mỗi một hành động
nhỏ sẽ góp một phần lớn vào việc hình thành nếp sống văn minh, có trách
nhiệm hơn với môi trường.
Xã Quyết Thắng - Thành phố Thái Nguyên là một xã nằm trong hệ
thống 9 xã của Thành phố Thái Nguyên, cách trung tâm thành phố 5,5 km về
phía tây có diện tích 1.298,76ha, địa hình tương đối bằng phẳng, thích hợp
trồn cây chè, cây lúa và cây ăn quả. Trước những tác động mạnh của quá trình
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá, cùng với sự gia tăng dân số, lao
động tập trung, nhu cầu về tài nguyên ngày càng tăng đã tạo nên những áp lực
làm suy giảm môi trường thiên nhiên như: môi trường đất, nước, không khí đã
và đang bị ô nhiễm, suy thoái, diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp. Trước

2

vụ cho công tác sau này.

3
- Vận dụng và phát huy các kiến thức đã học tập và nghiên cứu rèn luyện
về kỹ năng tổng hợp và phân tích số liệu.
- Là tài liệu phục vụ cho công tác quản lý môi trường ở cấp cơ sở.
1.2.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Đánh giá được nhận thức của người dân trên địa bàn xã Quyết Thắng –
Thành phố Thái Nguyên - tỉnh Thái Nguyên về môi trường. Qua đó đề xuất
một số giải pháp nhằm nâng cao nhận thức của người dân về bảo vệ môi
trường.
- Ý nghĩa đề tài sẽ là căn cứ để Sở Tài nguyên và Môi trường tăng cường
công tác truyền thông nhằm nâng cao nhận thức của người dân trong việc bảo
vệ môi trường. 4
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Các khái niệm cơ bản
- Nhận thức:
+ 1.(danh từ) Quá trình và kết quả phản ánh và tái hiện hiện thực vào
trong tư duy, quá trình con người nhận biết, hiểu biết thế giới khách quan
hoặc kết quả của quá trình đó
+ 2.(động từ) Nhận ra và biết được.
+ Nhận thức là quá trình biện chứng của sự phản ánh thế giới khách
quan trong ý thức con người, nhờ đó con người tư duy và không ngừng tiến
đến gần khách thể.
- “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao

thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy, thải loại chất thải. Phế liệu là sản
phẩm, vật liệu bị loại ra từ quá trình sản xuất hoặc tiêu dùng được thu hồi để
dùng làm nguyên liệu sản xuất.
- Quản lý môi trường. "Quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp,
luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất
lượng môi trường sống và phát triển bền vững kinh tế xã hội quốc gia".
- Thông tin về môi trường bao gồm số liệu, dữ liệu về các thành phần
môi trường; về trữ lượng, giá trị sinh thái, giá trị kinh tế của các nguồn tài
nguyên thiên nhiên; về các tác động đối với môi trường; về chất thải; về mức
độ môi trường bị ô nhiễm, suy thoái, và các thông tin về môi trường khác.
2.2. Cơ sơ khoa học
2.2.1. Cơ sở lý luận
2.2.2. Cơ sở pháp lý
Một số văn bản pháp luật liên quán tới nghành quản lý môi trường
đang hiện hành ở Việt Nam
Luật bảo vệ môi trường được Chủ tịch nước ký, ban hành sô
29/2005/L-CTN, ngày 12/12/2005.
Nghị định 80/2006/NĐ-CP ngày 9/8/2006 của Chính phủ về xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực Bảo vệ môi trường.
Nghị định 81/2006/NĐ-CP ngày 9/8/2006 của Chính phủ về xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực Bảo vệ môi trường.
Nghị định 175/NĐ-CP ngày 18/10/1994 của chính phủ hướng dẫn thi
hành luật bảo vệ môi trường.

