ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐÀM THỊ THANH HUYỀN
VẤN ĐỀ TIẾP NHẬN TRUYỆN KIỀU CỦA MỘT NHÀ
THƠ MỚI: LƢU TRỌNG LƢ VÀ BÀI “CHIÊU TUYẾT
CHO VƢƠNG THÚY KIỀU”
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HO
̣
C
Hà Nội – 2014
Hà Nội - 2014
1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan những luận điểm được trình bày trong Luận văn này là kết
quả của quá trình học tập và nghiên cứu của tôi. Tôi xin hoàn toàn chịu trách
nhiệm trước những luận điểm khoa học mà tôi nêu ra trong Luận văn này.
ĐÀM THỊ THANH HUYỀN
2
LỜI CẢM ƠN
Luận văn này là kết quả sau thời gian học tập và nghiên cứu của tôi tại
khoa Văn học, trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội. Để có
được kết quả này, cho phép tôi được gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến
các thầy cô giáo trong khoa Văn học đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học
tập và nghiên cứu. Đặc biệt, cho tôi gửi lời cảm ơn đến thầy – PGS.TS Trần
Nho Thìn đã tận tình hướng dẫn tôi thực hiện đề tài nghiên cứu và hoàn thành
luận văn này.
ĐÀM THỊ THANH HUYỀN
CÁCH TIẾP CẬN MỚI MẺ, HIỆN ĐẠI VỚI TRUYỆN KIỀU 32
2.1. Lý do xuất hiện bài viết Chiêu tuyết cho Vương Thúy Kiều 32
2.2. Lý thuyết tiếp nhận và vấn đề tiếp nhận Truyện Kiều 34
2.3. Nhà Thơ mới Lưu Trọng Lư và xu hướng duy mĩ – tính thẩm mỹ mới. 37
2.4. Tình hình phê bình Truyện Kiều đầu thế kỉ XX 40
2.4.1. Nhà nho Ngô Đức Kế phê phán Truyện Kiều 44
2.4.2. Nhà nho Huỳnh Thúc Kháng phê phán Truyện Kiều 47
2.4.3. Nhà Thơ mới Lưu Trọng Lư bàn về Truyện Kiều 54
4
CHƢƠNG 3: Ý NGHĨA CỦA BÀI VIẾT ĐỐI VỚI LỊCH SỬ TIẾP
NHẬN TRUYỆN KIỀU 60
3.1. Giúp hiểu thêm về tư tưởng thẩm mỹ của Lưu Trọng Lư và các nhà thơ
lãng mạn 60
3.2. Ý nghĩa hiện đại của Truyện Kiều mà góc nhìn nho gia không thấy được
64
3.3. Báo hiệu một thời kỳ mới trong lịch sử tiếp nhận Truyện Kiều, kết thúc
thời kỳ cũ, mở ra thời kỳ hiện đại lý luận phê bình văn học 70
PHẦN KẾT LUẬN 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
5
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Truyện Kiều là một tác phẩm mang giá trị lịch sử văn hóa, là một kiệt tác
nghệ thuật của Việt Nam và nhân loại. Truyện Kiều của Nguyễn Du đã trở
thành niềm tự hào của dân tộc Việt Nam, mang đậm nét dân tộc Việt, văn hóa
nhà Thơ mới.
Tiếp nhận Truyện Kiều trong thế kỷ XIX: người đọc về căn bản là các trí
thức nho sĩ . Những độc giả ở thế kỷ này chưa có ý thức nghiên cứu văn học;
những cảm tưởng, nhận xét của họ về tác phẩm được trình bày dưới dạng thơ
ca đề vịnh, bài đề tựa hay bạt chứ không phải viết bằng văn phong nghiên
cứu. Thế kỷ XIX cũng chứng kiến cách đọc Truyện Kiều quen thuộc của nhà
nho: phê bình nhân vật theo quan điểm đạo đức nho giáo, lối phê bình vẫn
tiếp tục đến đầu thế kỷ XX.
