ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ĐINH VĂN TUYÊN
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔ HÌNH CẤP NƯỚC SINH HOẠT
VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐẾN SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ
NÔNG THÔN TẠI XÃ SONG PE, HUYỆN BẮC YÊN, TỈNH SƠN LA
GIAI ĐOẠN 2013 - 2014
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : KHMT
Khoa : Môi trường
Khóa học : 2010 – 2014
Giảng viên hướng dẫn : ThS. Trương Thành Nam Thái Nguyên, năm 2014 LỜI CẢM ƠN
ANTQ : An ninh tổ quốc
BTNMT : Bộ Tài Nguyên và Môi Trường
BVMT : Bảo vệ môi trường
BVTV : Bảo vệ thực vật
CP : Chính phủ
HĐND : Hội đồng nhân dân
HTX : Hợp tác xã
NĐ : Nghị định
QCCP : Quy chuẩn cho phép
QĐ : Quyết định
TCCP : Tiêu chuẩn cho phép
TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam
TT : Thông tư
TTATXH : Trật tự an toàn xã hội
UBND : Uỷ ban nhân dân
UNDP :chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc
UNEF : Môi trường Liên Hợp Quốc
UNICEF : Quỹ nhi đồng Liên Hợp Quốc
WHO : Tổ chức y tế thế giới
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
thôn Việt Nam 15
Hình 2.2. Biểu đồ tỷ lệ mẫu nước đạt tiêu chuẩn vệ sinh theo nguồn nước 16
Hình 4.1. Biểu đồ so sánh các chỉ tiêu vượt quá QCCP ở bản Ngậm 37
Hình 4.2. Biểu đồ so sánh các chỉ tiêu vượt quá QCCP ở bản Mong 39
Hình 4.3. Biểu đồ so sánh các chỉ tiêu vượt quá QCCP ở bản Pe 40
Hình 4.4. Mô hình giếng khơi 53
Hình 4.5. Mô hình giếng khoan bơm tay 54
Hình 4.6. Ống lắng và đầu lọc nước sử dụng cho giếng khoan 55
Hình 4.7. Mô hình bể lọc chậm 55
Hình 4.8. Sơ đồ mô hình công nghệ xử lý nước cấp tự chảy 57
Hình 4.9. Máy lọc nước băng công nghệ trao đổi ion 60
MỤC LỤC
Trang
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1. Đặt vấn đề 1
1.2. Mục đích của đề tài 2
1.3. Yêu cầu của đề tài 3
1.4. Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu 3
Phần 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4
2.1. Cơ sở lý luận 4
2.1.1. Tầm qua trọng của nước 4
2.1.2. Khái niệm ô nhiễm nước 4
2.1.3. Nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước 5
2.1.4. Khái niệm về nước sạch 7
2.2. Cơ sở pháp lý 7
2.3. Cơ sở thực tiễn 9
2.3.1. Tình hình sử dụng nước ở trên thế giới và Việt Nam 9
4.3. Ảnh hưởng của nước sinh hoạt đến sức khoẻ cộng đồng 47
4.4. Đề xuất một số biện pháp kiểm soát môi trường nước sinh hoạt tại xã
Song Pe 49
4.4.1. Biện pháp tuyên truyền giáo dục 49
4.4.2. Biện pháp chính sách, pháp luật 50
4.4.3. Biện pháp kinh tế 51
4.4.4. Biện pháp kỹ thuật 51
4.5. Đề xuất các mô hình cung cấp nước sạch cho sinh hoạt 52
4.5.1. Mô hình cấp nước theo quy mô hộ gia đình (nhỏ lẻ) 53
4.5.2. Mô hình cấp nước tập trung 56
4.6. Đề xuất giải pháp xử lý cụ thể cho các thành phần gây ô nhiễm 58
4.6.1. Làm mềm nước (khử độ cứng của nước) 58
4.6.2. Khử trùng nước 60
4.6.3. Khử mùi, vị 62
4.6.4. Làm trong nước 63
Phần 5: KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 65
5.1. Kết luận 65
5.2. Kiến nghị 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67 1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Nước là cội nguồn của sự tồn tại, là nhu cầu cơ bản của mọi sự sống
trên Trái đất và cần thiết cho các hoạt động kinh tế- xã hội của loài người. Vai
trò của nước là muôn màu, muôn vẻ, ở đâu có nước là ở đó có sự sống. Trong
cơ thể nước chiếm tỷ lệ lớn, khoảng 70% khối lượng con người trưởng thành.
