5 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 NGUYỄN THỊ VÂN ANH TÍNH SINH ĐỘNG CỦA SỰ MIÊU TẢ TRONG TRUYỆN NGẮN I. A. BUNIN
(SO SÁNH VỚI ĐẶC TÍNH TƯƠNG ỨNG TRONG TRUYỆN NGẮN
G. G. MÁRQUEZ) Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số: 60.22.32
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC HÀ NỘI, 2010
6 8
Tác giả luận văn xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Những kết
quả và số liệu trong luận văn là trung thực, chưa từng được công bố và không trùng với công
trình nghiên cứu của bất cứ ai. Nếu sai, tác giả xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, ngày tháng năm
Tác giả luận văn Nguyễn Thị Vân Anh
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
5
2. Mục đích nghiên cứu
12
25
Chương 2: Những dấu hiệu biểu hiện tính sinh động của sự miêu tả trong truyện ngắn I.
Bunin
34
2.1. Tính sinh động của sự miêu tả hình tượng nhân vật
34
2.2. Tính sinh động của sự miêu tả hình tượng thiên nhiên
63
2.3. Tính sinh động của hình tượng tác giả như là người kể chuyện toàn thông ngôi thứ ba
và nhân vật kể chuyện
77
11
Chương 3: Đặc sắc tính sinh động của sự miêu tả trong truyện ngắn I. Bunin (so sánh với
đặc tính tương ứng trong truyện ngắn G. Márquez)
91
3.1. Một thế giới nhân vật phong phú, đa dạng
92
3.2. I. Bunin - người nghệ sĩ với những “nét vẽ” tài hoa, phóng khoáng đầy mê hoặc về
thiên nhiên Nga
105
3.3. Độc đáo tính sinh động của sự miêu tả hình tượng tác giả qua nghệ thuật kể
tác phẩm.
Trên cơ sở đó, tác phẩm văn chương được xem xét một cách toàn
vẹn, và chính ở đây, nó hiện ra như là một sinh thể nghệ thuật để cho bạn đọc
chiêm ngưỡng vẻ đẹp và những giá trị độc đáo mà mỗi tác phẩm ưu tú có thể
mang lại.
1.2. Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, I. A. Bunin (1870 – 1953) là một
trong những đỉnh cao của nền văn chương Nga cuối thế kỉ XIX - đầu XX. Sự
vận dụng khái niệm tính sinh động vào nghiên cứu các sáng tác tiêu biểu của
một tác giả tầm cỡ như I. Bunin hẳn là cần thiết. Tìm hiểu truyện ngắn I.
Bunin từ việc phân tích những biểu hiện tính sinh động của sự miêu tả sẽ giúp
người nghiên cứu có cái nhìn sâu sắc hơn về tài năng sáng tạo của ông.
Những bình diện giá trị của tác phẩm được khám phá từ một cách tiếp cận
mới – tiếp cận toàn vẹn tác phẩm nhằm chỉ ra mặt chất lượng nghệ thuật tổng
hợp nhất của nó. Theo đây, một số yếu tố quan trọng của chỉnh thể văn
chương như hình tượng tác giả, tài năng và cá
tính
sáng tạo, phong cách nhà
văn cũng đồng thời được bộc lộ. Điều này, một mặt sẽ tạo thêm cơ sở vững
chắc giúp cho việc nhìn nhận, đánh giá vị trí và vai trò của I. Bunin đối với
nền văn học Nga nói riêng và nền văn học thế giới nói chung; một mặt khác,
qua đây, người nghiên cứu cũng góp thêm một tiếng nói vào việc củng cố, xác
định rõ hơn tính hữu hiệu của thuật ngữ tính sinh động trong nghiên cứu lí
luận văn học. Như thế, việc thực hiện đề tài này, theo chúng tôi, có những ý
nghĩa lí luận và thực tiễn quan trọng
1.3. Về phía người giáo viên dạy văn, việc nghiên cứu tính sinh động
của sự miêu tả trong tác phẩm văn học sẽ mang lại nhiều lợi ích cho tư duy
khoa học và công tác giảng dạy của họ. Từ sự phân tích cái toàn vẹn sinh
động của tác phẩm, tác giả luận văn có thêm cơ hội rèn luyện lối tư duy biện
14
Năm 1933, ông trở thành nhà văn Nga đầu tiên vinh dự được trao giải Nobel
văn chương.