Tiếp nhận Truyện Kiều trong thế kỷ XX: Bước sang thế kỷ XX, với sự
xuất hiện của một kiểu tác giả mới, những trí thức Tây học, họ học tiếng
Pháp, đọc văn bản Pháp, chịu ảnh hưởng của văn học phương Tây về con
người, về chức năng văn học nghệ thuật, đồng thời nhờ có sự tiếp xúc từ rất
sớm với các phương pháp phân tích, khảo cứu tác giả, tác phẩm văn học của
Tây phương, mà thế hệ trí thức Tây học đã có những ứng dụng khoa học vào
nghiên cứu Truyện Kiều, đặt những viên gạch đầu tiên cho những công trình
nghiên cứu quy mô, theo nhiều phương pháp khác nhau sẽ tiếp tục mãi cho
đến ngày nay. Với sự hỗ trợ đắc lực của báo chí và nhà xuất bản, nhất là báo
chí, việc tiếp nhận Truyện Kiều trở nên năng động hơn, sôi nổi hơn. Nhờ có
báo chí, những phản ứng về một kiểu đọc, kiểu bình luận Truyện Kiều nào đó
cũng nhanh nhạy hơn, tạo nên không khí tranh luận sôi nổi, mở rộng. Thế kỷ
XX cũng chứng kiến sự tham dự tích cực của Truyện Kiều vào đời sống chính
7
trị, văn hóa, xã hội. Nhân vật trong Truyện Kiều trước hết là Thúy Kiều, trở
thành một thứ thuốc thử độc đáo để kiểm nghiệm sự thay đổi của tư tưởng
văn hóa trong giai đoạn giao thời.
Chúng ta nhận ra một hướng đi nhân đạo của văn chương thế kỷ XX so với
các thế kỷ trước. Tuy nhiên, Nguyễn Du là một trường hợp đặc biệt, ông đã
có quan niệm mới về con người, đề cao phần nhân bản của con người, ông
chọn một cô kỹ nữ (thực chất là đĩ) làm nhân vật chính. Tầm nhìn này vượt
không bị kiểm soát. Tuy nhiên, Nguyễn Du - một trường hợp điển hình của
văn học thế kỷ XIX, giai đoạn mà văn học chịu ảnh hưởng nặng nề của các
quan điểm đạo đức Nho giáo bảo thủ, nhưng ông đã vượt lên trên những định
kiến xã hội để viết về quyền sống của con người, đặc biệt là người phụ nữ với
tình cảm thương yêu và trân trọng đặc biệt, vì vậy ông được coi là nhà thơ đi
trước thời đại, có cái nhìn vượt thời đại về quyền sống của con người. Nhưng
phải đến thế kỷ XX, vấn đề về quyền sống tự do của con người mới được biểu
hiện rõ rệt hơn qua các tác phẩm văn chương, với những nguyên tắc thi pháp
mang tính hiện đại, văn chương mới làm được công việc lớn lao là đưa những
con người ấy về đúng bản năng của mình. Riêng ở khía cạnh này thôi, văn
học hiện đại đã là một bước tiến khá xa so với văn học truyền thống.
Như vậy, việc tiếp nhận Truyện Kiều của các nhà Thơ mới chủ yếu dựa
trên quan điểm đánh giá con người cá nhân, và cái đẹp về tâm hồn cũng như
nhân cách của nhân vật.
2. Lịch sử nghiên cứu
Việc nghiên cứu Truyện Kiều trong quan điểm tiếp nhận của các nhà Thơ
mới hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách bài bản và đầy đủ,
9
đánh giá những mặt mạnh, mặt yếu, mặt tốt, mặt hạn chế trong “hệ thống”
những công trình nghiên cứu về Truyện Kiều
Từ khi tác phẩm Truyện Kiều ra đời cho đến nay cũng hơn 200 năm và
việc nghiên cứu, phê bình, tiếp nhận tác phẩm này cũng chưa bao giờ kết
thúc. Như vậy, mỗi người đọc, ở mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau lại có một
chân trời chờ đợi (tầm đón đợi) riêng, có cách đọc riêng. Dù hiểu như thế nào
và nhìn từ góc độ nào đi chăng nữa, thì không ai có thể phủ nhận được giá trị
của Truyện Kiều và sự ảnh hưởng của tác phẩm đến đời sống tinh thần của
người Việt.
