Ứng dụng chế phẩm sinh học trong việc sản xuất phân hữu cơ từ phế phụ phẩm nông nghiệp tại huyện Phổ Yên – tỉnh Thái Nguyên. - Pdf 29

1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM NGUYỄN THANH ĐỨC Tên đề tài:
ỨNG DỤNG CHẾ PHẨM SINH HỌC TRONG VIỆC SẢN XUẤT
PHÂN HỮU CƠ TỪ PHẾ PHỤ PHẨM NÔNG NGHIỆP
TẠI HUYỆN PHỔ YÊN – TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên nghành : Khoa học môi trường
Khoa : Môi trường
Khóa học : 2010 – 2014
Giảng viên hướng dẫn : ThS. Vương Vân Huyền

Thái Nguyên, 2014

2

Phổ Yên là một huyện trung du nằm ở phía nam tỉnh Thái Nguyên
Trong những năm vừa qua cùng với sự công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
3
nước nền kinh tế của huyện đã có nhiều sự phát triển vượt bậc nâng cao đời
sống nhân dân.
Nguồn thu nhập chủ yếu của người dân trên địa bàn huyện là từ sản
xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, các phế phụ phẩm nông nghiệp chưa được tận
dụng tối đa, lãng phí.
Để nâng cao khả năng xử dụng tài nguyên và nguồn nguyên liệu sẵn có,
được sự đồng ý của Trường Đại Học Nông Lâm – Thái Nguyên, phòng Tài
nguyên và Môi trường huyện Phổ Yên, và sự hướng dẫn của cô giáo: Vương
Vân Huyền, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Ứng dụng chế phẩm sinh học
trong việc sản xuất phân hữu cơ từ phế phụ phẩm nông nghiệp tại huyện
Phổ Yên – tỉnh Thái Nguyên”
1.2. Mục đích của đề tài
- Điều tra, đánh giá, xác định số lượng, phân loại thành phần, tỷ lệ phế
phụ phẩm nông nghiệp.
- Nghiên cứu sử dụng kiến thức về lên men tự nhiên và một số chế phẩm
vi sinh vật để sản xuất phân bón hữu cơ tại chỗ từ phế phụ phẩm nông nghiệp,
tăng hiệu quả kinh tế sử dụng tài nguyên là phế phụ phẩm nông nghiệp.
1.3. Mục tiêu của đề tài
- Tìm hiểu các kiến thức về lên men sinh học tự nhiên và chế phẩm vi
sinh vật.
-Tìm các phương pháp ủ phân hữu cơ hiệu quả đơn giản và nhanh
chóng từ các phương thức lên men tự nhiên.
-So sánh, đánh giá chất lượng phân sau khi ủ với các loại men khác nhau.
-Phân tích chất lượng và hiệu quả kinh tế, môi trường giữa phân ủ với
phân hóa học.
-Xây dựng mô hình sản xuất phân hữu cơ vi sinh từ phế phụ phẩm sẵn có.
1.4. Yêu cầu của đề tài 5
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Cơ sở khoa học
2.1.1. Sử dụng phân bón bền vững trong sản xuất nông nghiệp.
Khi việc sử dụng phân bón hóa học một cách tràn lan như hiện nay thì
việc sử dụng phân bón hữu cơ cho cây trồng tạo ra hướng sản xuất bền vững.
Sản xuất bền vững là hướng phấn đấu của nghành nông nghiệp nhiều nước
tiên tiến trên thế giới hiện nay. Tiêu chí của sản xuất nông nghiệp bền vững
có nhiều vấn đề, nhưng tập trung là tạo ra sản phẩm sạch, an toàn và bảo vệ
môi trường. Khai thác, sử dụng hữu cơ là một biện pháp để bảo vệ tài nguyên
đất trong sản xuất nông nghiệp bền vững….
Rơm rạ nên được ủ trước khi đem bón cho cây trồng sẽ tốt hơn, vì cây
trồng có thể hấp thu chất dinh dưỡng ngay. Nếu cày vùi rơm rạ tươi thì mất thời
gian cho vi sinh vật trong đất phân hủy, như vậy cây trồng mới hấp thu được và
một số trường hợp có thể xảy ra hiện tượng ngộ độc hữu cơ cho cây cho cây lúa
nếu rơm, rạ không có thời gian phân hủy hoàn toàn… [24]
2.1.2. Khái niệm phân hữu cơ.
Là phân chứa những chất dinh dưỡng ở dạng những hợp chất hữu cơ
như: Phân chuồng, phân xanh, phân than bùn, phế phụ phẩm nông nghiệp,
phân rác…
* Phân chuồng.
- Đặc điểm: Phân chuồng là hỗn hợp chủ yếu của: Phân, nước tiểu gia
súc vá chất độn. Nó không những cung cấp thức ăn cho cây trồng mà còn bổ
sung chất hữu cơ cho đất được tơi xốp, tăng độ phì nhiêu, tăng hiệu quả sử

