ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRẦN THỊ DUNG
Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA NỒNG ĐỘ CHẤT ĐIỀU TIẾT
SINH TRƯỞNG GA3 ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA
HOA LILY YELLOWEEN TRONG VỤ XUÂN HÈ 2014
TẠI THÁI NGUYÊN” KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khoa học cây trồng
Khoa : Nông học
Khóa học : 2010 - 2014
Lớp : 42 TT
Khóa học : 2010 - 2014 Giảng viên hướng dẫn: TS. Đặng Thị Tố Nga
Khoa Nông học - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Thái Nguyên, 2014 LỜI CẢM ƠN
Đối với mỗi sinh viên, để kết thúc quá trình học tập đều phải trải qua
giai đoạn thực tập tốt nghiệp. Trong quá trình học tập, sinh viên đã có một
lượng kiến thức lý thuyết cơ bản, và thực tập tốt nghiệp là điều kiện để củng
cố và hệ thống toàn bộ lượng kiến thức đó. Bên cạnh đó, thực tập tốt nghiệp
còn giúp cho sinh viên làm quen với điều kiện sản xuất thực tế, vững vàng
hơn về chuyên môn và biết vận dụng kiến thức đã học vào sản xuất cũng như
cho quá trình làm việc khi ra trường.
Từ những cơ sở trên và được sự nhất trí của Ban giám hiệu nhà trường,
Ban chủ nhiệm khoa Nông học em đã tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu
ảnh hưởng của nồng độ chất điều tiết sinh trưởng GA
3
đến sinh trưởng, phát
triển của hoa lily Yelloween trong vụ Xuân Hè 2014 tại Thái Nguyên”. Đề tài
được tiến hành tại Khu công nghệ cao - khoa Nông học - Trường Đại học Nông
lâm Thái Nguyên, thời gian thực hiện từ tháng 2 đến tháng 5 năm 2014.
Có được kết quả như ngày hôm nay em xin chân thành cảm ơn sự giúp
- KTST : Kích thích sinh trưởng
- Nxb : Nhà xuất bản
- TGST : Thời gian sinh trưởng
- Tr.đ : Triệu đồng
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Giá trị sản lượng một số mặt hàng nông sản nhập khẩu của Thế giới
năm 2007 8
Bảng 2.3: Tình hình sản xuất hoa, cây cảnh của Việt Nam
giai đoạn 2000 - 2011 10
Bảng 2.4. Kết quả xử lý GA
3
trên một số loại hoa 14
Bảng 4.1 Diễn biến thời tiết khí hậu vụ Xuân Hè 2014 tại
thành phố Thái Nguyên 29
Bảng 4.2 Ảnh hưởng của nồng độ GA
3
đến các giai đoạn sinh trưởng, phát
triển của giống lily Yelloween 30
Bảng 4.3 Ảnh hưởng của nồng độ GA
3
đến động thái tăng trưởng chiều cao
cây hoa lily Yelloween 32
Bảng 4.4 Ảnh hưởng của nồng độ GA
3
đến tốc độ tăng trưởng chiều cao cây
hoa lily Yelloween 34
Bảng 4.5 Ảnh hưởng của nồng độ GA
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1. Công thức hóa học của GA
3
4
Hình 4.1 Biểu đồ động thái tăng trưởng chiều cao cây của
hoa lily Yelloween
32
Hình 4.2: Biểu đồ tốc độ tăng trưởng chiều cao cây 34
Hình 4.3: Biểu đồ động thái tăng số lá 37
Hình 4.4: Biểu đồ tốc độ ra lá của hoa lily Yelloween 38
MỤC LỤC
Trang
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1. Đặt vấn đề 1
1.2. Mục đích của đề tài 2
1.3. Yêu cầu của đề tài 2
1.4. Ý nghĩa của đề tài 2
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài 3
2.1.1. Sự cân bằng hocmon trong cây 3
