BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
==========
NGÔ THỊ LỆ CHI GIỚI HẠN CỦA SỰ DIỄN GIẢI VĂN BẢN
VĂN HỌC QUA LỊCH SỬ TIẾP NHẬN
SÁNG TÁC NGUYỄN HUY THIỆP
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số: 60 22 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS TRƢƠNG ĐĂNG DUNG
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng
được công bố trong bất kì luận văn nào khác.
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã
được chỉ rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn
Ngô Thị Lệ Chi
MỤC LỤC
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Thế kỉ XX được xem là thế kỉ của các lý thuyết Văn học. Trong thế
kỉ này, người ta chứng kiến sự ra đời, phát triển của nhiều lý thuyết Văn học
cũng như tầm quan trọng của nó đối với đời sống văn hóa, văn học, tinh thần
và tư tưởng của xã hội. Một trong những thành tựu quan trọng làm thay đổi
các quan điểm cũ về phương thức tồn tại của tác phẩm văn học đó là sự ra đời
của Mỹ học tiếp nhận (tiếp nhận văn học). Nếu lý luận văn học tiền hiện đại
chỉ chú ý tới tác giả và có những bước tiến quan trọng trong việc khám phá
văn bản văn học như là cấu trúc ngôn từ động thì tư duy lý luận văn học hậu
hiện đại lại có những khám phá mới hơn về đặc trưng bản thể của văn bản văn
học trong quan hệ với những yếu tố khác và với người tiếp nhận. Sự chuyển
đổi từ Mỹ học sáng tạo sang Mỹ học tiếp nhận được xem là bước ngoặt quan
trọng của tư duy lý luận văn học thế giới. Bởi “Mỹ học tiếp nhận nêu lên
những giá trị dễ đổi thay, trực tiếp gắn liền với cá nhân người đọc thông qua
quá trình cụ thể hóa văn bản Từ đây, lịch sử văn học không chỉ đơn giản là
con số cộng tác giả và tác phẩm mà còn được hiểu là tác phẩm và người tiếp
nhận trong những biến chuyển lịch sử của nó” [16, 167].
Từ sau năm 1975, văn học Việt Nam có những chuyển biến mạnh mẽ
và sâu sắc trên nhiều phương diện, đặc biệt ở phương diện văn xuôi nghệ
thuật, nổi bật là mảng truyện ngắn và tiểu thuyết. Cùng với đó, sự đổi mới
trong quan niệm về hiện thực, về nhà văn và nghề viết, quan niệm nghệ thuật
về con người của lực lượng cầm bút với những nỗ lực cách tân mạnh mẽ đã
đem lại diện mạo mới mẻ cho văn học. Văn xuôi Việt Nam, đặc biệt từ 1986
được xem như một sự chuyển dòng mới mẻ và ngoạn mục trong tiến trình văn
học dân tộc, đã không ngừng tìm tòi, học hỏi và tự khám phá cho mình những
lối đi táo bạo, bất ngờ. Trong một khoảng thời gian không dài, văn học Việt
2
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1. Tình hình nghiên cứu lí thuyết tiếp nhận
Những năm đầu thế kỉ XX, trên thế giới (đặc biệt ở Phương Tây) đã có
nhiều nhà lý luận nghiên cứu về lý thuyết tiếp nhận. Dựa trên những kết quả
nghiên cứu tác phẩm văn học theo hiện tượng học của Husserl, Roman
Ingarden (người Ba lan) đã cho ra đời công trình “Tác phẩm văn học”. Đây
được coi là một thành công về khía cạnh lý luận vì nó đã lý giải được quá
trình đọc là quá trình như thế nào. Theo ông “đọc là quá trình cụ thể hóa văn
bản ”. Ông đã tìm ra những khả năng khác nhau để lĩnh hội và lý giải giá trị
tác phẩm văn học. Roman Ingarden nhấn mạnh: “Tác phẩm văn học không
đồng nhất với mọi sự đọc và trong phê bình văn học, những ý kiến khác nhau
không liên quan đến bản thân tác phẩm mà chỉ liên quan đến sự cụ thể hóa
của từng nhà phê bình”. [ 11, 43].