Trong giai đoạn văn hóa Việt Nam đang ở bước chuyển từ văn hóa phương
Đông truyền thống sang nền văn hóa hiện đại với những ảnh hưởng rõ rệt của
nghiên cứu về Truyện Kiều. Thơ mới là giai đoạn giao thời giữa hai nền văn
học cũ và mới vì vậy việc tiếp nhận Truyện Kiều của nhà Thơ mới đã giúp
chúng ta có cách nhìn nhận nhân bản hơn về quyền sống của con người, về tư
tưởng thẩm mỹ theo hướng hiện đại hóa văn học. Vì vậy tiếp nhận Truyện
Kiều của nhà Thơ mới là một trong những công việc nghiên cứu cần làm để
có cách nhìn nhận đúng đắn và toàn diện của vấn đề đối với sự phát triển của
nền văn học hiện đại. Để làm được điều đó, chúng ta cùng nhìn nhận lại
những “thành tựu” cũng như bước tiến mà giới phê bình đã làm được trong
việc góp phần hoàn thiện giá trị của tác phẩm Truyện Kiều.
Từ trước đến nay, về lịch sử tiếp nhận Truyện Kiều của các nhà nghiên
cứu, bình giải Việt Nam đối với Truyện Kiều, đã có nhiều bài báo, bài phê
bình, nghiên cứu đáng chú ý sau:
Trong bài viết của Hoài Thanh Truyện Kiều đối với các lớp người và qua
các thời đại,(“Quyền sống của con người trong Truyện Kiều của Nguyễn Du”
– Nguyễn Du về tác gia và tác phẩm, NXB Giáo dục, 2001, tr. 484 – 498)
11
Hoài Thanh đã nhận xét khái quát sự tiếp nhận Truyện Kiều qua thời gian,
trong đó tác giả bài viết đã nhận xét một số nhà nho như Chu Mạnh Trinh,
Phạm Quỳnh, Ngô Đức Kế và Huỳnh Thúc Kháng. Đối với nhà nho Chu
Mạnh Trinh, Hoài Thanh bàn về việc Chu Mạnh Trinh không những say
mê Truyện Kiều, say văn chương Truyện Kiều mà còn say nàng Kiều như một
giai nhân có thực. Còn đối với các nhà nho tân học như Phạm Quỳnh, nhà
Nho Ngô Đức Kế và Huỳnh Thúc Kháng thì Hoài Thanh nhận xét: “Thực ra,
tuy thích Truyện Kiều, người ta vẫn cảm thấy trong việc Phạm Quỳnh đề cao
giá trị Truyện Kiều có điều bất chính và nhất là người ta thấy rõ trong thái độ
hai cụ một tấm lòng yêu nước thương nòi tha thiết” [45,tr.484 ]. Qua bài viết
này, Hoài Thanh đã chứng minh niềm say mê Truyện Kiều của Chu Mạnh
Trinh và chỉ ra những quan điểm đạo đức cũ và mới khi tranh luận trong
Truyện Kiều của nhà nho Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế và nhà nho tân
mới của các nhà nghiên cứu đầu thế kỉ XX, đây là quan điểm đúng và sâu sắc
để phục vụ cho luận văn.