2.1.2. Chất điều tiết sinh trưởng Gibberellin (GA) 4
2.1.3. Nguyên tắc sử dụng các chất điều tiết sinh trưởng 6
2.1.4. Ưu điểm của việc sử dụng chất điều tiết sinh trưởng trong
sản xuất hoa 6
2.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa trên thế giới và ở Việt Nam 7
2.2.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa trên thế giới 7
3.5. Các biện pháp kỹ thuật áp dụng 27
3.6. Phương pháp xử lý số liệu 28
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29
4.1. Diễn biến thời tiết, khí hậu tỉnh Thái Nguyên 29
4.2. Ảnh hưởng của GA
3
đến các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của hoa
lily thí nghiệm 30
4.3. Ảnh hưởng của GA
3
đến khả năng sinh trưởng và phát triển của hoa lily
thí nghiệm 32
4.3.1. Động thái tăng trưởng chiều cao cây 32
4.3.2. Động thái ra lá của hoa lily 36
4.3.3. Ảnh hưởng của GA
3
đến một số chỉ tiêu về hình thái của hoa lily
Yelloween thí nghiệm 39
4.4. Ảnh hưởng của GA
3
đến một số chỉ tiêu về năng suất, chất lượng hoa lily
Yelloween thí nghiệm 41
4.4.1. Ảnh hưởng của các nồng độ GA
3
đến yếu tố cấu thành năng suất hoa
lily Yelloween thí nghiệm 41
Bảng 4.8 Ảnh hưởng của nồng độ GA
3
đến yếu tố cấu thành 42
năng suất 42
sống của con người, hoa tượng trưng cho cái đẹp, là nguồn cảm giác ngọt
ngào của cuộc sống. Chúng là một sản phẩm thiết yếu trong các dịp lễ tết, hội
nghị,… Vì vậy, hoa không chỉ đem lại cho con người sự thoải mái, thư giãn
khi thưởng thức vẻ đẹp của chúng mà còn đem lại cho người trồng hoa giá trị
kinh tế cao hơn hẳn so với những cây trồng khác.
Ở Việt Nam, nghề trồng hoa đã có từ lâu đời và có ý nghĩa lớn trong nền
kinh tế của các vùng trồng hoa, do đó hình thành nhiều vùng trồng hoa quy
mô lớn, nhiều kinh nghiệm như: Đà Lạt (Lâm Đồng), Mê Linh (Vĩnh Phúc),
Tây Tựu, Vĩnh Tuy (Hà Nội), Đằng Hải (Hải Phòng), Sapa (Lào Cai)… Rất
nhiều hộ gia đình trồng hoa có thu nhập từ 10 - 15 triệu đồng/ 1 sào Bắc Bộ/
năm (Đặng Văn Đông, Đinh Thế Lộc, 2004) [5].
Khí hậu nước ta thuận lợi cho sinh trưởng, phát triển của nhiều loài hoa
khác nhau và hoa lily cũng vậy. Hoa lily cắt cành là một loại hoa đẹp, hiện
đang là một trong 6 loại hoa cắt phổ biến và có giá trị nhất (Hồng, Cúc,
Phăng, Lay ơn, Đồng tiền, Lily). Tuy lily là loại hoa mới phát triển gần đây ở
nước ta nhưng do có dáng đẹp, mùi thơm quý phái, màu sắc hấp dẫn, quanh
năm có hoa nên lily là loại hoa được rất nhiều người ưa chuộng. Mà hiện nay
ở nước ta hoa lily mới được trồng ở một số tỉnh, thành phố có nghề trồng hoa
phát triển như Đà Lạt, Tp. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng,… với tỷ lệ nhỏ
cả về diện tích và số lượng.
Thái Nguyên có khí hậu mát mẻ, phù hợp cho sự sinh trưởng, phát triển
của hoa lily. Hơn nữa, trên địa bàn thành phố tập trung nhiều cơ quan, xí
nghiệp, trường học và có hệ thống giao thông thuận lợi, dân cư đông đúc, đời
sống không ngừng nâng cao. Do đó mà nhu cầu về hoa cũng ngày càng lớn.
