1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Thế kỷ XX đã chứng kiến những thành tựu lớn trong lí luận văn
học. Một trong những thành tựu làm thay đổi các quan niệm cũ về phương
thức tồn tại của tác phẩm văn học, đó là sự ra đời của Mĩ học tiếp nhận(tiếp
nhận văn học). Nếu lí luận văn học tiền hiện đại chỉ chú ý đến tác giả, lí luận
văn học hiện đại đã có những bước tiến quan trọng trong việc khám phá văn
bản văn học như là cấu trúc ngôn từ động thì tư duy lí luận văn học hậu hiện
đại lại có những khám phá mới hơn về đặc trưng bản thể của văn bản văn học
trong quan hệ với những yếu tố khác, với người tiếp nhận. Có thể khẳng định,
sự chuyển đổi từ Mĩ học sáng tạo qua Mĩ học tiếp nhận xứng đáng là một
trong những bước ngoặt quan trọng của tư duy lí luận văn học thế giới. Từ
đây“Mĩ học tiếp nhận nêu lên những giá trị dễ thay đổi, trực tiếp gắn liền với
cá nhân người đọc thông qua quá trình cụ thể hoá văn bản… Từ đây lịch sử
văn học không chỉ đơn giản là con số cộng các tác giả và tác phẩm mà còn
được hiểu là các tác phẩm và người tiếp nhận trong những biến chuyển lịch
sử của nó”[18, tr167].
1.2. Trên văn đàn Việt Nam cuối những năm 80 của thế kỷ XX, xuất
hiện một hiện tượng lạ – hiện tượng Nguyễn Huy Thiệp. Các sáng tác của ông
ngay sau khi ra đời đã nhanh chóng trở thành tâm điểm chú ý của giới nghiên
cứu phê bình và những người yêu văn chương. Có lẽ ông là tác giả đầu tiên
trong văn học Việt Nam lập kỷ lục có được nhiều bài viết nhất về sáng tác của
mình chỉ trong một thời gian ngắn. Đây là điều đáng mừng cho văn học và
cũng là biểu hiện phong phú của sự tiếp nhận. Qua khảo sát các bài viết, công
trình nghiên cứu về truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp chúng tôi nhận thấy, bạn
đọc đã dùng những hệ qui chiếu khác nhau để soi chiếu vào tác phẩm. Người
nhìn nhận hiện tượng Nguyễn Huy Thiệp ở phương diện giới thiệu tác giả tác
2
chương. Nhờ nó tôi có thể vận dụng vào việc nâng cao chất lượng giảng dạy
và học tập văn trong nhà trường .
2. Lịch sử vấn đề
Trong thời kỳ đổi mới văn học nước nhà nửa đầu thế kỷ XX. Hiện
tượng Nguyễn Huy Thiệp ngay khi vừa xuất hiện đã tạo nên một cuộc tranh
luận sôi nổi kéo dài và cho đến nay vẫn chưa có dấu hiệu dừng lại. Số lượng
các bài viết về ông rất lớn. Tuy nhiên những ý kiến đánh giá xung quanh tác
phẩm của Nguyễn Huy Thiệp cũng rất khác nhau. Sự đánh giá ấy vô hình
chung đã thừa nhận Nguyễn Huy Thiệp là một hiện tượng văn học phức tạp
và tác phẩm của ông luôn có độ mở lớn. Năm 2001, tác giả Phạm Xuân
Nguyên đã tập hợp, biên soạn những bài viết về Nguyễn Huy Thiệp trong
cuốn sách “Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp”[41], giúp cho những ai quan tâm đến
“hiện tượng văn học” này cái nhìn khái quát, khách quan và đa chiều hơn.
Trong cuốn sách này, chúng tôi nhận thấy, các bài biết chủ yếu phân thành hai
luồng chính: phản đối và đồng tình.