Trong cuốn Phan Ngọc (1998) Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong
Truyện Kiều, NXB Thanh Niên. Phan Ngọc đã nghiên cứu khá chi tiết và đưa
ra nhiều luận điểm mới về phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều. Trong
công trình đó, ở phần mở đầu, Phan Ngọc đã nhận xét khá cụ thể về các công
trình nghiên cứu nội dung của Truyện Kiều. Ông viết: “Các công trình ấy, nếu
xét về mặt sâu sắc, thú vị, thì nhiều khi hết sức sâu sắc và thú vị. Nhưng mặc
dầu đưa ra những kết luận khác nhau, tất cả đều giống nhau một điểm: hầu
như tất cả đều nghiên cứu một mình Truyện Kiều, rồi căn cứ vào nhận thức
của riêng mình mà khen hoặc chê, kết quả như Ngô Đức Kế nói “kẻ khen
người chê, kẻ yêu người ghét ồn ào”. Người thứ nhất bảo Kiều dâm, người
thứ hai bảo Kiều hiếu, người thứ ba bảo Kiều chạy theo định mệnh, người thứ
13
tư bảo Kiều có ý thức về định mệnh của mình… điều người này khẳng định thì
người khác phủ định” [50,tr.7]. Tác giả đưa ra câu hỏi mà thực ra đó là câu
trả lời: “Trong tình trạng chống đối nhau gay gắt như vậy, làm sao có thể rút
ra được những nhận định thực sự khách quan mà mọi người có thể chấp
nhận?” [50,tr.8]. Tác giả đặt ra một hướng để giải quyết vấn đề trên là xây
dựng một lí luận phong cách học khách quan. Như vậy đây cũng là công trình
nghiên cứu sâu về vấn đề tiếp nhận Truyện Kiều chủ yếu dựa trên quan điểm
đạo đức phong kiến để đánh tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du. Cuốn
sách này cũng rất hữu ích cho chúng tôi khi làm tài liệu phục vụ cho Luận văn
về vấn đề nghiên cứu các quan điểm của nhà nho khi đánh giá Truyện Kiều.
Để thực hiện công trình 200 năm nghiên cứu bàn luận Truyện Kiều, Lê
Xuân Lít đã dày công sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu 208 bài nghiên cứu bàn
luận Truyện hKiều. Đó là bộ sách tham khảo lớn, có giá trị khoa học và thực
tiễn cao, được trình bày in ấn rất đẹp mà theo như Nhà xuất bản thì cuốn sách
thuộc loại “tham khảo đặc biệt” [38,tr.7]. Chúng tôi tán thành với lời mở đầu
Nam dưới góc nhìn văn hóa cũng đóng góp một hướng tiếp cận mới theo quan
điểm nhân học văn hóa, khảo sát các yếu tố con người thông qua hai khái
niệm cơ bản là Thân và Tâm. Nhà nghiên cứu đã dựng lại bức tranh về Truyện
Kiều trong con mắt các nhà nghiên cứu như: Tiên Phong Mộng Liên Đường
chủ nhân, Phạm Quý Thích, Trần Đình Hượu, Trần Ngọc Vương…Tác giả
Trần Nho Thìn cho rằng để thấy được cái mới mang tính thời đại của Truyện
Kiều, cần thiết có cái nhìn so sánh – lịch sử về quá trình hình thành thế ứng
xử với Thân và Tâm đã từng chi phối văn học Việt Nam các thế kỷ trước.
Như vậy có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về Truyện Kiều và tác
giả Lưu Trọng Lư nhưng khi bàn về lịch sử tiếp nhận Truyện Kiều của tác giả
thì hiện tại chưa có bài nghiên cứu nào bàn đến, vì vậy với bài luận văn này
15
chúng tôi mong muốn góp một phần nhỏ vào công việc nghiên cứu tác giả
qua bài tiếp nhận Truyện Kiều.
Ở trên, chúng tôi vừa điểm qua một số công trình mang tính tập hợp những
tư liệu với các qui mô lớn, nhỏ, khác nhau. Tuy các công trình đó không trực
diện phân tích hay đặt trọng tâm nghiên cứu về vấn đề mà luận văn này đặt ra.