6
Nghị định 121/2004/NĐ-CP ngày 12/15/2004 của chính phủ quyết
định xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
TCVN 6696-2000 chất thải rắn – bãi chôn lấp hợp vệ sinh – yêu cầu
chung về bảo vệ môi trường.
Thông tư số 05/2008/TT-BTNM và môi trường. 8/12/2008 hướng dẫn

Rừng xanh trên thế giới che phủ khoảng một phần ba diện tích đất liền
của Trái đất, chiếm khoảng 40 triệu km
2
. Tuy nhiên, các vùng rừng rậm tốt
tươi đã bị suy thoái nhanh chóng trong những năm gần đây.
Các hệ sinh thái rừng bao phủ khoảng 10% diện tích Trái đất, khoảng
30% diện tích đất liền. Tuy nhiên, các vùng có rừng che phủ đã bị giảm đi
khoảng 40% trong vòng 300 năm qua và theo đó mà các loài động thực vật,
thành phần quan trọng của các hệ sinh thái rừng, cũng bị mất mát đáng kể.
Loài người đã làm thay đổi các hệ sinh thái một cách hết sức nhanh chóng
trong khoảng 50 năm qua, nhanh hơn bất kỳ thời kỳ nào trước đây.
Rừng còn đem lại nhiều lợi ích khác cho chúng ta, trong đó việc đảm
bảo sự ổn định chu trình oxy và cacbon trong khí quyển và trên mặt đất là rất
quan trọng. Cây xanh hấp thụ lượng lớn CO
2
và thải ra khí O
2
, rất cần thiết
cho cuộc sống.
Từ trước đến nay, lượng CO
2
có trong khí quyển luôn ổn định nhờ sự
quang hợp của cây xanh. Tuy nhiên trong những năm gần đây, một diên tích
lớn rừng bị phá hủy, nhất là rừng rậm nhiệt đới, do đó hàng năm có khoảng 6
tỷ tân CO
2
được thải thêm vào khí quyển trên toàn thế giới, tương đương
khoảng 20% lượng khí CO
2
thải ra do sử dụng các nhiên liệu hóa thạch (26 tỷ

* Mức tiêu thụ năng lượng ngày càng cao và nguồn năng lượng hóa
thạch đang cạn kiệt:
Trong lúc vấn đề cạn kiệt nguồn chất đốt hóa thạch đang được mọi
người quan tâm như dầu mỏ và khí đốt, thì Trung Quốc và Ấn Độ với diện
tích rộng và dân số lớn, đang là nhưng nước đang phát triển nhanh tại châu Á,
đặc biệt là Trung Quốc có nguồn than đá và khí đốt thiên nhiên dồi dào, đang
tăng sức tiêu thụ nguồn năng lượng này một cách nhanh chóng. Ở Trung
Quốc, sức tiêu thụ loại năng lượng hàng đầu này từ 961 triệu tấn (tương
đương dầu mỏ) vào năm 1997 lên 1.863 triệu tấn vào năm 2007, tăng gần gấp
đôi trong khoảng 10 năm. Tất nhiên lượng CO
2
thải ra cũng tăng lên gần ½
lượng thải của Mỹ năm 2000, và đến nay Trung Quốc đã trở thành nước thải
lượng khí CO
2
lớn nhất trên thế giới, vượt qua cả Mỹ năm 2007
Con người đã đạt được bước tiến rất lớn trong quá trình phát triển, bằng
cuộc Cách mạng Công nghiệp nhờ sự tiêu thụ lớn các chất đốt hóa thạch. Tuy
nhiên, ước lượng nguồn dự trữ dầu mỏ trên thế giới chỉ còn sử dụng được
trong vòng 40 năm nữa, dự trữ khí tự nhiên được 60 năm và than đá là khoảng

9
120 năm. Nếu chúng ta vẫn bị lệ thuộc vào chất đốt hóa thạch thì chúng ta
không thể đáp ứng được nhu cầu năng lượng ngày càng cao và sẽ phải đối đầu
với sự cạn kiệt nhanh chóng nguồn tài nguyên thiên nhiên này trong thời gian
không lâu.
Việc sử dụng các nguồn năng lượng hồi phục được như năng lượng mặt
trời, địa nhiệt, gió, thủy lực và sinh khối sẽ không làm tăng thêm CO
2
vào khí

o
C vào năm 2100, lượng mưa sẽ tăng lên 5-10%, băng ở hai cực và các núi
cao sẽ tan nhiều hơn, nhanh hơn, nhiệt độ nước biển ấm lên, bị giãn nở mà
mức nước biển sẽ dâng lên khoảng 70-100cm hay hơn nữa và tất nhiên sẽ có