Các ý kiến phản đối một phần do người đọc đồng nhất cái phản ánh với
cái được phản ánh, mặt khác, trong thời điểm văn học đã đổi mới, nhưng họ
vẫn dùng nhãn quan một chiều, thụ động để đánh giá tác phẩm nên không
tránh khỏi những hạn chế. Ý kiến phản đối chủ yếu tập trung vào truyện
Tướng về hưu và bộ ba truyện ngắn “giả lịch sử ”(Đặng Anh Đào): Vàng
lửa, Kiếm sắc, Phẩm tiết. Ngoài ra còn một số truyện khác của Nguyễn Huy
Thiệp cũng bị lên án do phản ánh hiện thực quá “tàn nhẫn”. Đó là các ý kiến
của những nhà phê bình như Lê Hà(Các vị tướng nói về phim “Tướng về
hưu”), Tạ Ngọc Liễn(Về truyện ngắn “Vàng lửa” của Nguyễn Huy Thiệp, Về
mối quan hệ giữa văn và sử), Đỗ Văn Khang(Có một cách đọc “Vàng lửa”;
4
Sự “mơ mộng” và “nghiêm khắc” trong truyện ngắn “Phẩm tiết”; Vì sao văn
của Ngụyên Huy Thiệp ngày càng sa sút), Nguyễn Thúy Ái(Viết như thế,
cũng là một cách bắn súng lục vào quá khứ), Vũ Phan Nguyên(Ba lần đọc
Thiệp), Đỗ Đức Hiểu(Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp), Vương Trí Nhàn(Tưởng
tượng về Nguyễn Huy Thiệp) Nhìn chung, các bài viết đều đi từ những đặc
điểm sáng tạo nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp và xuất phát
từ cái Tâm của nhà phê bình.
Trong giới hạn của luận văn, chúng tôi chỉ xin điểm lại một vài ý kiến
tiêu biểu xung quanh vấn đề tiếp nhận truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp.
GS Đặng Anh Đào trong bài "Thị hiếu và lối đọc truyện hiện nay qua
một cuộc tranh luận"[57], bên cạnh việc đánh giá các giá trị của tác phẩm,
còn nêu cụ thể lí do khiến cho truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp có nhiều tranh
luận, đó là "Nguyễn Huy Thiệp đã gây ra một cái hẫng giữa phát và nhận. Lối
viết đa âm đụng phải lối đọc thánh thư" [57,tr203] và thế là không cùng
"sóng" nên gây tranh cãi. Cũng trong bài viết này bà còn khẳng định "Tác
phẩm Nguyễn Huy Thiệp do sức mạnh gợi mở ra ngoài cuộc đời quá, do thức
dậy quá nhiều liên tưởng, nên mọi người đều gán cho nó sự liên tưởng của
mình và sinh ra cãi nhau. Những người ưa đọc thánh thư bực mình vì muốn
tìm câu phán của nhà văn, có khi lại gắn nhầm, và cho rằng nha văn đã phán
láo. Ngược lại, người đọc thiên về trí tuệ đã phản đối cách đọc ấy, gây nên độ
căng của một cuộc tranh luận khó dứt, và cũng khẳng định đổi mới của thị
hiếu hiện nay" [57,tr204). Ngoài ra trong bài viết "Khi ông Tướng về hưu xuất
hiện"[41,tr21], bà đã nêu ra lối tiếp nhận cũ từ trong truyện thống và lối tiếp
nhận mới của người đọc khi họ đem chúng xem xét truyện ngắn này. Đọc
Tướng về hưu mà người đọc tự tạo ra một khoảng cách để nhìn nhận vấn đề,
trước lối viết thản nhiên và trung hoà của nó, ấy là cách đọc mới. Ngược lại,
ban đọc đọc Tướng về hưu theo trật tự tuyến tính, tìm xem nhân vật nào là
chính diện, nhân vật ấy đã trừng trị cái ác như thế nào? và tiếng nói của nhân
6
vật đó chính là tư tưởng của tác phẩm, ấy là cách đọc cũ. Nhà nghiên cứu này
cho rằng, với Tướng về hưu, "không thể đọc trên một dòng chữ, một đoạn
mạch, mà là ở sự khái quát ở người đọc" [41,tr22].