Nhưng, trong thực tế sản xuất và tiêu thụ hoa tại Thái Nguyên vẫn gặp phải
những khó khăn như: Về màu sắc, chủng loại hoa còn đơn điệu, sản xuất hoa
2
còn nhỏ lẻ, trình độ khoa học kỹ thuật còn hạn chế, đầu tư ban đầu chưa cao,
2.1.1. Sự cân bằng hocmon trong cây
Khác với động vật và người, ở thực vật bất cứ mọi hoạt động sinh trưởng
phát triển nào, đặc biệt là các quá trình hình thành cơ quan (rễ, thân, lá, hoa,
quả…), sự biến đổi qua các giai đoạn sinh trưởng phát triển của cây đều được
điều chỉnh đồng thời bởi nhiều loại hocmon, hay nói cách khác là bởi sự cân
bằng của các hocmon trong cây quyết định. Vì vậy, trong bất cứ một cơ quan,
bộ phận nào của cây cũng đều tồn tại đồng thời nhiều hocmon có hoạt tính
sinh lý rất khác nhau để điều chỉnh mọi hoạt động sinh lý của chúng.
Người ta phân ra hai loại cân bằng hocmon là cân bằng chung và cân
bằng riêng.
* Sự cân bằng chung
Cân bằng hocmon chung là sự cân bằng của hai tác nhân đối kháng nhau
đó là các chất kích thích sinh trưởng và các chất ức chế sinh trưởng. Sự cân
bằng chung sẽ điều chỉnh toàn bộ quá trình phát triển cá thể của cây từ giai
đoạn nảy mầm đến khi kết thúc chu kỳ sống của mình. Tại bất cứ thời điểm
nào trong đời sống của cây, ta cũng có thể chỉ ra một tỷ lệ nhất định giữa ảnh
hưởng kích thích và ảnh hưởng ức chế.
Việc điều khiển thời gian ra hoa của cây cũng có nghĩa là điều khiển sự
cân bằng hocmon chung trong cây. Người ta có thể làm cho cây trồng ra hoa
sớm hơn (sớm đạt cân bằng giữa tác nhân kích thích và ức chế) hoặc ngược
lại, làm cho cây đạt cân bằng hocmon này muộn hơn để cây ra hoa quả muộn.
Có thể sử dụng các điều kiện ngoại cảnh hoặc các biện pháp kỹ thuật để điều
khiển cân bằng hocmon chung đó của cây theo hướng có lợi cho con người.
* Sự cân bằng riêng
Trong cây có nhiều quá trình phát sinh hình thái và hình thành cơ quan
khác nhau như sự hình thành rễ, thân, chồi, lá, hoa, quả, sự nảy mầm, sự chín,
sự già hóa, sự ngủ nghỉ cũng được điều chỉnh bằng sự cân bằng hocmon gọi là
cân bằng hocmon riêng. Cân bằng hocmon riêng là sự cân bằng của hai hoặc
4
1
, GA
2
, GA
3
, trong đó GA
3
có hoạt tính sinh lý mạnh nhất và
5
dạng GA được sản xuất và sử dụng hiện nay trong sản xuất. GA
3
được sản
xuất bằng con đường lên men và chiết xuất sản phẩm từ dịch nuôi cấy nấm.
Giberelin được tổng hợp chủ yếu trong lá non và một số cơ quan non
đang sinh trưởng như phôi hạt đang nảy mầm, quả non, rễ non cũng có khả
năng tổng hợp GA. Sự vận chuyển của nó trong cây theo hệ thống mạch dẫn
và không phân cực như auxin. GA trong cây cũng có thể ở dạng tự do và dạng
liên kết với các hợp chất khác.
* Vai trò sinh lý của GA
- Hiệu quả rõ rệt nhất của GA là kích thích mạnh mẽ sự sinh trưởng về
chiều cao của thân, chiều dài của cành, rễ, sự kéo dài của lóng cây hòa thảo.