Nhưng đó là nguồn tư liệu gợi mở, quí báu, hữu ích để chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài Vấn đề tiếp nhận Truyện Kiều của một nhà Thơ mới: Lưu
Trọng Lư và bài “ Chiêu tuyết cho Vương Thúy Kiều”.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài của luận văn là Vấn đề tiếp nhận Truyện Kiều của một nhà Thơ
mới: Lưu Trọng Lư và bài “Chiêu tuyết cho Vương Thúy Kiều” do đó
chúng tôi chỉ tiến hành quan sát bài viết của Lưu Trọng Lư và các quan điểm
mĩ học của các nhà Thơ mới, để từ đó so sánh với các quan điểm tiếp nhận
Truyện Kiều của các nhà Nho và cuối cùng chỉ ra cách đọc tác phẩm và tiếp
cận Truyện Kiều của các nhà Thơ mới.
Trong luận văn này phạm vi nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu bao gồm:
Truyện Kiều, ý kiến phê bình Truyện Kiều của Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc
khẳng định những đóng góp quan trọng trong việc nghiên cứu và tiếp nhận
Truyện Kiều đầu thế kỉ XX.
5. Cấu trúc của luận văn
Chương 1: Bối cảnh văn hóa ra đời bài Chiêu tuyết cho Vương Thúy Kiều
Chương 2: Chiêu tuyết cho Vương Thúy Kiều – một cách tiếp nhận mới mẻ,
hiện đại đối với Truyện Kiều
Chương 3: Ý nghĩa nhiều mặt của bài viết Chiêu tuyết cho Vương Thúy Kiều
17
PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG I: BỐI CẢNH RA ĐỜI BÀI CHIÊU TUYẾT CHO
VƢƠNG THÚY KIỀU
1. 1. Bối cảnh văn hóa xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX
Ba mươi năm đầu thế kỷ XX là một giai đoạn đặc biệt không chỉ của
văn chương mà còn của xã hội Việt Nam nói chung. Trong văn học cuối thế
kỷ XIX đầu thế kỷ XX, lực lượng sáng tác văn học chủ yếu là các nhà Nho
xuất thân từ nền Hán học cửa Khổng, sân Trình với quan niệm văn học chịu
ảnh hưởng nặng nề của nền Hán học tồn tại dai dẳng: văn chương phải để
giáo hóa, có quan hệ đến thế đạo, nhân tâm, có tác dụng di dưỡng tính tình
nên phải có nội dung đạo lí. Năm 1909, cái chết của Nguyễn Khuyến đánh
dấu sự ra đi cuối cùng thuộc thế hệ những nhà Nho sáng tác văn chương thế
kỷ XIX. Tuy nhiên, vai trò của nhà Nho trong địa hạt văn hóa không vì thế
mà chấm hết, mà lại có sự giao thoa, đan xen giữa yếu tố cũ và mới, từ việc
sáng tác văn chương đến phê bình văn học đều chịu ảnh hưởng bởi nhân tố xã
hội và văn hóa. Đây cũng là thời kỳ duy nhất tồn tại hai luồng tư tưởng trái
ngược nhau. Một là lực lượng các nhà nho sáng tác và nghiên cứu phê bình
theo quan điểm luân thường đạo lý của phong kiến. Họ vẫn sáng tác theo lối
văn chương thời phong kiến và bình luận văn học theo cách nhìn của một nhà
nho chính thống. Trái ngược với họ là lực lượng trí thức mới, họ sáng tác theo
phần cũng chững lại cũng là để chỗ cho sự suy ngẫm, tiếp thu, từ đó mà tìm
hướng nhào nặn, “kiến thiết” cho một nền văn hóa, văn học mới.