10
nhiều biến đổi bất thường về khí hậu, thiên tai sẽ diễn ra khó lường trước
được cả về tần số và mức độ.
* Dân số thế giới đang tăng nhanh:
Sự tăng dân số một cách quá nhanh chóng của loài người cùng với sự
phát triển trình độ kỹ thuật là nguyên nhân hàng đầu gây ra sự suy thoái thiên
nhiên. Tuy rằng dân số loài người đã tăng lên với mức độ khá cao tại nhiều
vùng ở châu Á trong nhiều thế kỷ qua nhưng ngày nay, sự tăng dân số trên thế
giới đã tạo nên một hiện tượng đặc biệt của thời đại của chúng ta, được biết
đến là như là sự bùng nổ dân số trong thế kỷ XX. Hiện tượng này có lẽ còn
đáng chú ý hơn cả phát minh về năng lượng nguyên tử hay phát minh về điều
khiển học. Tình trạng quá đông dân số loài người trên trái đất đã đạt trung
bình khoảng 33 người trên km
2
trên đất liền(kể cả sa mạc và các vùng cực).
Với dân số như vậy, loài người đang ngày càng gây sức ép mạnh lên vùng đấy
có khả năng nông nghiệp để sản xuất lương thực và cả lên những hệ sinh thái
tự nhiên khác.
2.3.1.2. Một số vấn đề về môi trường của Việt Nam
* Độ che phủ và chất lượng rừng giảm sút nghiêm trọng:
Qua quá trình phát triển, độ che phủ của rừng ở Việt Nam đã giảm sút
đến mức báo động. Chất lượng của rừng ở các vùng còn rừng đã bị hạ thấp
quá mức. Trước đây, toàn bộ đất nước Việt Nam có rừng che phủ, nhưng chỉ
mới mấy thập kỷ qua, rừng bị suy thoái nặng nề. Diện tích rừng toàn quốc đã
giảm xuống từ năm 1943 chiếm khoảng 43% diện tích tự nhiên, thì đến năm

giàu về đa dạng sinh học. Do sự khác biệt lớn về khí hậu, từ vùng gần xích
đạo tới giáp vùng cận nhiệt đới, cùng với sự đa dạng về địa hình đã tạo nên
tính đa dạng sinh học cao ở Việt Nam. Cho đến nay đã thống kê được 11.373
loài thực vật bậc cao có mạch và hàng nghìn loài thực vật thấp như rêu, tảo,
nấm…. Hệ động vật Việt Nam cũng hết sức phong phú. Hiện đã thống kê
được 310 loài thú, 870 loài chim, 296 loài bò sát, 263 loài ếch nhái, trên 1.000
loài cá nước ngọt, hơn 2.000 loài cá biển và thêm vào đó hàng chục ngàn loài
động vật không xương sống ở cạn, ở biển và ở nước ngọt. Ngoài ra Việt Nam
còn có phần nội thủy và lãnh hải rộng khoảng 226.000 km
2
, trong đó có hàng
nghìn hòn đảo lớn nhở và nhiều rạn san hô phong phú, là nới sinh sống của
hàng ngàn động vật, thực vật có giá trị. Tuy nhiên, thay vì phải bảo tồn và sử
dụng một cách hợp lý nguồn tài nguyên quý giá này ở nhiều nơi đã và đang
khai thác quá mức và phí phạm, không những thế còn sử dụng các biện pháp
hủy diệt như dùng các chất nổ, chất độc, kích điện để săn bắt. Nếu được quản
lý tốt và biết sử dụng đúng mức, nguồn tài nguyên sinh học của Việt Nam có