Văn Giá trong bài "Bàn thêm về Vàng lửa của Nguyễn Huy Thiệp"
[41,tr205] đã nhận xét về cách kết thúc "mở" trong truyện ngắn Nguyễn Huy
Thiệp: "Một số truyện ngắn gần đây của Nguyễn Huy Thiệp không có kết thúc
rành mạch theo những phương pháp dễ dãi. Anh luôn đưa ra những giả định
có thể thế này, thế kia, thế khác nữa, hối thúc người đọc suy nghĩ tự tìm ra lối
kết thúc theo lối riêng của mình không cho phép biếng lười ăn sẵn. Nhìn rộng
hơn, truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp có nhiều tầng ý nghĩa được nén lại trong
sự trình bày kiệm lời. Một số nhân vật của anh ta là những ẩn dụ đa
nghĩa"[41,tr205].
Có thể thấy, các ý kiến trên đã đề cập đến yếu tố văn bản và cách đọc
đã đem đến cho người tiếp nhận những kết quả khác nhau khi cùng tiếp cận
một tác phẩm văn học. Không phải ngẫu nhiên, sự xuất hiện của Nguyễn Huy
Thiệp lại tạo thành hai luồng ý kiến: khen, chê rõ ràng, không phải chỉ liên
quan đến một nhóm người mà liên quan đến cả nước. Trước hiện tượng tiếp
nhận như vậy, ai đúng? ai sai? Dưới ánh sáng của lí thuyết tiếp nhận thế kỷ
XX mà chúng tôi sẽ giới thiệu dưới đây có thể lí giải hiện tượng Nguyễn Huy
Thiệp trên cơ sở khoa học.
Những năm đầu thế kỷ XX, trên thế giới đã có nhiều nhà lí luận nghiên
cứu về lí thuyết tiếp nhận(đặc biệt ở phương Tây). Dựa trên những kết quả
nghiên cứu tác phẩm văn học theo Hiện tượng học của Husserl, Roman
Ingarden là người đầu tiên cho ra đời công trình “Tác phẩm văn học”[32].
Ông tìm ra những khả năng khác nhau để lĩnh hội và lí giải giá trị tác phẩm
văn học. Ông nhấn mạnh: “Tác phẩm văn học không đồng nhất với moi sự
8
đọc và trong phê bình văn học, những ý kiến khác nhau không liên quan đến
bản thân tác phẩm mà chỉ liên quan đến sự cụ thể hoá của từng nhà phê
bình” [12,tr43]. Ngoài ra Heidegger và những đồng nghiệp của ông đã tạo ra
những biến thể mới của Hiện tượng học như Tường giải học, Mĩ học tiếp
nhận.
sự liên quan với hiện thực; văn bản văn học luôn mở, nó cần được bổ sung và
tạo khả năng bổ sung" [14,tr7].
Như vậy, Mĩ học tiếp nhận đã bác bỏ tính chất khép kín của văn bản
văn học mà mĩ học sáng tạo trước đây vẫn bảo vệ, thay vào đó là tính chất mở
và dấu ấn cá nhân. Ý nghĩa của văn bản ngày càng phong phú đa dạng nhờ
người đọc. Đây là hướng nghiên cứu mới về tác phẩm văn học của tư duy lí
luận văn học hiện đại. Thành tựu của lí luận văn học hiện đại trên đây, ít
nhiều liên quan đến vấn đề tiếp nhận tác phẩm văn học nói chung và vấn đề
tiếp nhận truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, là đề tài mà chúng tôi đang nghiên
cứu nói riêng.