Ở Đức, những triết gia đi theo trường phái hiện tượng luận, bắt đầu từ
Heiderger đến Gadame đã phát triển tinh thần hiện tượng học trong triết học,
đặc biệt trong nhìn nhận các vấn đề của lý thuyết văn học. Tác giả Gadame đã
đặt ra những vấn đề hoàn toàn mới mẻ cho Lý luận văn học. Ông đã đặt ra
những câu hỏi “Nghĩa của văn bản thể hiện qua cái gì? Vai trò của sự chủ ý
của nhà văn trong nghĩa này là gì? Có thể hiểu được những tác phẩm mà về
mặt lịch sử và văn hóa là xa lạ đối với người đọc? Có thể có sự hiểu “ khách
quan” hay mọi sự hiểu đều lệ thuộc vào tình thế lịch sử cụ thể? ”[15,15 ].
Khám phá sự vận động của cấu trúc ngôn từ động của văn bản nghệ thuật,
H.G.Gadame đã đặt tiền đề quan trọng để Lý luận văn học tiến xa thêm một
bước, thấy được văn bản nghệ thuật còn có những khả năng mới trong quan
hệ với những yếu tố khác, với người tiếp nhận.
Theo dẫn luận của nhà nghiên cứu Trương Đăng Dung thì nhà lí luận
người Pháp Paul Ricoeur trong công trình Văn bản là gì (được Trương Đăng
4
5
văn học. Ông cho rằng khi văn bản được tung ra xã hội như một tác phẩm thì
nó cắt đứt với tác giả, số phận của nó phụ thuộc vào người đọc. Nhưng người
đọc vẫn hiểu được điều mà tác phẩm muốn nói. Như vậy, đã có một người
đọc tiềm ẩn, vô hình.
Còn Roland Barthes (Pháp) nói: Khi văn bản là sách bán ra xã hội thì
khi đó tác giả chết. Tuy nhiên, lý thuyết này ngày càng được điều chỉnh, tác
giả không chết hẳn mà vẫn thể hiện qua câu chữ, giọng điệu, không hiển hiện
bằng con người thật nhưng trong văn bản vẫn có hơi thở của từng tác giả.
Về sau, Derrida cũng cho rằng: “văn bản văn học không khép kín,
nghĩa của nó không bị trói buộc, bằng sự giúp đỡ của tác giả hay là sự liên
quan với hiện thực, văn bản văn học luôn mở, nó cần được bổ sung và tạo khả
năng bổ sung” [13, 7 ].
Như vậy, từ Mỹ học sáng tạo đến Mỹ học tiếp nhận là quá trình dần bác
bỏ tính chất khép kín của văn bản văn học. Thay vào đó là tính chất mở, dấu
ấn cá nhân và vai trò của người diễn giải, tiếp nhận. Ý nghĩa của văn bản văn
học nhờ đó ngày càng phong phú, đa dạng thêm. Có lẽ còn rất nhiều những
công trình khác của nhiều nhà nghiên cứu khác trên thế giới về lí thuyết tiếp
nhận nhưng trong phạm vi giới hạn của đề tài chúng tôi không thể trình bày
hết ở đây.
Cùng với xu hướng chung của thế giới, vào những năm 70 của thế kỉ
XX, nghiên cứu lý luận ở Việt Nam cũng bắt đầu có những quan tâm nhất
định đến tiếp nhận văn học. Rải rác trên các báo, tạp chí đã xuất hiện những
bài nghiên cứu về tiếp nhận văn học của tác giả Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh
Phan Anh Trong tập tiểu luận phê bình “Đi tìm tác phẩm văn chương”,
Huỳnh Phan Anh đã đưa ra những quan điểm nhấn mạnh đến vai trò của
người tiếp nhận: “Người đọc không chỉ là kẻ thưởng ngoạn, không chỉ làm
Nhìn chung từ thập niên 90 của thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu, các
giáo sư, giảng viên đã chú ý quan tâm đến lý thuyết tiếp nhận trong nghiên
7
cứu và giảng dạy. Minh chứng là vấn đề này đã xuất hiện trong giáo trình văn
học. Các giáo sư, nhà nghiên cứu Phương Lựu, Trần Đình Sử, Nguyễn Văn
Hạnh, Huỳnh Như Phương đều có những bài viết về tiếp nhận văn học.