Những kết quả đạt được trong thực hiện Chương trình mục tiêu quốc
gia Nước sạch và VSMT nông thôn trên địa bàn tỉnh Sơn La trong những năm
qua mới chỉ giải quyết được nhu cầu bức xúc trước mắt, chưa bền vững và
đồng bộ. Vẫn còn một số chương trình, dự án đầu tư cấp nước chưa đạt tiêu
chuẩn về số lượng, chất lượng nước. Vì vậy để giúp cho dân cư xã Song Pe có
nguồn nước đạt tiêu chuẩn chúng tôi cho rằng cần phải tiến hành đánh giá
đúng chất lượng nước sinh hoạt hiện tại, cũng như tác động của nước sinh
hoạt đến sức khoẻ của cộng đồng dân cư, để từ đó xây dựng các giải pháp xử
lý thích hợp.
Xuất phát từ mục tiêu đó và sự đồng ý của Ban Giám hiệu Nhà trường,
Ban Chủ nhiệm khoa Môi trường – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên,
dưới sự hướng dẫn trực tiếp của ThS. Trương Thành Nam, tôi tiến hành thực
hiện đề tài: “Đánh giá hiện trạng mô hình cấp nước sinh hoạt và những tác
động đến sức khỏe cộng đồng dân cư nông thôn tại xã Song Pe, Huyện Bắc
Yên,Tỉnh Sơn La giai đoạn 2013 - 2014”. Nhằm đưa ra hướng giải quyết
đảm bảo cung cấp nước sinh hoạt đạt tiêu chuẩn, giúp cho người dân có
nguồn nước sạch hợp vệ sinh sử dụng cho cuộc sống.
1.2. Mục đích của đề tài
- Đánh giá hiện trạng chất lượng nước sinh hoạt ở các mô hình cấp
nước sinh hoạt tại xã Song Pe, huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La.
- Nắm được tình hình sử dụng nước sinh hoạt trên địa bàn xã Song Pe,
huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La.
- Nắm được tình hình phát sinh một số bệnh liên quan đến nước sinh
hoạt tại xã Song Pe, huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La.
- Tìm ra những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nước trên địa bàn
xã Song Pe, huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La.
- Đề xuất một số biện pháp khắc phục, giảm thiểu tình trạng ô nhiễm
nước sinh hoạt và cung cấp nước sạch nhằm nâng cao chất lượng nước sinh
hoạt, đáp ứng nhu cầu nước sạch của người dân địa phương. 4
Phần 2
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở lý luận
2.1.1. Tầm qua trọng của nước
Nước là tài nguyên tái tạo, bao phủ ¾ bề mặt Trái đất. Trong đó nước
biển chiếm 97%, còn nước ao hồ, sông suối và nước ngầm chỉ chiếm 1%,
nhưng lại là nguồn nước quan trọng đối với con người, là nguồn cung cấp
nước sinh hoạt cho nông nghiệp, công nghiệp. Nước còn đưa vào cơ thể con
người nhiều nguyên tố cần thiết cho sự sống như: Iot (I), sắt (Fe), Flo (F),
kẽm (Zn), đồng (Cu),….Tuy nhiên nước bẩn cũng có thể đưa vào cơ thể nhiều
loại vi khuẩn gây bệnh. Nước bẩn chứa nhiều các chất độc hại như chì (Pb),
thuỷ ngân (Hg), thạch tín (As), thuốc trừ sâu, các hoá chất gây ung thư khác.
Do đó, nước dung cho sinh hoạt phải đủ về số lượng và đảm bảo an toàn về
chất lượng. Hiện nay trong quá trình khai thác và sử dụng con người đã làm
cạn kiệt và ô nhiễm các nguồn nước.