Cùng với thế giới tình hình nghiên cứu lí luận ở việt Nam cũng ảnh
hưởng theo xu hướng trên. Từ khoảng những năm 70 của thế kỷ XX, rải rác
trên các báo, các tạp chí đã xuất hiện những bài báo nghiên cứu về tiếp nhận
văn học. Đó là các tác giả Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Phan Anh.
Những năm 80, có các bài viết của Hoàng Trinh, Văn học so sánh và
vấn đề tiếp nhận văn học[63]; Giao tiếp văn học [64] và của Nguyễn Văn
Dân: Nghiên cứu sự tiếp nhận văn học trên quan điểm liên ngành[6]. Nhìn
chung, những bài viết của hai nhà nghiên cứu này đều nhấn mạnh sự tác động
của người đọc đối với văn học và thừa nhận vấn đề tiếp nhận văn học là một
vấn đề quan trọng cần được nghiên cứu, nhất là ở nền lý luận văn học nước ta
hiện nay.
10
Vấn đề tiếp nhận văn học thực sự được quan tâm nghiên cứu nhiều hơn
ở thập niên 90. Đó là bài viết của các tác giả Nguyễn Lai: Tiếp nhận văn học
– một số vấn đề thời sự [35]; Nguyễn Thanh Hùng: Trao đổi thêm về tiếp
nhận văn học[31]. Năm 1991 Nguyễn Văn Dân đã biên soạn và giới thiệu
cuốn sách “Văn học nghệ thuật và sự tiếp nhận”[7]. Tác giả đã đưa ra vấn đề
về chủ thể tiếp nhận theo quan điểm của H.R.Jauss. Đây là một công trình
tương đối có hệ thống trong việc giới thiệu lý thuyết tiếp nhận trong thời điểm
nhìn tổng thể về sự phát triển của lý thuyết tiếp nhận.
Tuy nhiên, theo nhà nghiên cứu Trịnh Bá Đĩnh thì “người có thành
tích nhất trong việc giới thiệu lý thuyết này ở nước ta là Trương Đăng Dung”.
Thực ra vấn đề này đã có nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến nhưng đến những
năm cuối của thập niên 90 mới được Trương Đăng Dung nghiên cứu một cách
khoa học và hệ thống. Trong công trình “Từ văn bản đến tác phẩm văn học”
[11], tác giả đặt ra vấn đề: tính chất mở của tác phẩm là điều kiện của sự
thưởng thức thẩm mĩ. Nhưng ấn tượng thẩm mĩ xuất hiện từ đâu? Theo ông
giữa các cực của tính chủ ý và không chủ ý, ấn tượng thẩm mĩ xuất hiện trong
sự di động này. Ông còn cho rằng mỗi lần đọc là một lần người đọc “vấp
ngã” vào văn bản. Ở tạp chí Văn học nước ngoài số 4 - 2003, trong bài viết
“Phương thức tồn tại của tác phẩm văn học”[13] ông nhấn mạnh đến vai trò
của chủ thể tiếp nhận, đó là: “Tác phẩm văn học phụ thuộc vào những hoạt
động cụ thể hoá (đọc) có chủ ý của người đọc, và bản thân tác phẩm cũng
hiện ra đúng với diện mạo của nó nếu gặp được sự cụ thể hoá lí tưởng. Sự cụ
thể hoá này mỗi người một vẻ, không giống ai. Như vậy tác phẩm văn học là
vật hai lần có ý thức”[13, tr164) ). Đây là một ý kiến mới so với các công
trình trước đó. Điều này cho thấy chính tính đa nghĩa và độ mở của văn bản
khiến cho những cách lí giải về nó đều có cơ hội tồn tại và trên thực tế không
12
thể có kết luận cuối cùng về giá trị tác phẩm. Đây là cái nhìn thể hiện cảm
quan hậu hiện đại khi nói về đời sống tác phẩm trong tương quan với chủ thể
tiếp nhận. Vẫn ở bài viết này, Trương Đăng Dung nhấn mạnh quan điểm:
"Tác phẩm văn học tồn tại thông qua việc người ta đọc nó và sự tác động của
nó đến người đọc"[13,tr164) và nêu lên hướng tiếp cận phương thức tồn tại