Năm 1998, trong công trình viết chung với Nguyễn Văn Hạnh, nhà nghiên
cứu Huỳnh Như Phương đã nhấn mạnh đến lập trường và sự lý giải của người
đọc. Đó là “khi nhà văn kết thúc trang viết cuối cùng của tác phẩm thì lúc đó
tác phẩm mới bắt đầu vòng đời của nó, như đứa con đã được cắt rốn khỏi
lòng mẹ. Nói cách khác, quá trình hoạt động của tác phẩm không phải là một
chu trình đóng kín mà nó mở về phía đời sống. Và đến với những tác phẩm
lớn thì cuộc đời của nó luôn ẩn chứa những khả năng mới sẽ bộc lộ khi nó
viễn du qua không gian và thời gian”. [22, 136].
Riêng nhà nghiên cứu Trần Đình Sử đã có nhiều công trình nghiên cứu
về vấn đề tiếp nhận như: Mấy vấn đề tiếp nhận văn học, Lý luận tiếp nhận và
phê bình văn học, Ngôn ngữ với việc lĩnh hội tác phẩm thơ đã lý giải những
vấn đề cơ bản nhất của lý thuyết tiếp nhận.
Năm 1997, nhà nghiên cứu Phương Lựu viết cuốn “Giáo trình tiếp nhận
văn học”. Trong công trình này, ông đã chỉ ra cả ưu và nhược điểm của Mỹ
học tiếp nhận thế kỷ XX, từ đó hoạt động văn học được ông xem xét trên hai
bình diện vĩ mô và vi mô. Lý thuyết tiếp nhận còn được ông giới thiệu trong
một số công trình khác như giáo trình Lý luận văn học, Lý luận phê bình Văn
học phương Tây thế kỉ XX, Mười trường phái phê bình Văn học phương Tây.
Tuy nhiên theo nhà nghiên cứu Trịnh Bá Đĩnh thì “người có thành tích
nhất trong việc giới thiệu lý thuyết này ở nước ta là Trương Đăng Dung”.
Vấn đề về lý thuyết tiếp nhận được PGS. TS Trương Đăng Dung nghiên cứu
phẩm văn học như là hình thức đọc đặc trưng. Trên cơ sở đó chúng ta có thể
nhìn nhận tác phẩm như là quá trình, quá trình tạo nghĩa mang tính chất
quan hệ của văn bản văn học” [09]. Đây cũng là một trong những vấn đề
quan trọng của Lý luận văn học hiện đại và hậu hiện đại. Việc tiếp cận bản
9
chất của tác phẩm văn học từ đặc trưng của văn bản và sự tạo nghĩa thông qua
người đọc đã cho thấy tác phẩm văn học không tĩnh mà luôn động, không
phải sản phẩm cố định mà là quá trình. Đây là điều quan trọng trong nghiên
cứu tác phẩm văn học. Hơn nữa, trong các công trình có bàn tới lý thuyết tiếp
nhận của tác giả Trương Đăng Dung còn có một điểm thống nhất là: đặt đối
tượng nghiên cứu trong tiến trình vận động có quy luật của tư duy lý luận văn
học và sự vận động của tư duy lý luận văn học lại được soi sáng, lý giải trên
nền tảng sự vận động của tư duy triết học và Mỹ học nhân loại thế kỷ XX.
Tất cả các công trình, bài nghiên cứu trên đây về lý thuyết tiếp nhận rất
đáng trân trọng và sẽ là những định hướng quý báu giúp chúng tôi trong quá
trình triển khai và hoàn thiện đề tài của mình.