Ở Nga và thế giới, việc đánh giá I. Bunin hẳn đã vướng phải những
giới hạn lịch sử nhất định. Đương thời, những sáng tác của ông chưa được
bạn đọc và giới nghiên cứu quan tâm, dành cho một vị trí thỏa đáng trong nền
văn học. Tuy nhiên, theo thời gian, nhận thức về tác phẩm của ông đã có
nhiều đổi khác. Giờ đây, công chúng yêu văn chương như bừng tỉnh trước cái
đẹp tiềm ẩn của một tâm hồn Nga tỏa rạng trong mỗi trước tác của ông. Vào
thập kỉ 60 của thế kỉ XX, người Nga đã xuất bản toàn tập tác phẩm của I.
Bunin (9 tập), và đó cũng chính là câu trả lời, đúng hơn, là một sự xác quyết
về tài năng và những đóng góp to lớn của I. Bunin đối với nền văn chương
Nga nói riêng và văn chương thế giới nói chung. Tác phẩm của ông đã dành
được sự mến mộ của rất nhiều người, đồng thời trở thành đối tượng nghiên
cứu của nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước.
Những năm bảy mươi của thế kỉ trước, L. Vưgôtxki cho xuất bản công
trình Tâm lí học nghệ thuật. Trong đây, ông đã lấy tên một truyện ngắn của I.
Bunin là Hơi thở nhẹ để đặt tên cho một chương (chương 7) của cuốn sách.
Nhà nghiên cứu đi sâu phân tích các phương diện nội dung, nghệ thuật của tác
phẩm và ông đã không tiếc lời ngợi ca truyện ngắn này. Ông cho Hơi thở nhẹ
“như một mẫu hình của cả truyện ngắn cổ điển lẫn truyện ngắn hiện đại, ở đây
mỗi đặc điểm phong cách cơ bản vốn có của ở thể loại này đều bộc lộ hết sức
rõ ràng. Xét về phẩm chất nghệ thuật, truyện ngắn này chắc hẳn thuộc số hay
nhất trong tất cả những gì được nghệ thuật văn chương tự sự tạo nên, và
không phải ngẫu nhiên mà những ai từng viết về nó đều nhất trí thừa nhận nó
là mẫu mực của truyện ngắn nghệ thuật” [83, tr.279].
Trong tác phẩm Một mình với mùa thu, nhà văn K. Pauxtôpxki đã cung
cấp một cái nhìn, một sự đánh giá quan trọng về văn nghiệp của I. Bunin nói
chung và truyện ngắn của ông nói riêng. Ở cuốn sách trên, tiểu luận Ivan
Bunin của Pauxtôpxki đã giới thiệu rất kĩ về thân thế, sự nghiệp văn chương
thuật thể hiện… Người ta cho rằng sau Tsêkhov, Bunin đã mang lại một sự
16
đổi mới cho thể loại truyện ngắn Nga, mỗi truyện ngắn của ông vừa là một
áng văn xuôi vừa là một bài thơ” [8, tr.7].
Năm 1996, tạp chí Văn học nước ngoài (số 1) đăng bốn truyện ngắn I.
Bunin (Thái Bá Tân dịch và giới thiệu). Dịch giả Thái Bá Tân nhận định: “Di
sản Bunin để lại không đồ sộ lắm nhưng được xem là sự đánh dấu một
chương mới trong lịch sử phát triển văn học Nga thế kỉ XX bởi sự sâu sắc,
tinh tế về cả nội dung lẫn hình thức nghệ thuật”.