của tác phẩm văn học, trên hai bình diện: một là tính chất ngôn ngữ, cái quyết
định đặc trưng văn học của văn bản; hai là khả năng tạo lập đời sống cụ thể
của văn bản văn học qua người đọc. Đây là những đóng góp đáng quý của
ông vào ý thức đổi mới và hiện đại nền lý luận văn học nước nhà. Ngoài ra ở
và dựa trên những thành tựu của tư duy lí luận văn học thế kỷ XX để lí giải về
vấn đề tiếp nhận trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp. Các ý kiến bàn về lí
thuyết tiếp nhận nói chung và vấn đề tiếp nhận trong truyện ngắn Nguyễn
Huy Thiệp nói riêng sẽ có tính chất định hướng cho chúng tôi thực hiện đề tài
này một cách toàn diện hơn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Luận văn khảo sát các ý kiến đánh giá của các nhà nghiên cứu, phê
bình về truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, từ đó thấy được các cách tiếp nhận
truyện ngắn của ông. Trên cơ sở tiếp thu ý kiến của các nhà nghiên cứu đi
trước, trong luận văn này, chúng tôi sẽ cố gắng tìm hiểu vấn đề tiếp nhận
truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp một cách toàn diện và hệ thống. Từ đó giúp
bạn đọc có cái nhìn khách quan nhất về hiện tượng Nguyễn Huy Thiệp.
3.2. Qua vấn đề tiếp nhận truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, chúng tôi
còn trả lời cho những câu hỏi quan trọng của lí luận văn học về tác phẩm văn
học, đó là: phương thức tồn tại của tác phẩm văn học là gì? ý nghĩa của tác
phẩm văn học có phải là nhất thành bất biến?
14
3.3. Với đề tài này, chúng tôi cũng muốn xác định những đóng góp của
Nguyễn Huy Thiệp cho nền văn học nước nhà và chứng minh cho sự phát
triển, đổi mới về tư duy nghệ thuật trong văn học Việt Nam hiện đại.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Trong đề tài này, chúng tôi tìm hiểu về lí thuyết tiếp nhận văn học
trong sự vận động của tư duy lí luận văn học. Trên cơ sở lý luận đó, chúng tôi
đi vào thực tế sáng tác văn học sau 1975 ở Việt Nam và lựa chọn hiện tượng
văn học Nguyễn Huy Thiệp và tìm hiểu vấn đề tiếp nhận từ truyện ngắn của
ông. Từ đó, thấy được sự phong phú về ý nghĩa của, các truyện ngắn Nguyễn
Huy Thiệp qua mỗi người đọc, ở những thời điểm khác nhau, và làm sáng rõ
một hiện tượng văn học trong thời kỳ đổi mới.
4.2. Các ý kiến, quan điểm tiếp nhận truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
16
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I
VAI TRÒ CỦA LÍ THUYẾT TIẾP NHẬN ĐỐI VỚI VIỆC
NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ VĂN HỌC
Thế kỷ XX là cái mốc quan trọng đối với sự vận động của tư duy lí
luận văn học. Nhìn lại quá trình phát triển của tư duy lí luận văn học từ truyền
thống đến hiện đại, các nhà nghiên cứu đã có nhiều cách nhìn nhận và lí giải
khác nhau về vấn đề tác phẩm văn học. Nếu tư duy lí luận văn học tiền hiện
đại chú ý đến vai trò của hiện thực, tác giả thì tư duy lí luận văn học hiện đại
và hậu hiện đại đã thấy được sự khác biệt giữa văn bản và tác phẩm văn học,
thấy được vai trò của người đọc trong quá trình hình thành các giá trị văn học.