2.2. Tình hình nghiên cứu tác phẩm Nguyễn Huy Thiệp
Hiện tượng Nguyễn Huy Thiệp ngay từ khi mới xuất hiện đã gây ra
những tương phản dữ dội trong dư luận và hiện nay những tranh luận gay gắt
ấy vẫn chưa có dấu hiệu dừng lại. Số lượng các bài viết về tác phẩm của
Nguyễn Huy Thiệp rất lớn, những ý kiến đánh giá xung quanh những bài viết
ấy cũng nhiều. Sự đánh giá đa dạng ấy vô hình chung đã thừa nhận Nguyễn
Huy Thiệp là một hiện tượng văn học phức tạp và tác phẩm của ông luôn có
độ mở. Thụy Khuê trong bài viết “Sử quan trong văn Nguyễn Huy Thiệp” đã
nói “sự xuất hiện của Nguyễn Huy Thiệp gây những tương phản dữ dội trong
dư luận. Tại sao? Rất có thể vì cho đến bây giờ, người ta chưa quen với một
phong cách văn chương đa diện, đa âm như thế. Trên con đường một chiều,
nhận mới của người đọc khi họ đem chúng ra để xem xét truyện ngắn này.
Đọc Tƣớng về hƣu mà người đọc tự tạo ra một khoảng cách để nhìn nhận
vấn đề trước lối viết thản nhiên và trung hòa của nó, ấy là cách đọc mới.
Ngược lại, bạn đọc đọc Tƣớng về hƣu theo trật tự tuyến tính, tìm xem nhân
vật nào là chính diện, nhân vật ấy trừng trị cái ác như thế nào? Và tiếng nói
của nhân vật đó chính là tư tưởng của tác phẩm, ấy là cách đọc cũ. GS Đặng
11
Anh Đào cho rằng với Tướng về hưu “không thể đọc trên một dòng chữ, một
đoạn mạch, mà là ở sự khái quát của người đọc” [34]. Ý kiến của bà đã đề
cập đến một vấn đề quan trọng của lý thuyết tiếp nhận, đó là: yếu tố “văn
bản” và “cách đọc” đã đem đến cho người tiếp nhận những kết quả khác nhau
khi cùng tiếp cận một tác phẩm.
Tác giả Thái Hòa trong bài viết “Có nghệ thuật Ba-rốc trong truyện
ngắn Nguyễn Huy Thiệp hay không” cũng đã bày quan điểm của mình về vấn
đề tiếp nhận của người đọc, nhưng ông đề cập đến phương diện nhân vật
trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp. Tác giả Thái Hòa cho rằng “nhân vật
của Nguyễn Huy Thiệp mang sức tải của một quan niệm sống, quan niệm xử
thế với người đời Những quan niệm khác nhau va chạm, xung đột, bùng nổ
Và chính khi người đọc phản ứng mạnh mẽ với Nguyễn Huy Thiệp, tức cũng tự
trình bày một cách hiểu, một quan niệm về cuộc sống, về văn chương nghệ
thuật” [34]. Ý kiến của tác giả Thái Hòa cho thấy các quan điểm khác nhau khi
đánh giá về nhân vật nói riêng và tác phẩm văn học nói chung, thể hiện tinh
thần dân chủ trong tiếp nhận và sự phong phú trong cảm thụ văn học.
Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân trong bài viết “Đọc văn phải khác với
đọc sử” [34] cũng cho bạn đọc thấy một vấn đề quan trọng khi tiếp cận tác
phẩm văn học, ấy là “cách đọc”. Văn chương được quyền hư cấu nên nó khác
xa với các công trình sử học. Ngoài ra, ông còn đề cập đến yếu tố văn bản, đó
của “người đọc”, là những vấn đề quan trọng của lý thuyết tiếp nhận.
Ngoài ra, cũng có một số luận văn động chạm, đề cập đến tác phẩm của
Nguyễn Huy Thiệp như luận văn thạc sĩ Nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn
Huy thiệp của tác giả Nguyễn Thị Lan, ĐHSP Hà Nội 2, luận văn thạc sĩ
Vấn đề tiếp nhận truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp của tác giả Trần Thị
Diễm Hằng, ĐHSP Hà Nội 2.