Một điều dễ nhận thấy là ở trong sáng tác cũng như lý luận phê bình
văn chương, yếu tố văn hóa và yếu tố con người là hai yếu tố được đặt lên
hàng đầu. Văn chương chú trọng hơn đến giá trị con người, đến sự ảnh hưởng
của văn học đến đời sống hơn là xét theo những khía cạnh giáo lý, đạo đức
19
như các thế kỷ trước. Chính nền giáo dục này đã làm cho xã hội Việt Nam
xuất hiện một lớp công chúng độc giả mới, một lớp người hoạt động văn học
mới với quan niệm nghệ thuật mới hướng đến giải phóng con người cá nhân,
và đòi quyền sống bình đẳng cho người phụ nữ là yêu cầu tiên quyết buộc
văn học phải đổi mới theo hướng hiện đại điều này trái ngược lại với văn học
nhà nho luôn tiêu diệt quyền sống bản năng của con người, đòi hỏi con người
phải sống theo quan điểm đạo đức phong kiến, thứ đạo đức khắc kỷ, nhất là
người phụ nữ. Thời kì này cũng là thời kì mà lớp công chúng thị dân xuất
hiện, trở thành một lực lượng tiếp nhận văn học mới khá đông đảo cũng có
những đòi hỏi và những nhu cầu thẩm mỹ mới. Sức ép để nảy sinh một nền
văn học mới bắt nguồn từ hai phía: khách quan và chủ quan, chủ thể và khách
thể. Vì thế, xây dựng một nền văn học mới vừa là một đòi hỏi của thời đại xã
hội, vừa là một đòi hỏi tự thân của chính văn học…Nhìn vào thực trạng văn
hóa, văn học nước nhà hồi đầu thế kỉ XX cho thấy, những yếu tố cần thiết cho
một cuộc cách mệnh văn chương đối với lớp trí thức cũ đã không thể diễn ra.
Ngọn cờ đổi mới văn chương phải nằm trong tay những thanh niên trí thức
mới Tây học. Sự đổi mới này cũng cần phải có thời gian, bởi chủ thể sáng tạo
mới chưa làm chủ được công cụ sáng tạo. Đó là vấn đề vừa xây dựng vừa làm
chủ văn tự mới và tư duy sáng tạo mới. Cần có thời gian khắc phục sự “đứt
gãy” về văn hóa, tư duy văn học ở giai đoạn này. Vai trò chuyển tiếp khắc
phục đứt gãy văn hóa và tư duy văn học mới đó đã thuộc về báo chí hồi đầu
thế kỉ XX.
ngôn ngữ văn học ở hai địa bàn khác nhau, ở xu thế thắng lợi của nền văn
học mới đang tiến tới thay thế nền văn học cũ đang suy yếu dần. Ở giai đoạn
giao thời này, nền văn học cũ tuy đã ở trên đà suy tàn nhưng vẫn còn giữ một
vị trí đáng kể, vẫn còn một tác dụng tích cực nhất định trong sự phát triển của
21
văn học dân tộc” [15, tr.29]. Như vậy, giao thời là một thời kì phức tạp trong
lịch sử văn học, có diễn ra cuộc đấu tranh giằng co quyết liệt giữa cái cũ và
cái mới trên mọi phương diện của văn học. Văn học ở thời điểm này vừa
trong tư thế chuyển mình để phá vỡ mô hình văn học cũ, vừa tập hợp các yếu
tố mới để thử nghiệm nhằm thiết lập một cấu trúc mới theo mô hình văn học
hiện đại của phương Tây. Một thời kì đầy thách thức đối với văn học, mà sứ
mệnh lịch sử chỉ cho phép tiến chứ không thể được lùi. Nói đến tính giao thời
trong văn học ở giai đoạn này là đề cập đến các hiện tượng đan cài, pha tạp,
chuyển hóa trong văn học, biểu hiện dưới nhiều hình thức, với nhiều mức độ
khác nhau, tất cả góp phần làm nên một diện mạo đặc biệt cho văn học, không
thể tìm thấy ở các giai đoạn trước và sau đó.