Hiệu quả này có được là do ảnh hưởng kích thích đặc trưng của GA lên sự
dãn theo chiều dọc của tế bào.
Trong tự nhiên, tồn tại các dạng đột biến lùn. Các đột biến này có chiều
cao thấp hơn nhiều so với các cây bình thường. Đây là các dạng đột biến gen
đơn giản, do khiếm khuyết một gen nào đó trong quá trình tổng hợp giberelin.
Với các đột biến này thì việc xử lý GA sẽ rất hiệu quả. Trong sản xuất, nếu
muốn tăng chiều cao, tăng sinh khối thì người ta có thể xử lý GA.
- Nồng độ của các chất điều tiết sinh trưởng: Thông thường ở nồng độ
thấp chúng có tác dụng kích thích sự xúc tiến nảy mầm, tăng chiều cao, tăng
khối lượng… ở nồng độ cao chúng ức chế sinh trưởng ngọn hay toàn cây, gây
rụng lá, xúc tiến ra hoa…
- Chất điều tiết sinh trưởng thực vật không phải chất dinh dưỡng nên
không thể thay thế cho phân bón. Vì vậy muốn đạt hiệu quả cao khi sử dụng
các chất điều tiết sinh trưởng phải phối hợp với phân bón, đặc biệt là các
trường hợp muốn tăng chiều cao và sinh khối của hoa.
- Mặc dù việc sử dụng chất điều tiết sinh trưởng thực vật với nghề trồng hoa
có nhiều thuận lợi nhưng ảnh hưởng tiêu cực của chúng đối với đất đai, nước, sức
khỏe con người không phải là không có, nhất là khi sử dụng nhiều và thường
xuyên. Do đó phải sử dụng các chất điều tiết sinh trưởng đúng nồng độ, đúng thời
điểm và đúng phương pháp (Nguyễn Xuân Linh, 2002) [8].
2.1.4. Ưu điểm của việc sử dụng chất điều tiết sinh trưởng trong sản
xuất hoa
Các chất điều hòa sinh trưởng đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình
điều khiển sinh trưởng, phát triển của cây. Nói cách khác, hầu như tất cả các
quá trình hoạt động của cây đều có sự tham gia của các chất điều hòa sinh
trưởng (Lê Văn Tri, 2001) [22].
Các chất điều hòa sinh trưởng có khả năng điều hòa sinh trưởng phát
triển cây và dẫn tới tăng năng suất cây trồng. Tùy theo mục đích thu hoạch lá,
hoa, quả, thân hay rễ mà người ta phải sử dụng tùy chất điều hòa sinh trưởng
7
riêng biệt hay hỗn hợp. Nhìn chung, khi phun chất điều hòa sinh trưởng lên
cây trồng vào đúng giai đoạn thì có thể cho năng suất tăng trung bình từ 10 -
15%, nhiều trường hợp tăng cao hơn, từ 15 - 50% (Lê Văn Tri, 2001) [22].