2.1.2. Khái niệm ô nhiễm nước
Ô nhiễm nước là sự thay đổi theo chiều hướng xấu đi các tính chất vật
lý – hóa học – sinh học của nước, với sự xuất hiện các các chất lạ ở thể lỏng,
rắn làm cho nguồn nước trở nên độc hại với con người và sinh vật. Làm giảm
đa dạng sinh vật thủy sinh và giảm độ trong của nước.[9].
Nguồn gốc ô nhiễm nước có thể là tự nhiên hay nhân tạo. Ô nhiễm
nước có nguồn gốc tự nhiên như mưa rơi, khu công nghiệp… kéo theo các
chất bẩn xuống sông, hồ. Các chất gây bẩn còn có thể là nguồn gốc sinh vật
tạo nên như xác động thực vật. Ô nhiễm nhân tạo chủ yếu do xả thải sinh
hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải gây nên.
+ Giảm nồng độ ôxy hòa tan trong nước tự nhiên do các quá trình ôxy
hóa có liên quan với quá trình Eutrophication các nguồn chứa nước và khoáng
các hợp chất hữu cơ
+ Tăng hàm lượng các ion kim loại trong nước tự nhiên, trước hết là
Pb
3+
, Cd
+
, As
3+
, Zn
2+
, Fe
2+
, Fe
3+
, và PO
3-
4
, NO
3
-
,NO
2
-
.
+ Giảm độ trong của nước: Tăng khả năng nguy hiểm của nước tự
nhiên do các nguyên tố đồng vị phóng xạ.
Có nhiều cách phân loại ô nhiễm nước: dựa vào nguồn gốc ô nhiễm có
ô nhiễm do nông nghiệp, công nghiệp hoặc sinh hoạt. Dựa vào môi trường
dụng trong nông nghiệp như: phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc
trừ sâu là hiện tượng phổ biến trong các vùng nông nghiệp thâm canh gây ô
nhiễm nguồn nước.
Trong quá trình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học
một lượng đáng kể thuốc và phân bón không được cây trồng tiếp nhận chúng
sẽ lan truyền và tích lũy trong đất, nước và các sản phẩm nông nghiệp dưới
dạng dư lượng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật gây ô nhiễm môi trường.
Tác động tiêu cực khác của sự ô nhiễm thuốc bảo vệ thực vật và phân
bón làm suy thoái chất lượng môi trường khu vực canh tác nông nghiệp như:
phú dưỡng đất, nước, ô nhiễm đất, nước làm giảm tính đa dạng sinh học của
khu vực nông thôn, suy giảm các loài thiên địch, tăng khả năng chống chịu
của sâu bệnh đối với thuốc bảo vệ thực vật.
2.1.3.3. Ô nhiễm do hoạt động công nghiệp
Tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa ngày càng phát triển kéo theo hàng
loạt các khu công nghiệp được thành lập càng nhiều và chưa được xử lý triệt
để. Ví dụ như khu công nghiệp Than Lương, thành phố Hồ Chí Minh, nguồn
nước nhiễm bẩn bởi nước thải công nghiệp với tổng lượng nước thải ước tính
500.000 m
3
/ngày từ các nhà máy giấy, bột giặt, nhuộm, dệt.
Ở thành phố Thái Nguyên, nước thải công nghiệp thải ra từ các cơ sở
sản xuất giấy, luyện màu, luyện gang thép, khai thác than, về mùa cạn tổng
lượng nước thải của thành phố Thái Nguyên chiếm 15% lưu lượng nước Sông
7
Cầu, nước thải từ sản xuất giấy có pH từ 8,4 - 9 và hàm lượng NH
4
+
là 4 mg/l,
hàm lượng chất hữu cơ cao, nước thải có màu nâu, mùi khó chịu. Các khu
8
- Luật tài nguyên nước năm 1998 có 10 chương 57 điều. Đây là sự thể
hiện pháp chế đường lối. Chủ trương và quan điểm của nhà nước về tài
nguyên nước.
- Luật bảo vệ môi trường năm 2005 được Quốc hội nước CHXHCN
Việt Nam khóa XI kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực thi
hành 1/7/2006.