Tất cả những bài viết, luận văn, các công trình nghiên cứu trên đã có
những đóng góp nhất định trong việc tìm hiểu cũng như khẳng định vị trí của
13
Nguyễn Huy đối với văn học Việt Nam. Tuy nhiên cho đến nay chưa có bài viết
hay luận văn nào đi sâu vào tìm hiểu quá trình tiếp nhận và những giới hạn trong
tiếp nhận sáng tác của nhà văn này một cách cụ thể và hệ thống. Bởi lẽ đó, với
đề tài “Giới hạn của sự diễn giải văn bản văn học qua lịch sử tiếp nhận sáng
tác Nguyễn Huy Thiệp”, chúng tôi sẽ tập trung làm sáng rõ vấn đề này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi giới thiệu sự xuất hiện của Nguyễn Huy
Thiệp như một hiện tượng mới và lạ. Đồng thời khảo sát các ý kiến đánh giá
của các nhà nghiên cứu, phê bình về sáng tác của cây bút này, từ đó thấy được
các cách tiếp nhận khác nhau về tác phẩm của ông.
Qua đề tài “Giới hạn của sự diễn giải văn bản văn học qua lịch sử
tiếp nhận sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp”, chúng tôi sẽ lí giải những
nguyên nhân cụ thể tại sao xung quanh sáng tác của nhà văn này lại có nhiều
ý kiến khen chê, trái chiều gay gắt như vậy. Từ đó giúp bạn đọc có cái nhìn
khách quan về hiện tượng Nguyễn Huy Thiệp.
Đồng thời, đề tài này cùng với các công trình, bài viết, nghiên cứu
trước đó góp phần khẳng định lại những đóng góp quan trọng của Nguyễn
Huy Thiệp vào quá trình đổi mới Văn học Việt Nam.
nhận và những nguyên nhân dẫn đến giới hạn của sự diễn giải văn bản văn
học ấy. Từ đó có cơ sở để nhìn nhận một cách khách quan, toàn diện về một
tác giả đang được đánh giá là có những đóng góp quan trọng với văn học Việt
Nam đương đại.
Cùng quá trình nghiên cứu, luận văn cũng muốn khẳng định: lịch sử
văn học không đơn giản là con số cộng của các tác giả và tác phẩm mà còn
được hiểu là các tác phẩm với người tiếp nhận trong những chuyển biến lịch
sử của nó. Tác phẩm văn học không phải là sản phẩm cố định mà là quá trình
tạo nghĩa không ngừng thông qua người đọc. Bởi lẽ đó, luận văn này một phần
có tác dụng định hướng cho người đọc cách tiếp nhận đúng đắn một tác phẩm
văn học để thực sự thưởng thức được những giá trị đích thực, tích cực của nó.
15
CHƢƠNG 1
TƢ DUY CỦA LÍ LUẬN VĂN HỌC HIỆN ĐẠI VỀ
BẢN CHẤT CỦA VĂN BẢN VĂN HỌC
Trong tư duy của Lí luận văn học truyền thống, bản chất của văn bản
văn học được xem xét trong hai mối liên hệ chủ yếu: thứ nhất là mối liên hệ
giữa văn bản và hiện thực, thứ hai là mối liên hệ giữa văn bản và tác giả.