- Cách sử dụng: vùi cây phân xanh vào đất khi cây ra hoa, bón lót lúc
làm đất.
*Phân vi sinh
- Đặc điểm: là chế phẩm phân bón được sản xuất bằng cách dùng các
loại vi sinh vật hữu ích cấy vào môi trường là chất hữu cơ ( như bột than bùn).
Khi bón cho đất các chủng loại vi sinh vật sẽ phát huy vai trò của nó như phân
giải chất dinh dưỡng khó tiêu thành dễ tiêu cho cây hấp thụ, hoặc hút đạm khí
trời để bổ sung cho đất và cây.
- Các loại phân trên thị trường:
+ Phân vi sinh cố định đạm:
7
Phân vi sinh cố định đạm, sống cộng sinh với cây họ đậu: Nitragin, Rhidafo…
Phân vi sinh cố định đạm, sống tự do: Azotobacterin…
+ Phân vi sinh phân giải lân:
Phân lân hữu cơ vi sinh Komic và nhiều loại phân vi sinh phân giải lân khác
có tính năng tác dụng giống như nhau.
+ Ngoài ra trên thị trường còn có những loại phân khác với tên thương
phẩm khác nhau nhưng tính năng tác dụng thì cũng giống như các loại phân
kể trên.
- Cách sử dụng phân hữu cơ vi sinh: Thời gian sử dụng phân có hạn,
tùy loại thường từ 1-6 tháng (chú ý xem thời hạn sử dụng). Phân vi sinh phát
huy hiệu lực ở: vùng đất mới, đất phèn, những vùng đất bị thoái hóa mất kết
cấu do bón phân hóa học lâu ngày, vùng chưa trồng các cây có vi khuẩn cộng
sinh… thì mới có hiệu quả cao.
*Phân sinh học hữu cơ.
-Đặc điểm: là loại phân có nguồn gốc hữu cơ được sản xuất bằng công
nghệ sinh học (như lên men vi sinh) và phối trộn thêm 1 số hoạt chất khác để
làm tăng độ hữu hiệu của phân, hoặc khi bón vào đất sẽ tạo môi trường cho
các quá trình sinh học trong đất diễn ra thuận lợi góp phần làm tăng năng suất
cây trồng, phổ biến như: phân bón komic nền…
Hình 2.1: Sơ đồ nguồn gốc chất thải rắn nông nghiệp
Nguồn: Theo Nguyễn Đình Hương và CS (2006)[10].
Thành phần chất thải rắn nông nghiệp gồm nhiều chủng loại khác nhau,
phần lớn là các thành phần có thể phân hủy sinh học và 1 phần các chất khó
phân hủy và độc hại.
Thành phần chính của chất thải rắn nông nghiệp bao gồm:
+ Phế phụ phẩm từ trồng trọt: rơm, rạ,trấu, cám,lá cây, vỏ lõi ngô, bã
mía, thân lá khoai tây, khoai lang…
+ Phân động vật, phân gia súc( trâu, bò), phân gia cầm(gà, vịt, ngan,
ngỗng )
Trồng trọt(thực
vật chết, tỉa cành
làm cỏ…)
Thu hoạch nông
sản (rơm, rạ,
trấu, thân ngô, lõi
ngô

)

Chế biến sữa, giết
mổ gia súc, gia
cầm
Bảo vệ thực vật,
động vật: TBVTV,
thuốc trừ sâu, diệt
côn trùng.