Với nghề trồng hoa, sử dụng chất điều hòa sinh trưởng có nhiều thuận
lợi. Đó là:
Rau & Quả 97.900.226.000
Hoa - Cây cảnh 101.840.000.000
Gạo 9.249.026.000
Cà phê 7.548.041.000
Cao su 7.488.707.000
Chè 3.059.002.000
Hạt điều 1.569.312.000
Hồ tiêu 511.307.000
Thế giới 669.063.000.000
(Nguồn: [31]
Tuy nhiên tình hình sản xuất Hoa - cây cảnh trên thế giới ngày nay đã có
nhiều chuyển biến. Những nước sản xuất hoa - cây cảnh vốn nổi tiếng như Hà
Lan, Pháp nay đã trở thành những nước nhập khẩu và cũng là thị trường tiêu
thụ. Thay vào đấy, những nước đang phát triển, nơi lao động đang còn rẻ và
giá trị đất chưa cao như Trung Quốc, Malaysia, Nam Phi, Do Thái, Ấn Độ,
Colombia, Kenya, Ethiopia và Ecuador lại trở thành những nước sản xuất và
xuất khẩu. Về mặt địa lý, có thể nói Nam Phi, Kenya và Zimbabwe là những
đại gia xuất khẩu hoa - cây cảnh sang châu Âu trong khi Colombia là nước
chủ chốt xuất khẩu sang Hoa Kỳ. Ở châu Á, Malaysia, Đài Loan, Thái Lan, và
gần đây Trung Quốc là những nước xuất khẩu, phần lớn sang Nhật Bản. Nhìn
chung, thị trường nhập khẩu hoa - cây cảnh trên thế giới được phân phối như
sau: Đức với 22 tỷ đô la Mỹ, chiếm 22%; Hoa Kỳ với 15 tỷ đô la Mỹ, chiếm
15%; Pháp và Anh với 10 tỷ đô la, chiếm 10%; Hà Lan với 9 tỷ đô la, chiếm
9%; Nhật Bản với 6 tỷ đô la, chiếm 6%; Ý và thụy Sĩ với 5 tỷ đô la, chiếm
5%. Giới chuyên gia còn cho rằng các nước thuộc khối Đông Âu cũ cũng sẽ
trở thành nơi sản xuất hoa - cây cảnh trong tương lai [27].
* Tình hình sản xuất hoa lily trên thế giới
Năm 1997, Hà Lan có 356ha lily, đứng thứ 2 trong tổng diện tích hoa cắt
trồng bằng củ (sau Tuylip). Sở dĩ hoa lily được phát triển mạnh trong những
càng cao. Thị trường trong nước rộng lớn và phong phú, bên cạnh đó tiềm
năng xuất khẩu cũng đầy hứa hẹn, hoa và cây cảnh Việt Nam nếu được tổ
chức tốt từ khâu sản xuất, quảng bá đến tiêu thụ sẽ tạo tiềm lực kinh tế lớn
cho ngành sản xuất nông nghiệp Việt Nam trong tiến trình chuyển đổi cơ cấu
10
cây trồng [30]. Nếu như trước những năm 1995, nước ta chủ yếu sử dụng
những loại hoa, cây cảnh truyền thống như quất, đào, mai, hoa cúc, lay-ơn,
thược dược, thì trong những năm trở lại đây một số chủng loại hoa, cây cảnh
mới, cao cấp đã dần được chú trọng và đang có xu hướng tăng dần về số
lượng và giá trị. Có sự thay đổi nói trên là do nhu cầu của người tiêu dùng
luôn hướng đến những chủng loại cây hoa, cây cảnh mới lạ có chất lượng cao
(màu sắc đẹp, độ bền lâu, có hương thơm…), được nhập từ nước ngoài bằng
nhiều con đường khác nhau. [32]
Bảng 2.3: Tình hình sản xuất hoa, cây cảnh của Việt Nam
giai đoạn 2000 - 2011
Chỉ tiêu 2000 2005 2008 2011
Tổng diện tích (ha) 6.800 11.200 12.600 16.200
Giá trị sản lượng
(Tr.đ)
950.000 1.960.000 4.410.000 6.800.000
Giá trị thu nhập TB
(Tr.đ/ha/năm)
140 275 350 420
Mức tăng diện tích
so với 2000 (lần)
1,0 2,1 1,9 2,4
Mức tăng giá trị sản
lượng so với 2000
mại, bán hàng nhằm nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng và giảm giá
thành sản phẩm. Đồng thời tiếp tục đa dạng hóa các vùng miền trồng hoa phù
hợp với điều kiện về địa lý, khí hậu, và thị trường của từng loại hoa.
* Tình hình sản xuất hoa lily ở Việt Nam
Lily là loại hoa quý hiếm ở Việt Nam, hiện nay mới được trồng ở một số
tỉnh thành phố có nghề trồng hoa phát triển như: Đà Lạt, Tp.Hồ Chí Minh, Hà
Nội, Hải Phòng… So với các chủng loại hoa khác thì chủng loại hoa này chiếm
tỷ lệ rất nhỏ cả về diện tích và số lượng (Đào Thanh Vân và cs, 2007) [23].