12
thể trở thành tài sản rất có giá trị. Nhưng rất tiếc, nguồn tài nguyên này đang
bị suy thoái nhanh chóng.
* Diện tích đất trồng trọt trên đầu người ngày càng giảm:
Ở Việt Nam, tuy đất nông nghiệp chiếm 28,4% diện tích đất tự nhiên,
song bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người rất thấp, xếp thứ 159
trong tổng số 200 nước trên thế giới và bằng 1/6 bình quân trên thế giới. Tỷ lệ
này sẽ hạ thấp hơn nữa trong những năm tới do dân số còn tăng và đất thuận
lợi cho sản xuất nông nghiệp lại rất hạn chế, chủ yếu thuộc các vùng đồng
bằng. Diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do bị thoái hóa, ô nhiễm
và chuyển đổi mục đích sử dụng, nhất là để xây dựng các khu công nghiệp, đô
thị, đường giao thông, sân gôn , làm mất đi hơn 50.000 ha đất nông nghiệp

Hồng, có những loại đã bị cấm sử dụng. Trong các vùng thâm canh, tần suất
sử dụng thuốc khá cao, nhất là đối với rau quả, cho nên dư lượng trong đất
khá cao, kể cả trong sản phẩm.
* Thiếu nước ngọt và nhiễm bẩn nước ngọt ngày càng trầm trọng:
Nhìn chung tài nguyên nước ngọt Việt Nam tương đối cao, tuy nhiên
với tiến trình gia tăng dân số, thâm canh nông nghiệp, đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa, tài nguyên và môi trường nước Việt Nam đang
thay đổi hết sức nhanh chóng, đối mặt với nguy cơ cạn kiệt về số lượng, ô
nhiễm về chất lượng, tác động tiêu cực tới cuộc sống của nhân dân và sự lành
mạnh về sinh thái của cả nước. (Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường, 2004).
Việc phá rừng mà hậu quả là hiện tượng bồi lắng ở mức độ cao do sói
mòn đất đã làm giảm hiệu năng của những dòng kênh và tuổi thọ của các hồ
chứa. Năm 1991, hai công trình thủy điện quan trọng ở miền trung là Đa
Nhim và Trị An đã không vận hành được bình thường vào mùa khô vì thiếu
nước nghiêm trọng. Nhiều vùng bị thiếu nước trầm trọng, nhất là Đồng Văn,
Lai Châu, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Giữa tháng 3/2011, nhiều vùng bị hạn nặng,
như các tỉnh Tây Nguyên nhất là Gia Lai, Kon Tum, cà phê không đủ nước đã
bị chết hay cháy hoa, nhân dân nhiều vùng không có đủ nước cho sinh hoạt.
Tình trạng ô nhiễm nước do nước thải sinh hoạt và nước thải công
nghiệp đã trở thành vấn đề quan trọng tại nhiều thành phố, thị xã, đặc biệt là
tại các thành phố lớn như TP.Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Hà Nội và tại các khu
công nghiệp. Ô nhiễm nước do hoạt động nông nghiệp cũng là vấn đề nghiêm
trọng tại nhiều miền thôn quê, đặc biệt tại châu thổ sông Hồng và sông Cửu
Long. Hiện tượng nhiễm mặn hay chua hóa do quá trình tự nhiên và do hoạt
động của con người đang là vấn đề nghiêm trọng ở vùng châu thổ sông Cửu

14
Long. Ở một số vùng ven biển, nguồn nước ngầm đã bị nhiễm bẩn do thấm
mặn hoặc thấm chua phèn trong quá trình thăm dò hoặc khai thác. nhiễm bẩn
vi sinh vật và kim loại nặng đã xẩy ra ở một số nơi, chủ yếu do nhiễm bẩn từ

15
đáng kểm tỷ lệ số hộ có hố xí hợp vệ sinh chỉ đạt 28-30% và số hộ ở nông
thôn được dùng nước hợp vệ sinh là 30-40% .
2.3.2. Những vấn đề môi trường nông thôn ở Việt Nam
Thời kỳ đổi mới nền kinh tế nước ta đã có những bước phát triển rất
quan trọng, trưng đó đặc biệt phải nói đến vai trò to lớn của kinh tế nông
nghiệp và nông thôn. Khởi đầu sự nghiệp đổi mới được bắt đầu từ nông
nghiệp. Cho đến nay, khi chóng ta bước vào thời kỳ CNH, HĐH nông
nghiệp, nông thôn, nông dân dần càng có vị trí, vai trò quan trọng. Tinh
thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng

khóa VIII đã chỉ rõ: phát triển nông nghiệp, nông thôn là một trong các chủ
trương và giải pháp lớn thúc đẩy sự nghiệp đổi mới tiến lên.
Trong quá trình thực hiện quan điểm đó, chúng ta đã đạt được nhiều những
thành tựu quan trọng về kinh tế, chính trị, xã hội, nông dân, nông thôn từng
bước được cải thiện cả về đời sống vật chất và đời sống tinh thần.
Nước ta có trên 77% dân số sinh sống ở khu vực nông thôn với cơ cấu
ngành nghề chủ yếu là sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp, tiểu thu công
nghiệp và dịch vụ. Trong tổng thể nền kinh tế quốc dân, khu vực nông
thôn mang tính chiến lược, trước mắt còng nhưng lâu dài. Vì vậy, nông thôn
chi phối và tác động nhiều mặt đến các vấn đề môi trường và bảo vệ môi
trường quốc gia.
Hiện nay, nông thôn nước ta đang trong quá trình đổi mới và
phát triển. Cùng với quá trình đó cũng phát sinh không ít vấn đề về môi
trường mà bức xúc nhất là tính ô nhiễm môi trường. Ô nhiễm môi trường nông
thôn Việt Nam hiện nay đang là vấn đề có tính cấp bách đòi hỏi
chúng ta phải thực sự quan tâm sâu hơn về vấn đề này chứ không chỉ
dừng lại ở sự cảnh báo hay hô hào một cách chung chung.
Quá trình phát triển của nông thôn nước ta đã và đang làm xuất hiện
những mâu thuẫn mới đòi hỏi chúng ta phải thường xuyên quan tâm giải

hưởng tiêu cực đến sức khỏe của cư dân nôngthôn, là nguyên nhân gây các bệnh
tiêu chảy, tả, thương hàn, giun sán… dẫn đến tình trạng suy dinh dưỡng, thiếu
máu, thiếu sắt, kém phát triển, nhiều trường hợp dẫn tới tử vong, nhất là ở trẻ em.
Sự ô nhiễm không khí hiện nay ở nông thôn Việt Nam còng là
rất đáng quan tâm. Hầu hết không khí tại các vùng nông thôn nước ta đã và
đang bị ô nhiễm ở mức độ khác nhau, do quá trình đô thị hóa và sự phát triển
của các làng nghề. Các khu công nghiệp còn “vô tư” thải các loại khí gây ô nhiễm

17
chưa được xử lý ra môi trường. Chủ yếu nhiên liệu được sử dụng trong các là
ng nghề là than đá. Do đó, cùng với việc phát triển các làng nghề thì lượng bụi,
các loại khí thải CO, CO2, SO2, NO… gây ô
nhiễm môi trường ngày càng có xu hướng gia tăng ảnh hưởng tiêu cực tới
sức khỏe người dân trong khu vực. Không những thế, chúng còn ảnh
hướng xấu đến hoa màu, sản lượng cây trồng của nhiều vùng lân cận.
Môi trường ở các vùng nông thôn cũng không nằm ngoài tiến trình ô
nhiễm đó. Đặc biệt là ở các làng nghề tái chế kim loại. Kết quả nghiên
cứu của đề tài KC.08.06 cho thấy một số mẫu đất ở làng nghế tái chế chì
tại xã Chỉ đạo, huyện Văn Lâm, Hưng Yên cho thấy hàm lượng đồng đã ở
ngưỡng từ 43,68 – 69,68 P.Pm; hàm lượng chì từ 147,06 – 661,2 P.Pm.
Một số làng nghề khác cũng ngày càng gây ô nhiễm nghiêm trọng hơn
đối với môi trường đất. Thực trạng ô nhiễm trên có rất nhiều nguyên nhân,
nhưng điều đáng quan tâm hơn cả là ý thức của đa phần người dân về bảo vệ
môi trường còn chưa thực sự được coi trọng. Sự thờ ơ này xảy ra ở ngay cả những
người cán bộ quản lý, các cấp chính quyền và người dân.
Từ đó dẫn tới một trong những nguyên nhân trực tiếp là việc người
dân lạm dụng và sử dụng không hợp lý các hóa chất trong sản xuất nông
nghiệp. Vào những năm 1960, ở nước ta chỉ có 0,48% diện tích đất canh
tác sử dụng thuốc bảo vệ thực vật thì hiện nay tỉ lệ này là 100% với trên
1000 chủng loại thuốc, trong đó có nhiều loại thuốc có độc tính cao. Hàng