phần ăn được chỉ chiếm phân nửa hay 1/3 khối lượng. Những phụ phẩm này
thực sự là nguồn tài nguyên phong phú và có giá trị; chúng còn có thể sử dụng
cho nhiều mục đích khác và có thể tạo thêm giá trị, thu nhập cho nông dân,
nếu không, chúng có thể gây ô nhiễm môi trường.
Việc sử dụng tốt các nguồn phụ phẩm này góp phần làm tăng thu nhập
cho nông dân và tăng thu nhập ha/đất nông nghiệp.
Phụ phẩm nông nghiệp đều là chất hữu cơ, có thể còn non, xanh; có thể
chúng đã xơ cứng vì silic hóa như trấu hay lignin hóa như gỗ. Chúng còn có
thể xem như 1 dạng tích trữ năng lượng từ mặt trời nhờ quá trình quang tổng
hợp và quá trình sinh học khác trong nông nghiệp.
Các phụ phẩm nông nghiệp thường cồng kềnh, ít giá trị dinh dưỡng
trực tiếp hơn chính phẩm và do đó giá trị kinh tế hiện tại cũng thường thấp
hơn, muốn sử dụng chúng cần thêm phí tổn vận chuyển và các biện pháp kỹ
thuật khác.Việc cân nhắc chi phí và lợi ích là rất cần thiết, đôi khi nhờ chế
biến mà lợi nhuận thu được từ phụ phẩm lại nhiều hơn chính phẩm. Sự phát
triển của xã hội và tiến độ khoa học công nghệ có thể giúp con người sử dụng
tốt hơn nguồn phụ phẩm nông nghiệp và qua đó làm thay đổi các nhìn nhận
về sảm phẩm nông nghiệp.
Với đặc điểm là những chất hữu cơ, các loại phụ phẩm nông nghiệp có
thế được sử dụng theo mục đích sau:
-Sản xuất thức ăn chăn nuôi
10
-Làm nguyên liệu cho nghành nghề tiểu thủ công, cho công nghiệp
-Làm chất đốt
-Sản xuất biogas và điện năng
-Làm phân hữu cơ.
Bảng 2.1 Thành phần chất thải trong trồng trọt.
(Phế phụ phẩm phát sinh để thu được 1 tấn nông sản sau thu hoạch)

Tên nông sản Phế phụ phẩm Khối lượng(kg)

vô cùng nhỏ bé”. Qua đó ông đã miêu tả hình thái và dạng chuyển động của
nhiều loại vi sinh vật. Nhiều bài báo của ông được công bố trên tạp chí Triết
học của học hội hoàng gia Anh và năm 1680 ông được bầu làm hội viên của
học hội này từ thập kỉ 60 của thế kỉ 19 bắt đầu thời kì nghiên cứu về sinh lí học
của các vi sinh vật. Người có công lớn trong việc này, người về sau được coi là
ông tổ của vi sinh vật học là nhà khoa học người Pháp Louis Pasteur (1822-
1895). Khó mà tóm tắt được khối lượng các phát hiện đồ sộ của Louis Pasteur
đã cống hiến cho nhân loại.[31]
2.1.4.1 Một số chế phẩm vi sinh vật xử lý chất thải hữu cơ và phế phụ phẩm
nông nghiệp
Chế phẩm vi sinh vật có một số vai trò rất lớn sau:
- Làm cho đất tơi xốp, tăng độ mịn, giữ nước.
- Có giá thành rẻ, dễ làm, phù hợp với quy mô hộ gia đình.
-Không gây độc hại đến sức khỏe của con người, vật nuôi và cây trồng.
- Không gây ô nhiễm môi trường hệ sinh thái.
- Có tác dụng cân bằng hệ vi sinh vật trong môi trường sinh thái.
- Không làm thái hóa, bạc màu đất, mà làm tăng độ phì nhiêu cho đất
-Đồng hóa các chất dinh dưỡng cho cây trồng, góp phần làm tăng năng
suất và chất lượng nông sản.
- Có tác dụng tiêu diệt sâu hại, trứng giun sán và côn trùng gây hại.
- Phân hủy, chuyển hóa các chất hữu cơ bền vững, các phế thải sinh
hoạt, phế thải nông- công nghiệp làm sạch môi trường.
Mỗi loại chế phẩm ngoài đặc điểm chung còn có đặc điểm, tác dụng
riêng khác nhau, điển hình một số loại chế phẩm hay được sử dụng:
-Chế phẩm EMUNIV (bộ vi sinh vật hữu hiệu đa năng) của công ty cổ
phần vi sinh ứng dụng – Hà Nội. Là tập đoàn nhiều vi sinh vật hữu hiệu bao
12
gồm: VSV phân giải chất hữu cơ, VSV cố định đạm, VSV phân giải lân, VSV
kích thích sinh trưởng…VSV tổng số > 10
9