- Nghị định số 179/1999/NĐ-CP ngày 30/12/1999 của Chính phủ quy
định việc thi hành tài nguyên nước.
- Nghị định số 162/2003/NĐ-CP ngày 19/12/2003 của Chính phủ ban
hành quy chế thu nhập, quản lý, khai thác, sử dụng dữ liệu, thông tin về tài
nguyên nước.
- Nghị định số 34/2005/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước.
- Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 08 năm 2006 của Chính
Phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo
vệ môi trường.
- Thông tư số 02/2005/TT-BTNMT ngày 24/6/2005 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường hướng dẫn thực hiện Nghị định số 149/2004/NĐ-CP ngày
27/7/2004 của Chính phủ quy định việc cấp giấy phép thăm dò, khai thác, sử
dụng tài nguyên nước, xả thải vào nguồn nước.
- Thông tư 26/2011/TT-BTNMT ngày 18/7/2011 của Bộ Tài nguyên và
Môi trường Quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 29/2011/NĐ-CP
ngày 18/4/2011 của Chính phủ quy định về đánh giá môi trường chiến lược,
đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường.
- TCVN 6177-1996 (ISO 6332-1988) - Chất lượng nước - Xác định sắt
bằng phương pháp trắc phổ dùng thuốc thử 1,10-phenantrolin.
9
- TCVN 6187-1-1996 (ISO 9308-1-1990) - Chất lượng nước - Phát
nhu cầu sử dụng nước tăng cùng với việc tăng dân số, đô thị hóa, tăng việc sử
dụng nước trong các hộ gia đình và trong ngành công nghiệp. Một số nước
đang trong tình trạng hạn hán kéo dài và trong tương lai gần hạn hán và sa mạc
hóa sẽ còn nghiêm trọng. Gần 1/5 dân số thế giới, khoảng 1,2 tỷ người sống
trong khu vực khan hiếm nguồn nước tự nhiên.[9].
Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) cho biết, biến đổi
khí hậu và việc con người sử dụng nước phung phí là nguyên nhân chính
khiến thế giới ngày càng khát nước. Do không quản lý tốt việc sử dụng nước
và tình trạng khai thác nước một cách bừa bãi khiến nguồn nước ngầm ngày
một thiếu hụt. Hơn nữa sự gia tăng dân số kéo theo nhu cầu cần phải phát
triển nông nghiệp, do đó việc tận dụng nguồn nước nhất là nguồn nước ngầm
sẽ là một nguy cơ cạn kiệt nước trong tương lai. Trước mắt các quốc gia phát
triển phải đối diện với nạn gia tăng dân số vì không có khả năng ngăn chặn
mức sinh sản của người dân, các nước này sẽ là nạn nhân đầu tiên của nạn
khan hiếm nguồn nước. Có khoảng 17% dân số thế giới đang thiếu nước
sạch. Trong bản báo cáo ra ngày 9/11/2007, chương trình phát triển của Liên
Hợp Quốc (UNDP) đã đưa ra những con số đáng lo ngại: 1,1 tỷ người chưa
được sử dụng nước sạch, 2,6 tỷ người vẫn chưa tiếp cận được các điều kiện vệ
sinh.[7].
Theo đó, UNDP đặt ra yêu cầu cung cấp 20 lít nước sạch mỗi ngày cho
những người nghèo nhất. Mỗi năm 1,8 triệu trẻ em chết do sự nhiễm khuẩn
truyền qua nguồn nước bẩn. Hàng triệu phụ nữ hàng ngày phải mất nhiều giờ
để tìm được nước cần thiết cho gia đình và các cư dân trong khu vực dân
nghèo của thành phố trả tiền đắt từ 5 đến 10 lần so với các vùng khác. Bản
11
báo cáo ước tính rằng mỗi năm Châu Phi lãng phí khoảng 5% tổng sản lượng
quốc nội do sự thiếu hụt nguồn nước sạch.[7].
* Hậu quả của việc khan hiếm và ô nhiễm nguồn nước
Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội và gia tăng dân số, nhu cầu dùng
12
10% dùng nước mưa. Bộ phận còn lại dùng nước giếng khoan và số ít hộ
được cấp nước bằng ống dẫn nước.