phức tạp và có chiều hướng gia tăng không chỉ ở nông thôn mà cả ở các
thành phố lớn khi sử dụng nông sản có nguồn gốc từ nông thôn. Điều này
đòi hỏi chúng ta phải nghiêm túc quan tâm tìm cách cải thiện tình hình
này. Sở dĩ như vậy là do sự quản lý của các cơ quan chức năng còn nhiều
bất cập; Việc sử dông thuốc bảo vệ thực vật của người dân còn tùy tiện
không tuân thủ các yêu cầu kỹ thuật theo hướng dẫn, không đảm bảo thời
gian cách ly của các loại thuốc; Các kho chứa thuốc bảo vệ thực vật cũ
còn tồn đọng chưa được quản lý chặt chẽ dẫn đến tình trạng trôi nổi một
cách tự do trên thị trường.
Nguyên nhân thứ hai gây ô nhiễm môi trường ở nông thôn là do chưa
quản lý chặt chẽ và xử lý tốt các chất thải rắn từ các làng nghề. Hiện nay
nước ta có khoảng 1.450 làng nghề, phân bố ở 58 tỉnh thành và tập trung
đông nhất là khu vực đồng bằng sông hồng với tổng số 472 làng nghề các
loại, tập trung chủ yếu ở Hà Nội, Thái Bình, Bắc Ninh, Hưng Yên, Nam
Định… Trong đó, các làng nghề có qui mô nhỏ, trình độ sản xuất hấp,

19
trang thiết bị cũ và công nghệ lạc hậu, thô sơ chiếm phần lớn. Do đó, đã
và đang xảy ra nhiều vấn đề môi trường ở nông thôn. Môi trường tự nhiên
ở nông thôn đang bị ô nhiễm nghiêm trọng. Các làng nghề tại các vùng
nông thôn xuất hiện đủ các dạng ô nhiễm môi trường vật lý, hóa học và
sinh học. Bức tranh tổng thể có thể thấy: không khí bị ô nhiễm về nhiệt,
tiếng ồn, khí độc, khói bụi; không gian sống thì ngày càng thu hẹp mà
thay vào đó là các cơ sở sản xuất, các vật liệu, hóa chất và các chất thải
đủ loại. Đất và nước mặt bị chất thải rắn và nước thải bị ô nhiễm đang
xâm hại do sử dụng các trang thiết bị cũ kỹ, lạc hậu. Người dân làng nghề
vẫn thải trực tiếp một khối lượng lớn vật tư, nhiên liệu, hóa chất và nước
thải chưa được xử lý thẳng ra sông ngòi, ao hồ. Hởu quả là nguồn nước
và nguồn nước ngầm đều bị ô nhiễm nặng nề về mặt sinh học và hóa học.
Điều đó đã gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe hiện nay và lâu dài của

lý khoa học mà xả thẳng vào nguồn nước.
Qua bức tranh khái quát về môi trường nông thôn Việt Nam hiện nay
chóng ta có thể thấy nguyên nhân cơ bản chi phối các nguyên nhân khác
đó là: chúng ta chưa nhận thức được hết tác hại của việc ô nhiễm môi
trường. Việc nhận thức đối với vấn đề môi trường nông thôn của các cơ
quan chức năng và người dân còn nhiều hạn chế. Cán bộ thì buông lỏng
quản lý, coi nhù vấn đề môi trường. Người dân thì do cuộc sống còn khó
khăn chỉ chú ý quan tâm nhiều đến cuộc sống mưu sinh. Đời sống người
dân chưa được bảo đảm cho nên họ vẫn chưa thực sự quan tâm đến vấn
đề môi trường. Người dân vẫn tự do xả các loại chất thải công nghiệp,
chất thải sinh hoạt, phân rác ra môi trường.
Như vậy vấn đề môi trường nông thôn đã và đang đặt ra cho chóng ta
những thách thức trong việc phát triển nông thôn bền vững. Thực trạng
trên cho thấy, chúng ta còn rất nhiều việc cần phải làm ngay để bảo
vệ môi trường nông thôn như: ô nhiễm môi trường có xu hướng ngày càng
nghiêm trọng, tỉ lệ người dân sử dụng nguồn nước sạch và hố xí hợp vệ
sinh còn thấp, điều kiện kinh tế nhiều vùng còn rất khó khăn; phong tục
tập quán lạc hậu, thãi quen mất vệ sinh của người dân còn khá phổ biến…
Để nhanh chóng cải thiện tình hình này, rất cần quan tâm, đầu tư của Nhà
nước về nhân lực và nguồn lực khác cho vấn đề này; sự phối kết hợp chặt
chẽ giữa các ban ngành, đoàn thể từ trung ương đến địa phương và sự
tham gia tích cực của người dân trong việc cải thiện các điều kiện vệ sinh
môi trường, kết hợp với vệ sinh cá nhân. Chính quyền địa phương các cấp