- Không gấy ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe con người, vật nuôi, cây
trồng. Không gây ô nhiễm môi trường sinh thái.
- Có tác dụng cân bằng hệ sinh thái ( vi sinh vật, dinh dưỡng…) trong
môi trường đất nói riêng và môi trường nói chung.
- Ứng dụng các chế phẩm sinh học không làm hại kết cấu đất, không
làm chai đất, thoái hóa đất mà còn góp phần tăng độ phì nhiêu của đất.
- Có tác dụng đồng hóa các chất dinh dưỡng góp phần tăng năng suất
và chất lượng nông sản.
- Có tác dụng tiêu diệt côn trùng gây hại, giảm thiểu bệnh hạn, tăng khả
năng đề kháng bệnh của cây trồng mà không làm ảnh hưởng đến môi trường
như các loại thuốc BVTV có nguồn gốc hóa học khác.
- Có khả năng phân hủy, chuyển hóa các chất hữu cơ bền vững, các phế
thải sinh học, phế thải nông nghiệp, công nghiệp, góp phần làm sạch môi trường.
Với những ưu điểm mà chế phẩm vi sinh đem lại cho đất đại, cây trồng
cũng như môi trường và con người như trên. Để giúp cho các hộ gia đình, vừa
làm giảm sự ô nhiễm môi trường, vừa có thể tự sản xuất phân bón hữu cơ vi
sinh bằng nguồn nguyên liệu và phế liệu có tại đìa phương, với sự thuận lợi
về điều kiện tự nhiên , kinh tế- xã hội trên địa bàn huyện. Tôi đã tiến hành
nghiên cứu, điều tra đánh giá hiện trạng phế phụ phẩm nông nghiệp từ đó đã
ứng dụng 1 số chế phẩm vi sinh vào việc xây dựng mô hình sản xuất phân bón
hữu cơ nhằm tận dụng được nguồn nguyên liệu săn có và cải thiện ô nhiễm
môi trường.
2.2.Tình hình sản xuất phân hữu cơ trên thế giới và Việt Nam.
2.2.1.Tình hình sản xuất phân hữu cơ trên thế giới.
Tình hình quản lý, thu gom, xử lý phế phụ phẩm nông nghiệp trên thế giới
Trước đây nguồn phế phụ phẩm nông nghiệp không được cong người
quan tâm nhiều, cứ sau vụ thu hoạch một phần nhỏ được con người sử dụng
làm chất độn chuồng, giá trồng nấm nhưng hầu như được đốt hết. Vậy mà nó
chính là một trong những mặt hàng xuất khẩu tiềm năng mà trước đây chúng
ta đang bỏ phí. Hiện nay với nền kinh tế phát triển cao trên nhiều nước trên

thải từ gia súc để sản xuất biogas và phát điện, vừa giải quyết vấn đề môi
trường, vừa tăng thu nhập cho nhà chăn nuôi.
2.2.2.Tình hình sản xuất phân hữu cơ ở Việt Nam.
Việt Nam là nước nhiệt đới và là 1 nước nông nghiệp quanh năm cây
trái tươi tốt, cây trồng, vật nuôi khá phong phú. Trong những năm gần đây,
15
nghành trồng trọt nước ta phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng.
Trên đồng ruộng nương rẫy hàng năm để lại hàng triệu tấn phế thải là rơm, rạ,
lõi ngô, cây sắn, thân lá thực vật…Tất cả nguồn phế thải này 1 phần đen đốt,
còn lại trở thành rác thải, phế thải gây ô nhiễm nghiêm trọng môi trường và
nguồn nước, trong khi đất đai lại thiếu trầm trọng nguồn dinh dưỡng cho cây và
hàng năm chúng ta lại bỏ ra hàng triệu đô la để mua phân hóa học ở nước
ngoài.
Ước tính mỗi năm nước ta có 32,2 triệu tấn rơm rạ, 5,2 triệu tấn thân,
lá ngô sau thu hoạch, 1,5 triệu tấn thân lá khoai lang, 2,15 thấn là cây lạc, 1,7
triệu tấn ngọn, lá sắn…Hàng năm có khoảng 11,203 triệu tấn rơm của miền
Bắc và 21,007 triệu tấn của miền Nam thu được qua các mùa vụ. Phụ phẩm
rơm rạ hiện đang được khai thác nhiều theo hướng như làm giá trồng nấm, bổ
sung chế phẩm sinh học làm phân bón, làm chất đốt, làm chất đệm lót, hàng
để vận chuyển, độn chuồng, lót ổ.[17].
Thông thường, các phế phẩm nông nghiệp được người dân tận dụng tối
đa để tái sử dụng làm chất đốt, làm giá nấm, làm thức ăn gia súc, vật liệu độn
chuồng hoặc vùi trả lại đất, do đó khả năng tồn dư gây ô nhiễm môi trường
cũng giảm bớt.
*Một số mô hình xử lý phế phụ phẩm tại chỗ
Việt Nam là nước nông nghiệp nên mỗi năm thải ra khối lượng lớn phế
thải nông nghiệp trong đó phế phụ phẩm nông nghiệp chiếm khối lượng lớn,
việc tận dụng nguồn phế phụ phẩm này chưa được quan tâm, chú trọng vì vậy
mà tình trạng đốt rơm, rạ diễn ra ngày càng phổ biến sau mùa gặt, gây ra những
ảnh hưởng tiêu cực không nhỏ đến môi trường và sức khỏe của người dân.