Nguyễn Đình Chú cũng đã viết: “Lịch sử văn học, xét cho cùng là lịch
sử cách tân văn học” [7,tr.15]. Và, theo quan niệm của ông thì có hai mức độ
cách tân: Cách tân trong nội bộ một phạm trù văn học và cách tân có ý nghĩa
chuyển từ phạm trù văn học này sang phạm trù văn học khác. Sự thay đổi
phạm trù văn học là sự cách tân có tính chất đồng bộ, toàn diện về lực lượng
sáng tác, về công chúng văn học, về phương diện văn học, về phương thức
tồn tại của văn học, về quan niệm nghệ thuật, về đề tài, về ngôn ngữ, về thể
loại, thể tài cùng với hệ thống thi pháp. Như vậy giai đoạn giao thời cần có
thời gian để đổi mới và khắc phục đứt gãy về quan điểm văn học.
Trong văn học giai đoạn 1900 - 1930, tính giao thời được thể hiện ở sự
tồn tại hai lực lượng sáng tác (nhà nho và trí thức Tây học), hai phương pháp
thể hiện, hai quan niệm sáng tác (đạo đức phong kiến và chủ nghĩa nhân bản),
hai loại công chúng.Trong lịch sử văn học Việt Nam, đây là giai đoạn duy
thay đáng kể trong việc tiếp nhận so với trước đó. Một thực tế khác cũng diễn
ra vào buổi giao thời, khi cái mới xuất hiện, dù đó là niềm khát khao, sự mong
đợi bấy lâu nhưng con người lại rất dè dặt, đôi khi còn phũ phàng với nó. Tố
23
Tâm của Hoàng Ngọc Phách ra đời, công khai bộc lộ cái tôi muốn sống cho
bản ngã, người đọc nhận ra sự đồng cảm, đồng điệu từ tác phẩm nhưng lại
không dám tỏ thái độ đồng tình với nó. Giấc mộng con của Tản Đà khi được
công bố trên văn đàn đã lập tức nhận ngay lời dè bĩu, phê phán nặng nề của
Phạm Quỳnh. Vì sao? Vì Tản Đà đã ngang nhiên sống với cái tôi, công khai
bày tỏ nỗi lòng, đem những điều thầm kín giãi bày cùng tất cả. Có thể nhận ra
đầu thế kỉ XX là “một quá trình chuyển từ phương thức tư duy và phân tích
văn học mang tính chất phương Đông sang phương thức tư duy và phân tích
văn học mang tính chất phương Tây và xu thế cái mới sẽ thắng cái cũ ở nửa
đầu thế kỷ XX” [45,tr.98]. Chính giai đoạn giao thời giữa cái mới và cái cũ
đan xen, pha tạp lẫn nhau ở nửa đầu thế kỷ XX là bối cảnh trực tiếp để Lưu
Trọng Lư – người giữ vai trò là nhà thơ tiên phong trong phong trào Thơ mới
đưa ra bài viết “Chiêu tuyết cho Vương Thúy Kiều ”.
1.2.1. Sự tiếp tục tồn tại của kiểu tác giả cũ
Sự có mặt của Nho giáo trong văn học Việt Nam là hiện tượng văn học
hiển nhiên vì trong xã hội trung đại Nho giáo ảnh hưởng trực tiếp tới văn học.
Nho giáo với tư cách là một học thuyết tức là một hệ thống các quan điểm về
thế giới, về xã hội, về con người và về lý tưởng… cho nên Nho giáo cũng có
một cách quan niệm văn học riêng – luôn đặt vấn đề đạo đức lên trên cái đẹp
không đánh đồng cái đẹp và đạo đức. Với quan niệm đó nên văn chương luôn
thể hiện chức năng xã hội cao cả, tổ chức, hoàn thiện con người, hoàn thiện
xã hội thậm chí văn chương phải chịu trách nhiệm trước tình hình tư tưởng
đạo đức xã hội. Văn chương phải nói đến cái hay cái đẹp nhưng là cái hay cái
đẹp theo tiêu chí của đạo đức phong kiến “tam cương ngũ thường” vì vậy
Truyện Kiều của Nguyễn Du, nếu xét theo tiêu chuẩn thẩm mỹ thì tác phẩm là