Năm 1997, bài viết Những chuyển biến trong tư duy nghệ thuật trong
văn xuôi Nga cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX của Phạm Gia Lâm đăng trên tạp
chí Văn học số 11 đã có đoạn đề cập đến truyện ngắn của I. Bunin. Theo tác
giả, những truyện ngắn của Bunin thường chứa đựng một “tâm trạng u hoài,
xót xa được thể hiện dưới những hình thức gián tiếp, thầm kín, đầy biểu
cảm…” [50, tr.14].
Cuốn Lịch sử văn học Nga [69] tuy rất dày dặn (880 trang) nhưng cũng
chỉ có vỏn vẹn gần hai trang để giới thiệu toàn bộ tiểu sử và sự nghiệp sáng
tác của I. Bunin. Bên cạnh những nhận xét chung về các sáng tác thơ của
Bunin, tác giả Nguyễn Kim Đính đã đưa ra một số nhận định có tính chất khái
quát về truyện ngắn của Bunin, chẳng hạn: “Trong nhiều truyện giai đoạn đầu
như Cùng trời cuối đất, Trên đất lạ, Tanhica, Người thầy giáo…, ngòi bút của
Bunin với nỗi niềm ưu ái chân thành viết về số phận của những con người bé
nhỏ: những người nông dân nghèo khổ lang thang kiếm sống, người thầy giáo
nông thôn… Bước vào thế kỉ XX, do gần gũi Gorki và ảnh hưởng của phong
trào đấu tranh, âm điệu trong truyện của ông có phần nào mạnh mẽ, phấn
chấn hơn” [69, tr.483-484].
Nghiên cứu truyện ngắn I. Bunin, cần điểm tới các bài giới thiệu của
Phan Hồng Giang ở những tuyển tập truyện dịch. Tuy nhiên, những bài giới
thiệu này cũng chỉ mang tính chất tổng quan về cuộc đời và sự nghiệp sáng
khổng lồ. Ngoài ra, ở các công trình nghiên cứu khác, chẳng hạn như Truyện
ngắn: Lí luận tác gia và tác phẩm, tập 1 - 2, Lê Huy Bắc ít nhiều đề cập đến
văn học Mĩ Latinh và chủ nghĩa hiện thực huyền ảo. Trong đó, tác giả đưa ra
một số nhận xét chung về truyện ngắn của G. G. Márquez và dừng lại điểm
qua một vài truyện ngắn tiêu biểu của nhà văn này như sau: “G. G. Márquez
18
lừng danh với Trăm năm cô đơn nhưng truyện ngắn của ông cũng không kém
phần nổi tiếng… Chịu ảnh hưởng của các nhà hiện thực huyền ảo lớp trước và
như ông đã phát biểu là cũng chịu tác động bởi yếu tố huyền ảo phương Đông
(…), G. G. Márquez đã tạo nên một thế giới huyền ảo lung linh đa sắc màu.
Từ Đôi mắt chó xanh, Biển của thời đã mất, những cơn mưa máu, những rừng
xác chết dập dềnh trong đại dương đến ngón tay của thiếu nữ cứ nhỏ máu đêm
tân hôn… tất cả đã trở nên những ẩn dụ về xã hội, về thân phận của con
người” [5, tr.188].
Tóm lại, từ việc tìm hiểu các bài viết, công trình nghiên cứu có liên
quan đến hai nhà văn lớn I. A. Bunin và G. G. Márquez, chúng tôi thấy chưa
có công trình nào thực sự tiếp cận truyện ngắn của họ theo hướng tính nghệ
thuật và chỉ ra tính sinh động của sự miêu tả như là dấu hiệu tổng hợp và đặc
trưng của chất lượng nghệ thuật tác phẩm. Xuất phát từ những lí do vừa nêu,
chúng tôi lựa chọn đề tài Tính sinh động của sự miêu tả trong truyện ngắn
của I. A. Bunin (so sánh với đặc tính tương ứng trong truyện ngắn của G. G.
Márquez). Chúng tôi nhận thấy, đây là một đề tài nghiên cứu khá phức tạp.