bò, lơn, gà…được phối trộn với chế phẩm Bioplant, tạo ra loại phân hữu cơ vi
sinh có thể thay thế phân hóa học. Phân hữu cơ vi sinh có chưa 4 loại vi sinh vật
có ích và loại nấm đối kháng, khi bón vào đất sẽ phân giải các chất hữu cơ làm
tan biến các chất độc hại, giúp làm giảm thiểu ô nhiễm đất, nước, không
khí.(Nguyễn Thị Anh Hoa,2006).[7].
+ Năm 2007, Viện công nghệ môi trường – Viện Khoa Học và công
nghệ Việt Nam đã tổ chức mô hình ứng dụng chế phẩm vi sinh vật xử lý chất
thải công nghiệp thành phân bón hữu cơ – vi sinh làm sạch môi trường tại 2
xã : Đại Đồng và Kim Xá huyện Vĩnh Tường, quy mô 20ha.
17
Trong đó, tại thôn Hoàng Tân,xã Kim xá sử lý 6 ha dây bí đỏ + phân
gia súc, gia cầm; thông Phú Nông xã Kim Xá xử lý 9ha cây lạc+phân gia súc
gia cầm, xã Đại Đồng xử lý 5ha phế thải nông nghiệp.
Kết quả, các phế thải nông nghiệp sau khi trộn với chế phẩm vi sinh
vật, đem ủ, sau thời gian từ 40-60 ngày tạo ra 1 loại phân bón hưu cơ tốt,
được nông dân hưởng ứng.
+ Ở Bến Tre gần đây do sản xuất các ngành phát triển nên kéo theo các
phế - phụ liệu như mụn dừa, bã mía, rơm rạ thải ra nhiều làm ô nhiễm môi
trường ngày càng trầm trọng. Để giải quyết vấn đề trên, một số cơ quan chức
năng đã tìm đến Trung tâm sinh học ứng dụng, nhờ chuyển dao cho Bến Tre
quy trình chăm sóc nấm bào ngue trên mụn dừa, bã mía, rơm rạ rồi làm tiếm
nấm rơm – nuôi trùng và cuối cùng là phân hữu cơ. Qua thời gian thử nghiệm,
kết quả cho thấy nông dân nếu có điều kiện, sớm tổ chức sản xuất, có thể tăng
thêm thu nhập, làm giảm bớt nạn ô nhiễm môi trường. Nấm bào ngư( nấm sò,
nấm dai…) là loại có giá trị chấ lượng cao lại có ưu ddiiemr là mọc được trên
nhiều loại phế phụ phẩm khác nhau (cấu tạo cellulose, Lignin). [3].
+ Ở Nghệ An, phần lớn diện tích dất nông nghiệp đã bị suy thoái, xói mòn
và mất dần khả năng canh tác. Nguyên nhân chính là do người dân quá lạm dụng
các loại phân hóa học, thiếu nguồn phân bón hữu cơ bổ sung thường xuyên.
Mặt khác, lượng chế thải từ sản xuất nông nghiệp ( rơm rạ, cây xanh)