Tình trạng thiếu nước đang diễn ra do việc khai thác bừa bãi và sử dụng
lãng phí đó là nguyên nhân làm biến đổi chất lượng, số lượng tài nguyên nước
trên thế giới và vùng lãnh thổ. Tình trạng ô nhiễm nước mặt đang có xu
hướng gia tăng do nước thải và nước mưa không được xử lý. 60% công trình
xử lý nước thải vận hành chưa đạt yêu cầu. Nước thải sinh hoạt ở thành phố,
đô thị cũng được xả thải trực tiếp vào hệ thống sông suối dẫn đến tình trạng ô
nhiễm cục bộ. Nguồn nước sạch Việt Nam bị hao hụt do một nguyên nhân
khác là do lũ lụt, hạn hán. Thiếu nước sạch chính là nguyên nhân chủ yếu gây
nguy hại cho sức khỏe con người (80% bệnh tật tại Việt Nam là do sử dụng
nguồn nước bị ô nhiễm, nhất là tại khu vực sinh sống của người dân nghèo).
b. Hiện trạng môi trường nước ở Việt Nam
Việt Nam là nước có tài nguyên nước thuộc loại trung bình trên thế
giới, song ẩn chứa nhiều yếu tố kém bền vững. Nếu chỉ xét lượng nước trên
lưu vực sông vào mùa khô thì nước ta thuộc vào vùng phải đối mặt với tình
trạng thiếu nước, một số khu vực như Đông Nam Bộ, Nam Trung Bộ, Tây
Nguyên thuộc loại khan hiếm nước. Tổng trữ lượng nước mặt của Việt Nam
khoảng 830 – 840 tỷ m
3
, trong đó khoảng 63% lượng nước là từ nước ngoài
chảy vào nước ta.
Tình trạng suy kiệt nguồn nước trong hệ thống sông, hạ lưu các hồ
chứa trên cả nước và nước dưới đất ở nhiều vùng đang diễn ra ngày càng
nghiêm trọng. Ngoài nguyên nhân khách quan do diễn biến theo quy luật tự
nhiên của tài nguyên nước, do điều kiện khí hậu, thủy văn, do tác động của
biến đổi khí hậu, còn do tác động của con người, như khai thác quá mức, sử
dụng lãng phí, gây ô nhiễm Nước sạch đang ngày một khan hiếm. An ninh
làm chất lượng môi trường nước suy giảm như:
- Hệ thống sông Cầu: Nước các sông thuộc hệ thống sông cầu ngày
càng xấu đi, nhiều đoạn sông đã bị ô nhiễm nghiêm trọng tới mức báo động.
Ô nhiễm cao nhất là đoạn sông Cầu chảy qua địa bàn Tp Thái Nguyên, đặc
biệt là tại các điểm thải của nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ, khu Gang Thép
Thái Nguyên chất lượng nước không đạt tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN).
Tiếp đến là đoạn sông Cà Lồ, hạ lưu sông Công chất lượng nước không đạt
tiêu chuẩn A và một số yếu tố không đạt tiêu chuẩn B. Yếu tố ô nhiễm cao
nhất là các chất hữu cơ NO
2
-
và dầu. Ô nhiễm nhất là đoạn từ nhà máy giấy
đến cầu Gia Bảy, ôxy hòa tan đạt mức thấp nhất 0,4 - 1,5 mg/lít, BOD
5
, COD
rất cao lớn hơn 1000 mg/lít, coliform ở một số nơi khá cao, vượt quá tiêu
chuẩn A tới hàng chục lần. Hàm lượng NO
2
> 2,0 mg/lít và dầu > 5,5 mg/lít
vượt quá tiêu chuẩn B 20 lần.
- Trên sông Sài Gòn: Mức độ ô nhiễm là nghiêm trọng cả về hữu cơ.
DO = 1,5 - 5,5 mg/lít, BOD = 10 - 30 mg/lít, dầu mỡ, vi sinh không có điểm
nào đạt TCVN đối với nguồn loại A. Ô nhiễm cao nhất là vùng sông chảy qua
trung tâm Tp Hồ Chí Minh. Ngoài ra sông Sài Gòn còn bị axit hóa nặng do
nước phèn ở đoạn Hóoc Môn - Củ Chi PH = 4,0 - 5,5.