21
và người dân cần tham gia nhiều hơn nữa trong việc bảo đảm cung cấp
dịch vụ một cách bền vững. Điều này đòi hỏi phải có sự lồng ghép các
vấn đề môi trường vào kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của địa
phương. Nâng cao hiểu biết cho người dân để họ có khả năng lùa chọn
các phương thức bảo vệ sức khỏe cho mình. Đẩy mạnh hợp tác với khu

22
Phần 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Sự hiểu biết của người dân về một số vấn đề môi trường.
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu, đánh giá nhận thức, sự hiểu biết của
người dân xã Quyết Thắng, Thành phố Thái Nguyên, Tỉnh Thái Nguyên về
một số vấn đề môi trường bức xúc hiện nay. Do hạn chế về thời gian và kinh
nghiệm em chưa thể nghiên cứu sâu vào nhiều khía cạnh của ô nhiễm môi
trường mà chỉ có thể nghiên cứu một mảng nhỏ.
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.2.1. Địa điểm thực tập: Bộ môn Khoa Học Môi Trường – Khoa Môi Trường
– Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
3.2.2. Địa điểm nghiên cứu: Địa bàn xã Quyết Thắng, Thành phố Thái
Nguyên, Tỉnh Thái Nguyên.
3.2.2. Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 1/2014 đến tháng 4/2014.
3.3. Nội dung nghiên cứu
3.3.1. Tình hình cơ bản xã Quyết Thắng
- Điều kiện tự nhiên của xã Quyết Thắng, Thành phố Thái Nguyên,
Tỉnh Thái Nguyên.
- Điều kiện kinh tế, xã hội xã Quyết Thắng, Thành phố Thái Nguyên,
Tỉnh Thái Nguyên.
3.3.2. Hiện trạng môi trường tại xã Quyết Thắng, Thành phố Thái Nguyên,
Tỉnh Thái Nguyên.
- Tình hình sử dụng nước sinh hoạt của người dân trong xã
- Thực trạng xả thải nước thải trong xã
- Tình hình phát thải và thu gom xử lý chất thải rắn

với khảo sát thực địa. Kết quả được ghi chép vào phiếu in sẵn (có phụ lục
kèm theo)
3.4.3. Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu
- Sử dụng phương pháp phân tích thống kê để tổng hợp lại tất cả các số liệu
đã thu thập được và lập các bảng biểu, sơ đồ.
- Từ các số liệu đã có tổng hợp lại và viết báo cáo
3.5. Phương pháp chọn mẫu
- Sử dụng kỹ thuật chọn mẫu ngẫu nhiên
Lựa chọn 100% số tiểu khu trong đó, mỗi tiểu khu chọn ngẫu nhiên 1o
hộ gia đình.
- Phỏng vấn trực tiếp cán bộ phụ trách môi trường của xã và 2 nhân
viên vệ sinh môi trường (là nhân viên thu gom rác).

Trích đoạn Những hoạt động của người dân về công tác bảo vệ môi trường sống, công tác tuyên truyền của xã Quyết Thắng Đánh giá chung và đề xuất giải pháp 1 Đánh giá chung xuất giải pháp KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 5.1 Kết luận
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status