môi trường, tạo ra nền sản xuất nông nghiệp hữu cơ bền vững.
Về hiệu quả kinh tế, chi phí mua 1 tấn phân chuồng là 300000 đồng,
chi phí để sản xuất 1 tấn phân hữu cơ vi sinh quy mô hộ gia đình 272000
đồng. Như vậy, sử dụng phân hữu cơ vi sinh tiết kiệm được 28000 đồng/tấn.
Hiện nay, chế phẩm sinh học đã được triển khai thực hiện trên các mô
hình trồng chè ở xã Hùng Sơn (huyện Anh Sơn); trồng rau ở xã Quỳnh Liên
( Quỳnh Lưu); trồng cam ở nông trường Xuân Thành(Quỳ Hợp)…
Tại xã Hùng Sơn có 120 hộ tham gia mô hình và sản xuất được hơn
600 tấn sản phẩm. Sau 30 ngày ủ, nguyên liệu được phân hủy 100%, bón cho
cây chè năng suất tăng 25% so với khi chưa sử dụng nguồn phân hữu cơ vi
sinh. Chế phẩm sinh học Compost Maker đang được ngành nông nghiệp Nghệ
An tiếp tuch nhân ra diện rộng.
+ Vừa qua chi đoàn Trung tân Khuyến nông Lào Cai triển khai mô hính
sản xuất và sử dụng nguồn phân bón tại chỗ bằng chế phẩm sinh học ở xã Cốc
Lầu huyện Bắc Hà, quy mô là 10 hô tham gia. Các hộ tham gia mô hình được
hỗ trợ chế phẩm sinh học Compost Maker( tổng số 20 gói/ 10 hộ tham gia) và
500m
2
bạt. TT cũng tổ chức tập huấn cho 25 hộ dân về quy trình ủ phân bằng
chế phẩm sinh học.
Chế phẩm Compost Maker là sản phẩm có mật độ vi sinh vật có ích
cao, có tác dụng xử lý nhiều loại phế phụ phẩm, sử dụng hiệu quả cao cho
nhiều loại cây trồng, cá khả năng phân giai xellulo, sinh tổng hợp hoạt chất
kích thích sinh trưởng thực vật và ức chế vi sinh vật gây bệnh vùng rễ cây
19
trồng, bên cạnh tác dụng làm phân giải hợp chất giàu cacbon mà theo phương
pháp thông thường khó xử lý thì phân hữu cơ vi sinh còn có tác dụng phân
giải rất hệu quả. Việc ủ phân hữu cơ bằng chế phẩm sinh học giúp cho người
dân tận dụng các loại phế phẩm nông nghiệp tại chỗ sẵn có ( như rơm, ra, thân
cây ngô, lạc, bèo, cây thân xanh, chất thải gia súc…) để các hộ gia đình sản


3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1.1.Đối tượng nghiên cứu của đê tài
-Nguyên liệu làm phân bón: phế phụ phẩm nông nghiệp:Rơm ra, thân ngô.
-Men sinh học tự nhiên: men rượu, tro.
+Men được lấy từ quá trình ủ rượu cuả người dân địa phương.
+Tro được lấy từ bếp củi của người dân.
- Một số chế phẩm vi sinh vật hữu hiệu: chế phẩm EM2
3.1.2.Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Địa bàn huyện Phổ Yên – tỉnh Thái Nguyên.
3.2.Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Phổ Yên
- Thời gian nghiên cứu: Từ ngày 20/01/2014 đến ngày 30/04/2014
3.3. Nội dung nghiên cứu.
3.3.1.Đánh giá Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Phổ Yên.
3.3.2.Đánh giá tình hình sử dụng phân bón và nguồn phế phụ phẩm nông
nghiệp tại vùng nghiên cứu
3.3.3. Nghiên cứu xây dựng quy trình sản xuất phân bón bằng chế phẩm
EM2 và một số loại men tự nhiên
3.3.4. Đánh giá hiệu quả của việc sử dụng phân bón đối với một số loại cây trồng
3.4. Phương pháp nghiên cứu
3.4.1. Điều tra đánh giá thu thập số liệu
- Thu thập số liệu tại phòng TN&MT huyện Phổ Yên.
- Điều tra đánh giá thực tế tại địa phương.
3.4.2. Nghiên cứu ủ phân
- Nghiên cứu ủ phân với các công thức sau:

+ Công thức 1: hỗn hợp thân ngô và rơm với EM2.
21
+ Công thức 2: hỗn hợp thân ngô và rơm với tro.