1. Từ mỹ học sáng tạo đến mỹ học tiếp nhận
Nếu cuối thế kỷ XIX, lí luận văn học phát hiện ra vai trò của tác giả,
đầu thế kỷ XX phát hiện ra yếu tố văn bản thì giữa thế kỷ XX lí luận văn học
phát hiện ra người đọc. Cuối thế kỷ XIX với Mỹ học sáng tạo, tác giả là người
đóng vai trò trung tâm của tác phẩm, bạn đọc nhìn vào tác phẩm chỉ thấy tác
giả đầy quyền uy đang ngự trị. Đến với tác phẩm, bạn đọc đi tìm nghĩa chủ ý
việc khám phá văn bản văn học như là cấu trúc ngôn từ động. Nhưng rồi tư
duy lí luận văn học hậu hiện đại lại có những khám phá mới hơn về đặc trưng
bản thể của văn bản văn học trong quan hệ với những yếu tố khác, với người
tiếp nhận. Các lí thuyết hậu hiện đại cho rằng nghĩa của văn bản không ổn
định, nó mang tính quan hệ và được tạo nên do một quá trình. Tiếp theo khái
niệm nghĩa đang tồn tại của lí luận văn học hiện đại là khái niệm nghĩa được
thiết lập của văn học hậu hiện đại. Câu hỏi phương thức tồn tại của tác phẩm
18
là gì? đã nêu lên hai vấn đề phải đề cập đến: Một là tính chất ngôn ngữ, cái
quyết định đặc trưng văn học của văn bản; hai là khả năng tạo lập một đời
sống của văn bản nghệ thuật. Cả hai đều liên quan đến quá trình xâm nhập đời
sống của văn bản văn học, nói chính xác hơn, đó là quá trình tự tạo ra đời
sống của văn bản. “Như vậy là sau khi lí luận văn học hiện đại xác định được
vai trò trung tâm tạo nghĩa của văn bản văn học độc lập với tác giả và môi
trường ra đời của nó, lý luận hậu hiện đại đã khám phá ra quá trình tạo lập
đời sống của văn bản văn học trong quan hệ với sự tiếp nhận của người đọc.
Đây là cơ sở để lí luận văn học hậu hiện đại thể hiện tham vọng lấy mỹ học
tiếp nhận thay cho mỹ học sáng tạo” [18,tr165].
Thật ra, chỗ dựa lớn nhất của tư duy lí luận văn học hiện đại và hậu
hiện đại là những tư tưởng triết học. Vì thế Roman Ingarden, một triết gia
theo trường phái Hiện tượng học nhưng ông muốn đưa triết học vào lí luận
văn học và ông cho ra đời cuốn sách “Tác phẩm văn học”. Theo R. Ingarden
tác phẩm văn học như là khách thể mang tính chủ ý. Và như là khách thể
mang tính chủ ý thì đời sống của tác phẩm văn học cũng “phụ thuộc vào
những hoạt động cụ thể hoá (đọc) văn bản có chủ ý của người đọc hướng tới
nó” [18,tr166]. Một mặt, tồn tại một văn bản văn học như là sản phẩm sơ lược
với nhữnh chỗ trống và những sự việc chưa xác định giống như một bộ
xương. Mặt khác, thông qua sự cụ thể hoá (đọc) như là hoạt động của ý thức
hướng về nó mà bộ xương được đắp thêm da thịt và tác phẩm văn học hình
người đọc tiềm ẩn mách nước cho ta đi theo hướng nào đó để khám phá tác
phẩm. Còn H . R. Jauss, trong công trình “Lịch sử văn học như là sự khiêu
khích đối với khoa học văn học”[33], cho rằng, tác phẩm văn học như là quá
trình chứ không phải sản phẩm cố định. Nghĩa là, dòng sông ngữ nghĩa vẫn
luôn trôi, nghĩa của tác phẩm không phụ thuộc vào chủ ý của tác giả, ý nghĩa
20
của tác phẩm văn học có được trong tinh thần tiếp nhận của người đọc, vì thế
nó vẫn là quá trình. Jauss cũng nhấn mạnh khái niệm “tầm đón đợi”, rằng mỗi
người đọc có một tầm đón đợi khác nhau trước tác phẩm. Công trình này của
ông được coi như là tuyên ngôn của trường phái mỹ học tiếp nhận Đức.