Trước hết, mối liên hệ giữa văn bản và hiện thực đã có nền móng từ thuyết
mô phỏng của Socrate (469 – 399 TCN), coi con người là trung tâm của mọi
sự chú ý. Đến Aistote, khi bàn về nghệ thuật, ông xem nó là sự bắt chước, mô
phỏng, phản ánh hiện thực. Như thế việc sáng tạo ra tác phẩm chỉ là sự mô
phỏng lại dạng thái và quá trình của sự vật, là sự cụ thể hóa những quy tắc có
trước. Chính điều này đã hình thành một truyền thống văn học với những tác
phẩm được gọi là cổ điển, mẫu mực nhưng đồng thời cũng làm hạn chế sự
sáng tạo của tác giả và vai trò đồng sáng tạo của người đọc. Từ nguyên tắc bắt
tác phẩm văn học, chính sự thay đổi này đặt ra yêu cầu mới liên quan đến các
phương pháp chiếm lĩnh tác phẩm văn học, tạo nên sự cần thiết phải đổi mới
tư duy Lí luận văn học. Sự đổi mới ấy trước hết từ thành tựu Lí luận của các
nước phương Tây và từng bước được vận dụng, giới thiệu vào hệ thống Lí
luận văn học Việt Nam.
1.1. Về bản chất của ngôn ngữ
Lí luận văn học tiền hiện đại quá coi trọng yếu tố tác giả, coi trọng
khám phá ý đồ sáng tạo của tác giả. Vì vậy trong quan điểm truyền thống, tác
phẩm được đồng nhất với thế giới tư tưởng của nhà văn, bị chi phối bởi hệ tư
tưởng của nhà văn. Việc đọc tác phẩm trong quan niệm truyền thống gắn bó
mật thiết với những ý tưởng của người sáng tác. Bước sang thế kỉ XX, nhiều
thành tựu lớn của Lí luận văn học ra đời. Thành tựu của khoa học xã hội nhân
17
văn cũng cho thấy không thể tin cậy tuyệt đối vào năng lực phán đoán chủ
quan của con người trước các đối tượng. Tư duy lí luận văn học hậu hiện đại
lại có những khám phá mới hơn về đặc trưng bản thể của văn bản văn học
trong mối quan hệ với các yếu tố khác và trong mối quan hệ với người tiếp
nhận. Chính điều này chứng tỏ những quan niệm truyền thống về tác phẩm
văn học trong Lí luận văn học đã không còn phù hợp nữa. Một số lĩnh vực
khoa học xã hội như: Ngôn ngữ học, Cấu trúc luận, Hiện tượng luận, Kí hiệu
học, Lí thuyết thông tin, Tường giải học, Tâm lí học…đã có những thành tựu
nhất định làm cơ sở tiền đề cho những kiến giải mới của nhiều trường phái Lí
luận ở thời kì hiện đại xuất hiện. Bởi thế có thể nói thế kỉ XX đánh dấu một
bước chuyển mới của Lí luận văn học.
Từ đầu thế kỉ XX, vấn đề tác phẩm được đặt ra dưới luồng ánh sáng
mới. Không thể không nhắc đến vai trò của Fedinand de Saussure (1857 –
1913) với sự ra đời của lí thuyết ngôn ngữ học hiện đại. Đây được coi là sự
văn học thì bước đầu tiên quan trọng nhất là việc phát hiện ra vai trò của văn
bản. Khoa học văn học hiện đại đã tách tác phẩm văn học ra khỏi tác giả và loại
bỏ những gì liên quan đến mối quan hệ nhân quả trong tư duy Lí luận văn học
tiền hiện đại. Chỉ còn lại tác phẩm văn học như là hình thức ngôn ngữ đặc trưng,
là hiện tượng ngôn ngữ. Nghiên cứu tác phẩm văn học giờ đây không phải chỉ
theo lối suy diễn, thông qua các hiện tượng ngoài văn học mà xem nhẹ các đặc
trưng nghệ thuật của tác phẩm. Có thể nói “ngôn ngữ học và triết học ngôn ngữ”
thời hiện đại cũng đã xác lập những quan điểm nghiên cứu văn học. Nhiều nhà
hình thức chủ nghĩa đã thâm nhập sâu vào bản thể văn học qua những yếu tố
hình thức cấu thành nên tác phẩm như: chất liệu, thủ pháp, hình thức…của văn
bản văn học. Nhiều tên tuổi cũng như nhiều trường phái Lí luận văn học dựa vào
tính ngôn ngữ để đề cao tính kí hiệu, phủ nhận tính phản ánh, khẳng định không
gian ngôn ngữ và quyền tự trị ngữ nghĩa của văn bản văn học. Việc xem tác
phẩm như một đối tượng độc lập, tập trung khám phá những quy luật bên trong
19
vào ngôn ngữ, vào cấu trúc, thủ pháp để tìm ra ý nghĩa tác phẩm. Nhưng ở mỗi
tác giả, mỗi trường phái lại có những cách lí giải riêng của mình.