Đà Lạt là nơi hiện đang có diện tích trồng lily nhiều nhất so với các địa
phương khác trên cả nước (chiếm khoảng 8% trong tổng diện tích trồng hoa),
còn ở Hà Nội, Hải Phòng chỉ mới trồng mang tính chất thử nghiệm. Tình hình
phát triển hoa lily ở Đà Lạt khá thuận lợi, một phần do thiên nhiên ưu đãi cho
sự phát triển của các giống hoa nói chung và cho hoa lily nói riêng, một phần
do kỹ thuật trồng lily của Đà Lạt tương đối cao nên hoa sinh trưởng khá tốt.
Hiện nay, Lily là một trong những loại hoa đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất
cho một số công ty hoa ở Đà Lạt (Đào Thanh Vân và cs, 2007) [23]. Theo
thống kê của ngành nông nghiệp, chỉ tính riêng Đà Lạt, hiện nay diện tích
12
trồng hoa lily dao động từ 70 - 100 ha/năm, giá trị kinh tế từ việc trồng hoa
lily đem lại ước tính gấp 6 lần so với trồng hoa cúc [27].
Một số đặc điểm chung của nghề trồng lily ở Việt Nam như:
- Là một loại cây trồng mới, kỹ thuật sản xuất còn lạc hậu.
- Thiếu sự chỉ đạo thống nhất, sản xuất thiếu tính đồng bộ.
- Diện tích ít, sản lượng thấp, chất lượng hoa chưa cao.
- Đầu tư cho khoa học kỹ thuật chưa nhiều, củ giống trong nước bị thoái
hóa nghiêm trọng, phần lớn giống phải nhập từ nước ngoài, do đó bị động và
dẫn đến giá thành sản xuất cao (Đặng Văn Đông, Đinh Thế Lộc, 2004) [5].
2.3. Tình hình nghiên cứu cây hoa trên thế giới và ở Việt Nam
2.3.1. Tình hình nghiên cứu cây hoa trên thế giới
Đài Loan. Trong đó GA
3
tác động mạnh ở giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng,
làm tăng chiều cao và rút ngắn thời gian nở hoa, Spray N-Grow và Atonik tác
động mạnh ở giai đoạn sinh thực, nâng cao tỷ lệ nở hoa và kéo dài độ bền hoa
cắt. Còn 2 loại thuốc Spray-GA
3
100ppm cũng có ảnh hưởng đến sinh trưởng,
phát triển của cúc CN93 trong vụ Đông làm tăng tỷ lệ nở hoa, đặc biệt là
chiều cao cây mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người sử dụng (Đặng Văn
Đông, Đỗ Thị Lưu, 1997) [4]
Khảo sát hiệu ứng tăng trưởng thực vật của chế phẩm Oligoalginat
(OA) bằng kĩ thuật bức xạ trên cây hoa cúc, Lê Quang Luận sử dụng dung
dịch OA phun lên lá cúc ở các nồng độ khác nhau khi cúc được 12 - 14 ngày
tuổi sau giam cành. Kết quả là dung dich OA có nồng độ 80ppm làm tăng quá
trình sinh trưởng về chiều cao, số lá, đường kính hoa, tăng trọng lượng cành
hoa. (Lê Quang Luận, 1999) [10]
Khi nghiên cứu ảnh hưởng của chất điều tiết sinh trưởng GA
3
đến sinh
trưởng phát triển của cây và chất lượng 1 số giống hoa cúc thí nghiệm, tác giả
Đặng Ngọc Chi (2006) [2] đã thử nghiệm ở các nồng độ 100ppm, 200ppm,
300ppm, 400ppm. Kết quả cho thấy chất lượng cành hoa của tất cả các giống
cúc Đồng Tiền trắng, Chi Xanh, Mặt Trời, CN19, CN20, Cao Bồi tím và Tua
Vàng được nâng cao đặc biệt về chiều cao khi xử lý GA
3
ở nồng độ 200ppm.