Với những thành tựu của tư duy lí luận hiện đại và hậu hiện đại, Mĩ học
tiếp nhận đã bác bỏ tính chất khép kín của văn bản văn học mà mĩ học sáng
tạo trước đây vẫn bảo vệ, thay vào đó là tính chất mở và dấu ấn cá nhân. Mĩ
học tiếp nhận nêu lên những giá trị dễ thay đổi, trực tiếp gắn liền với cá nhân
người đọc thông qua quá trình cụ thể hoá văn bản. Vì vậy tiếp nhận văn bản
không phải là quá trình đi tìm chủ ý của tác giả. Văn bản văn học cần đến
người đọc lí tưởng để thiết lập đời sống cho tác phẩm văn học. Người tiếp
nhận đối thoại và tái tạo tác phẩm và tác phẩm tái tạo người đọc. "Từ đây lịch
sử văn học không chỉ đơn giản là con số cộng các tác giả tác phẩm mà còn
được hiểu là các tác phẩm và người tiếp nhận trong những biến chuyển lịch
sử của nó"[18,tr167].
Như vậy, sự chuyển đổi hệ hình tư duy của lí luận văn học trước
những thành tựu của lý thuyết tiếp nhận là một lẽ tất yếu. Nếu lí luận truyền
thống nghiêng về chủ thể sáng tạo, lí luận hiện đại nghiêng về văn bản thì lí
luận hậu hiện đại quan tâm đến người đọc.
Q
uá trình vận động
từ mỹ học sáng
không thay đổi vì luôn luôn có một hoạt động ý thức cá thể nhất định chi phối
nó trong một thời gian cụ thể nhất định nào đó"[13,tr172]. Tư tưởng tác phẩm
vì thế cũng chính là tư tưởng của tác giả. Với quan niệm này, tác phẩm đã và
chỉ được nhìn trong mối quan hệ chi phối, ràng buộc bởi chính hành vi sáng
tạo ra nó; tác phẩm là “con đẻ” của nhà văn, là “vật phụ thuộc” của tác giả, nó
bị đồng nhất với quá trình sáng tạo, với ý đồ tư tưởng, với sự chủ ý của nhà
văn. Việc phân tích, đánh giá tác phẩm, vì vậy cần phải căn cứ vào tác giả,
22
phải đi tìm và lĩnh hội cho được tư tưởng, tình cảm của nhà văn gửi gắm
trong tác phẩm.
Như một lẽ dĩ nhiên, trước vai trò tuyệt đối của tác giả, người đọc
không có vai trò gì lớn đối với tác phẩm, bởi trước người đọc, mọi việc xem
như đã “an bài”, “xong xuôi”. Nói khác đi, người đọc dường như không có
mối liên quan tất yếu nào với tác phẩm. Như vậy, lí luận văn học và mỹ học
truyền thống, lí luận văn học mác xít đã tiếp cận tác phẩm văn học trước hết
bằng con đường tìm hiểu tác giả, nhìn tác phẩm như một sản phẩm đã được
hoàn tất, hầu như tách rời qui luật tiếp nhận, không xuất phát từ phía bạn đọc,
từ chủ thể tiếp nhận.
Đặt tác phẩm trong mối quan hệ với tác giả, lí luận tiền hiện đại đã xác
lập quyền uy tuyệt đối của tác giả đối với tác phẩm, trao cho nhà văn quyền
quyết định ý nghĩa, tạo giá trị và đem lại đời sống cho tác phẩm của mình.