1. Edmund Husserl, người sáng lập triết học hiện tượng học, chỉ nhìn
thấy vai trò thứ yếu của ngôn ngữ trong hoạt động nắm bắt một hiện tượng
nhất định nào đó của con người. Theo ông hoạt động nắm bắt một hiện tượng
nào đó được thực hiện độc lập với ngôn ngữ. Ngôn ngữ chỉ là hoạt động thứ
hai, nó đặt tên cho cái mà bằng cách nào đó chủ thểđã tri giác được từ trước.
Ngôn ngữ, theo Husserl, như một thứ vỏ bọc dùng để giữ lại các nghĩa được
hình thành độc lập với nó. Nghĩa của tác phẩm văn học, do đó chỉ là cái mà
tác giả có chủ định từ đầu, nó thuộc về ý thức chủ quan hơn là về ngôn ngữ.
Theo quan điểm này, nghĩa của một tác phẩm văn học chỉ có một lần, nó đồng
nhất với cái “khách thể ý thức” mà trong khi viết nhà văn có ý hướng tới. Do
triết học, Heideggerđã nêu lên một số vấn đề quan trọng là “sự hòa trộn giữa
tồn tại và ngôn ngữ trong nhau”. Quan điểm này được một nhà tường giải triết
học lớn người Đức tên là Hans Georg Gadamar tiếp tục phát triển trong công
trình nghệ thuật nổi tiếng “Chân lí và phƣơng pháp”.
H.G.Gadamar đã có bước đi quan trọng trong việc tạo ra khái niệm
ngôn ngữ tường giải học và trong việc phê phán những quan điểm của các lí
thuyết ngôn ngữ học hiện đại. Trong công trình triết học - nghệ thuật “Chân lí
và phƣơng pháp” (1964) Gadamarđã dành trọn cả phần III có tựa đề “Bước
ngoặt bản thể của tường giải học” để nghiên cứu về ngôn ngữ với các tiểu mục:
1. Ngôn ngữ như là vùng kinh nghiệm tường giải học
2. Sự hình thành khái niệm ngôn ngữ trong lịch sử tư duy châu Âu
3. Ngôn ngữ như là chân trời bản thể tường giải học
H.G.Gadamar đã bác bỏ quan niệm công cụ về ngôn ngữ, ông viết:
“Người diễn giải không sử dụng lời nói và các khái niệm như người thợ thủ
công sử dụng các công cụ của mình”. Theo Gadamar, lời nói không phải là
sản phẩm của hình thức tâm linh nào đó, nó không phải những sở hữu của
21
năng lực nhận thức, lời nói là những cái bên ngoài, là tiên nghiệm. Gadamar
cho rằng không phải con người tìm ra, tạo ra lời nói mà là lời nói tìm thấy
chúng ta. Ngôn ngữ không phải là công cụ mà là một hiện tượng, một quá
trình vừa liên quan đến quá khứ vừa đi trước vào tương lai. Gadamar cũng
nhấn mạnh rằng ngôn ngữ không phải là công cụ để chúng ta thể hiện một cái
gì đó mà là nơi để chúng ta tồn tại. Mọi yếu tố kí hiệu và sử dụng kí hiệu
đềuđược nhìn nhận trong tinh thần đó. Nhờ lời nói chúng ta mới chuyển dịch
được vào thế giới, vào các tình huống của tồn tại. Nhờ ngôn ngữ mà con
người có thế giới của mình. Mối quan hệ giữa thế giới và ngôn ngữ là tương
hỗ, thế giới là thế giới nhờ ngôn ngữ, còn ngôn ngữ là ngôn ngữ nhờ thế giới