Bảo quản
22
Bước 3: Tiến hành ủ.
Bước 4: Bảo quản.
3.4.4. Theo dõi sinh trưởng của cây trồng.
-Loại cây trồng: cây có thời gian sinh trưởng nhanh.
-Thời gian trồng: 26/3/2014 đến 11/4/2014.
-Diện tích trồng: 12m
2

chia thành 5 luống mỗi luống 2m
2

* Phương pháp theo dõi
- Sự phát triển chiều cao cây.
+ Sau khi trồng 3 ngày thì theo dõi
+ Cách đều 3 ngày theo dõi 1 lần
+ Cách đo: chiều cao cây: lấy thước thẳng để đo
- Sự phát triển số lượng lá của cây trồng
+ Sau khi trồng 3 ngày thì theo dõi
+ Cách đều 3 ngày theo dõi 1 lần
+ Cách đếm số lá: đếm số lá của 10 cây rồi lấy giá trị trung bình
miền núi phía Bắc. Theo tài liệu của trạm khí tượng thủy văn huyện cho thấy
các đặc điểm khí hậu thể hiện như sau:
- Nhiệt độ.
Nhiệt độ trung bình năm là: 23,5
0
C, tháng có nhiệt độ trung bình cao
nhất là 36,8
0
C vào tháng 6, tháng thấp nhất là 8,8
0
C vào tháng 12.
- Lượng mưa.
24
Lượng mưa trung bình năm là 1321 mm. Lượng mưa năm cao nhất là
1780 mm tập trung vào tháng 6,7,8, lượng mưa năm thấp nhất là 912 mm tập
trung chủ yếu vào tháng 12 và tháng 1.
- Độ ẩm.
Độ ẩm không khí trung bình năm 81,9 % cao nhất là 85 %, tháng 12 có
độ ẩm thấp nhất là 77 %.
- Gió.
Có 2 loại gió chính: Gió mùa Đông Bắc và gió Đông Nam.
+ Gió mùa Đông Bắc kèm theo khí hậu lạnh làm ảnh hưởng tới sự sinh
trưởng và phát triển của cây trồng vụ Đông Xuân, thường xuất hiện vào tháng
12 năm trước đến tháng 3 năm sau.
+ Gió Đông nam xuất hiện từ tháng 4 đến tháng 11 trong năm khí hậu
mát mẻ kèm theo mưa nhiều.
+ Ngoài ra còn gió Tây Nam thường xuyên xuất hiện xen kẽ trong mùa
thịnh hành của gió Đông Nam, mỗi đợt kéo dài từ 2 – 3 ngày, gió Tây Nam
khô, nóng ẩm, độ không khí thấp, đôi khi xuất hiện sương muối.
Tóm lại: Thời tiết và khí hậu có nhiều thuận lợi cho sản xuất nông

Phổ Yên bị ô nhiễm nặng.
4.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
4.1.2.1. Điều kiện về kinh tế
* Thuận Lợi
Trên cơ sở đánh giá toàn diện các nguồn lực và điều kiện phát triển
của Huyện hiện nay, có thể thấy những thuận lợi nổi bật sau đây:
- Huyện có vị trí địa lý thuận lợi do nằm kề và ở vị trí kết nối các
trung tâm phát triển là Hà Nội và thành phố Thái Nguyên. Để khai thác lợi
thế này, khâu đột phá là xây dựng hệ thống hạ tầng giao thông tốt, nhất là
đường bộ.
- Địa hình của Huyện đa dạng, có cả miền núi, trung du và đồng bằng;
có hồ Suối Lạnh nằm trong quần thể tiềm năng du lịch của Tỉnh như hồ Núi
Cốc, khu di tích ATK… Đây là điều kiện của sự phát triển nông lâm nghiệp
chuyên canh và phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng.
- Huyện có quỹ đất đai khá lớn và thuận lợi cho phát triển các ngành
phi nông nghiệp, nhất là những ngành cần sử dụng nhiều yếu tố đầu vào là
đất đai.
- Nguồn lao động của Huyện tương đối dồi dào, có khả năng học nghề
thuận lợi do gần các cơ sở đào tạo của Trung ương và của Tỉnh.

Trích đoạn So sánh hiệu quả kinh tế và môi trường giữa các loại phân ủ và phân hòa học Hàng năm sản xuất nông nghiệp của huyện đã để lại khối lượng phế phụ phẩm lớn Hầu hết người dân có thói quen đốt hoặc vứt bỏ trên đồ ng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status