Tác phẩm lúc này giống như một “phiên bản”, một “tồn tại khác” của tác giả.
Việc quá đề cao, thậm chí tuyệt đối hoá vai trò của tác giả đã dẫn đến việc
không tôn trọng đúng mức tính độc lập tương đối của tác phẩm.
Tóm lại, tác phẩm văn học trong quan niệm truyền thống như là một
vật phụ thuộc trong quan hệ với hiện thực, với tác giả. Tác phẩm bị cào bằng,
thậm chí bi chìm đi trong những mối liên kết phi văn bản như hiện thực lịch
sử, tiểu sử cá nhân, giai thoại văn học v.v Tìm hiểu tác phẩm vì thế mà căn
cứ vào yếu tố ngoại văn như hiện thực, thời đại, tác giả - các yếu tố tham gia
các công trình nghiên cứu về tác phẩm văn học, đã làm mất ý nghĩa khách
quan của tác phẩm được tiếp nhận từ phía bạn đọc. Quan niệm truyền thống
về tác phẩm văn học đã bộc lộ ngày càng rõ những hạn chế nhất định của nó.
Tiếp nối những quan điểm truyền thống là những quan niệm của tư duy lí luận
24
văn học hiện đại, đã khám phá mới về đặc trưng bản thể của văn bản nghệ
thuật trong quan hệ với những yếu tố khác, với văn bản và người đọc.
3. Mối quan hệ giữa văn bản và độc giả
Lí luận truyền thống coi trọng quá trình khám phá ý đồ sáng tạo của tác
giả. Và như trên đã nói, tác phẩm trong quan điểm truyền thống được đồng
nhất với thế giới tư tưởng của nhà văn, bị hệ tư tưởng của nhà văn chi phối
hoàn toàn. Việc đọc tác phẩm trong quan niệm truyền thống, vì thế gắn bó
mật thiết với những ý tưởng của tác giả. Ý nghĩa của tác phẩm bị chi phối bởi
tác giả dựa trên những ấn tượng, phán đoán chủ quan của người đọc. Nhưng
sang thế kỷ XX, nhiều thành tựu trong nghiên cứu khoa học ra đời. Trong đó,
thành tựu của khoa học xã hội nhân văn cũng cho thấy không thể tin cậy tuyệt
đối vào năng lực phán đoán chủ quan của con người trước bất cứ đối tượng
nào. Vì vậy, để tiếp cận được bản chất của đối tượng không thể căn cứ vào
một phương diện duy nhất nào đó. Từ đây, những quan niệm truyền thống về
tác phẩm văn học trong lí luận tiền hiện đại đã không còn phù hợp. Những
thành tựu của các lĩnh vực khoa học xã hội như: Ngôn ngữ học, Cấu trúc luận,
Hiện tượng luận, Ký hiệu học, Lý thuyết thông tin, Tường giải học, Tâm lí
học…là cơ sở cho những kiến giải mới của nhiều trường phái lý luận ở thời
kỳ hiện đại xuất hiện. Rõ ràng, thế kỷ XX đã đánh dấu một bước chuyển biến
mới của lý luận văn học.
Đối với văn bản văn học, những khám phá về bản chất ngôn ngữ đầu
thế kỷ XX, cho thấy, tuỳ theo cách nhìn nhận về bản chất ngôn ngữ mà tư duy
lí luận văn học hiện đại có cách tiếp cận văn bản văn học tương ứng với bản
chất ngôn ngữ. Bởi vì, ngôn ngữ trong văn học không đơn giản là cái vỏ của
nghĩa được văn bản là một việc khó. Trước hết cần loại bỏ quan niệm đồng
nhất văn bản với toàn bộ tác phẩm”. Nhà nghiên cứu Trương Đăng Dung đã