Khi nghiên cứu ảnh hưởng của các chế phẩm GA
3
, phân bón lá, Kích
Loại hoa Nồng độ
(ppm)
Thời điểm xử lý Tác dụng
Layon 50 Ngâm củ có mầm
(1ngày)
Mọc đều, tăng số
hoa/cành, rút ngắn TGST
từ 5 - 7 ngày
Hồng (trắng,
đỏ)
50 Bắt đầu có nụ Tăng chiều dài cuống
hoa
Cúc vàng 20 10 ngày sau trồng Tăng sinh trưởng, tăng
chiều dài cuống hoa
Cúc trắng 50 10 ngày sau trồng và
bắt đầu có nụ
Tăng sinh trưởng, tăng
chiều dài cuống hoa
Violet,
magic
20 10 ngày và 60 ngày
sau trồng
Tăng sinh trưởng, tăng số
lượng hoa
(Lê Văn Tri, 1998)
Đối với cây quất trước khi bán 1 tháng phun GA
3
20ppm, chồi và lá
lộc phát triển mạnh, quả chậm chín, vỏ quả mượt và căng (Vũ Quang
Sáng, 2010) [15].
Tiber và Sorbonne sinh trưởng, phát triển tốt tại địa phương
Với mục tiêu làm phong phú thêm bộ giống hoa lily ở Việt Nam, Năm
2008 Viện Nghiên cứu Rau Quả đã tiến hành nhập nội và trồng khảo nghiệm
10 giống hoa lily có nguồn gốc từ Hà Lan, đó là: Brunello, Ceb Dazzle,
Yelloween, Belladonna, Gold City, Ventimiglia, Palmares, Valparaiso, Tiber,
Simplon, Sorbonne (Đối chứng). Các giống này được trồng trong vụ Đông
Xuân 2008 - 2009 tại 2 điểm là Gia Lâm - Hà Nội và Mộc Châu - Sơn La. Kết
quả nghiên cứu chỉ ra rằng trong 10 giống lily trồng khảo nghiệm, 3 giống
thuộc dòng thơm là: Belladonna, Ventimiglia và Palmares có khả năng sinh
trưởng, phát triển tốt; năng suất, chất lượng hoa cao hơn so với các giống
khác và giống đối chứng Sorbonne ở một số chỉ tiêu chất lượng hoa. Đặc biệt,
16
các giống này có ưu điểm hơn so với giống đối chứng ở khả năng chống chịu
sâu bệnh hại (Trịnh Khắc Quang và cs, 2008) [12].
Nghiên cứu sản xuất giống lily ở Việt Nam cũng đem lại một số kết quả
như: Nghiên cứu phương pháp tạo củ in vitro trên một số giống hoa lily nhập nội
(Nguyễn Thái Hà và cs, 2003) [6]. Nghiên cứu sản xuất củ hoa lily bằng phương
pháp tách vảy củ tại miền Bắc Việt Nam (Nguyễn Văn Tỉnh và cs, 2013) [21].
Nghiên cứu khả năng tạo củ của lily bằng cách tạo củ sơ cấp lily trong ống
nghiệm (Hà Thị Thúy và cs, 2005) [18]. Nghiên cứu nhân giống củ lily bằng kỹ
thuật in vitro trong môi trường cơ bản (MS) có bổ sung 12% đường sacaroza,
nhiệt độ phòng 25 - 27
0
C, độ ẩm 70%, cường độ chiếu sáng 3000lux do tác giả
Nguyễn Thị Lý Anh - Viện Sinh học Nông nghiệp - Trương Đại học Nông
nghiệp I. Kết quả cho thấy các cây trồng từ củ in vitro có khối lượng trên 1g/củ
và được xử lý ở nhiệt độ 5
0
C trong 3 tháng đã sinh trưởng, phát triển tốt và có