Cái khó bắt nguồn từ nhiều phía, bao gồm cả khách quan lẫn chủ quan. Về
mặt khách quan, tính sinh động của sự miêu tả là vấn đề chủ yếu mới chỉ
được các nhà nghiên cứu Liên Xô quan tâm. Ở Việt Nam, chưa có nhiều nhà
khoa học tập trung theo hướng này. Những công trình tìm hiểu về truyện ngắn
Bunin còn khá thưa thớt… Về phía chủ quan, tác giả luận văn là người bước
đầu tập nghiên cứu khoa học nên khả năng nhận thức, xử lí vấn đề và kinh
nghiệm nghiên cứu còn nhiều hạn chế. Thực hiện đề tài này, chúng tôi mong
3.2. Khảo sát có hệ thống kèm theo những nhận xét cụ thể về các ý kiến
liên quan đến tính sinh động của sự miêu tả, đồng thời xác lập một quan niệm
đúng đắn về vấn đề này.
3.3. Tìm hiểu và xác lập một hệ thống những dấu hiệu cơ bản thể hiện
tính sinh động của tác phẩm văn chương, đặc biệt là của thể loại truyện ngắn
20
3.4. Khảo sát và phân tích kĩ một số truyện ngắn tiêu biểu của Bunin để
thấy được những biểu hiện tính sinh động trong các sáng tác của ông.
3.5. Khảo sát, phân tích và so sánh các truyện ngắn của Bunin với
truyện ngắn của Márquez nhằm chỉ ra những nét độc đáo ở mỗi ngòi bút, đặc
biệt là tính sinh động của sự miêu tả trong truyện ngắn Bunin.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Với đề tài đã chọn, đối tượng nghiên cứu trọng tâm của luận văn được
xác định là: những biểu hiện cụ thể tính sinh động của sự miêu tả nghệ thuật
trong truyện ngắn I. A. Bunin so sánh với đặc tính tương ứng trong truyện
ngắn G. G. Márquez.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
4.2.1. Những tài liệu và công trình nghiên cứu có liên quan đến tính
nghệ thuật, đặc biệt là tính sinh động của sự miêu tả nghệ thuật.
4.2.2. Những tài liệu và công trình nghiên cứu có liên quan đến loại tác
phẩm tự sự.
4.2.3. Những bài viết và công trình nghiên cứu về I. A. Bunin và G. G.
Márquez.
4.2.4. Những truyện ngắn tiêu biểu của I. A. Bunin và G. G. Márquez
được in trong các tuyển tập sau:
- I. Bunin - Nàng Lika (1988), Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội.
- Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel (1999), tập I, II,
Nxb Văn học.
Chương 1
THUẬT NGỮ TÍNH SINH ĐỘNG
TRONG NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN VĂN HỌC
1.1. Phương diện từ ngữ
Trong đời sống, ta vẫn thường bắt gặp nhiều câu nói sử dụng từ sinh
động, chẳng hạn như: một bức tranh sinh động, một bài văn sinh động hay
22
cách kể chuyện sinh động của một ai đó… Vậy, trong các trường hợp ấy, từ
sinh động được hiểu như thế nào?
Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng do Nguyễn Như Ý chủ biên, sinh
động tức là “gợi ra được hình ảnh cuộc sống như đang hiện ra trước mắt” [84,
tr.961]. Với ý nghĩa đó, một đối tượng được xem là sinh động khi nó có khả
năng mang đến sự cảm nhận giống như thật và sống động. Tính sinh động của
tác phẩm văn chương cũng bắt nguồn từ ý nghĩa vừa nêu của từ này. Có điều,
ở những câu nói thông thường thì “sinh động” chủ yếu được dùng để chỉ tính
chất của sự vật, hiện tượng còn khi gắn với tác phẩm văn chương thì nó được
hiểu là phẩm chất, nghiêng về biểu thị chất lượng nghệ thuật của tác phẩm.