14
Trong sản xuất nông nghiệp: Do lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật, các
nguồn nước sông, kênh mương bị ô nhiễm ảnh hưởng lớn đến môi trường
nước và sức khỏe nhân dân.
15
tĩnh như ao hồ có thể đánh giá mức độ ô nhiễm bằng mắt thường được chia
làm 5 loại:
+ Loại 1A (màu xanh lam): Là loại nước không bị ô nhiễm, đáp ứng
yêu cầu của chất lượng nước dùng để sản xuất nước sinh hoạt qua khâu xử lý
đơn giản.
+ Loại 1B(màu xanh lục): Có thể dùng cho mọi đối tượng.
+ Loại 2 (màu vàng): Có thể dùng làm nước uống nhưng phải qua xử lý
bằng công nghệ tiên tiến.
+ Loại 3 (màu da cam): Không dùng làm nước sinh hoạt.
+ Loại 4 (màu đỏ): Bị ô nhiễm nặng.
Nước mặt phải qua xử lý (lắng trong, khử trùng) bằng cách lắng phèn,
khử khuẩn ( dùng bột cloramin B) rồi mới dùng cho sinh hoạt. Nếu để uống
phải đun sôi và cho qua bình lọc.
Dưới đây là cơ cấu nguồn nước ăn uống, nước sinh hoạt chính vùng
nông thôn Việt Nam hiện nay như sau: 33,1% nước giếng khoan, 31,2% giếng
khơi, 1,8% nước mưa, 11,7% nước máy, 7, 5% nước suối đầu nguồn, 11%
nước sông ao hồ, 3,7% nguồn nước khác.
Hình 2.1. Biểu đồ cơ cấu nguồn nước ăn uống, sinh hoạt chính vùng nông
thôn Việt Nam
Trong các nguồn nước thì chỉ có nước máy là đạt tiêu chuẩn. Thế nhưng
theo điều tra của UNICEF thì hiện nay số lượng người sống ở nông thôn Việt
Nam được dùng nước máy là 11,7%, tỷ lệ này rất thấp và đang còn 11,6%
16
người dân vẫn thương xuyên uống nước lã. Thói quen uống nước lã sẽ đem lại
hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe cộng đồng do mắc phải những bệnh dịch
lan truyền theo nước.[13].
50
60
70
80
90
100
Nước máy Nước mưa Nước mặt Giếng khoan Giếng khơi Chung
%
17
năm 2000, dự án nước sạch UNICEF được mở rộng đến 50 tỉnh, thành phố
trên cả nước. Giai đoạn này dự án ưu tiên xây dựng các công trình cấp nước
sạch tại các khu vực vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, số hộ nghèo.
Củng cố bộ máy quản lý nước sạch vệ sinh môi trường nông thôn từ trung
ương đến địa phương, nâng cao năng lực quản lý, điều hành tổ chức tiếp nhận
và thực hiện dự án, đa dạng hóa các loại hình cung cấp nước, mở rộng và phát
triển các hệ cấp nước tập trung đẩy mạnh truyền thông qua các phương tiện
thông tin đại chúng.[13].
Giai đoạn 2001 – 2005, UNICEF tập trung thực hiện dự án cấp nước
sạch cho nông thôn tại các tỉnh miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, một số tỉnh
ven biển miền Trung. UNICEF cộng tác với cán bộ, ngành liên quan để thực
hiện việc cấp nước sạch nông thôn có hiệu quả, xây dựng năng lực cần thiết
để thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia vì nước sạch sinh hoạt vệ sinh
môi trường ở tỉnh thực hiện dự án.
Dự án đã góp phần giải quyết hiệu quả nhiệm vụ cấp nước sạch cho
người dân nông thôn trên cả nước. Đến nay UNICEF đã hỗ trợ Việt Nam hơn
47,3 triệu USD xây dựng 247.962 công trình cấp nước sạch nông thôn. Từ
hiệu quả của dự án cấp nước sạch nông thôn UNICEF tiếp tục hỗ trợ Việt