Điều này, chúng tôi sẽ trình bày và thuyết minh cụ thể ở phần sau.
1.2. Sự xuất hiện của cụm từ “tính sinh động” trong lịch sử mĩ học và lí
luận văn học
1.2.1. Ở nước ngoài
Có thể thấy, ngay từ thời kì cổ đại, Aritxtôt đã coi tính sinh động như là
tiêu chuẩn quan trọng nhất để đánh giá chất lượng nghệ thuật tác phẩm thi ca.
Trong chương XXV của Nghệ thuật thi ca, khi bàn về nhiệm vụ và cách thức
mô phỏng của nhà thơ, ông cho rằng: “Nếu nhà thơ không biết rằng con hươu
cái không có sừng thì đó là (một sai lầm) không đáng kể bằng việc nhà thơ
không miêu tả nó một cách sinh động” [1, tr.120]. Rõ ràng, ở đây, Aritxtôt đã
nhấn mạnh đến vai trò quan trọng đặc biệt của việc miêu tả sinh động đối
tượng. Theo ông, đối với một nhà văn, sự không trung thành với hiện thực chỉ
đặc biệt chú ý đến hình thức nghệ thuật sinh động trong các kịch bản của nhà
văn vĩ đại này. Ăngghen nhận xét về vở Xichkinghen của Latxan và khuyên
nhà văn này nên làm cho động cơ hành động của các nhân vật “xuất hiện sinh
động hơn, tích cực hơn…” [55, tr.373]. Ông cũng khuyên nhà văn trẻ nên “sử
dụng thành phần bình dân hết sức đa dạng trong xã hội lúc bấy giờ, có lẽ sẽ
đem lại những chất liệu hoàn toàn mới để cho vở kịch sinh động” [55, tr.376].
24
Như thế, tính sinh động qua sự lí giải của Ăngghen được xem như là một dấu
hiệu quan trọng của hình thức nghệ thuật và chất lượng nghệ thuật của tác
phẩm.
Văn hào M. Gorki cũng là người rất quan tâm đến tính sinh động của
tác phẩm văn chương. Theo ông, cái nhìn của nghệ sĩ về đời sống mà nghèo
nàn thì không thể tạo ra một tác phẩm sinh động được. M. Gorki cho rằng:
“Chỉ riêng đặc trưng giai cấp thôi chưa đủ để tạo nên một con người sinh
động, hoàn chỉnh, một tính cách được hoàn thành qua nghệ thuật” [Dẫn theo
36, tr.20]. Ở đây, nhà văn muốn nhấn mạnh một điều là, dù tính sinh động
biểu hiện ở cấp độ toàn tác phẩm hay chỉ ở nhân vật thì cả hai trường hợp đó
đều cần đến một sự nhận thức đời sống trong tính phong phú nhiều mặt của
nghệ sĩ tài năng.
1.1.2. Ở trong nước
Tiếp nối ý kiến của Aritxtôt, Hêghen, Letxinh, Ăngghen…, ở Việt
Nam, Trường Chinh là người có những quan điểm khá rõ ràng về tính sinh
động. Trong bài Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam, ông khẳng định: chất
lượng nghệ thuật cao tuyệt đối xa lạ với những “quái thai của tưởng tượng”.
Nghệ thuật cao không chấp nhận sự “bế tắc, cầu kì, quanh co, lố bịch” mà là
phải “tả thực một cách sinh động”. Qua đây cho thấy, Trường Chinh xem tính
sinh động của tác phẩm như là cái có mối liên hệ bên trong với “tả thật” và nó
được hình thành trên cơ sở tính chất bao gồm “nhiều khía cạnh” của đời sống
được miêu tả.
trong mối quan hệ qua lại và trong sự phát triển tuần tự của sự kiện, xung đột,
tính cách.
Như vậy, cụm từ tính sinh động đã từng xuất hiện và được dùng khá
phổ biến trong nhận xét, đánh giá của các nhà nghiên cứu văn học cả trong và
ngoài nước. Dĩ nhiên, tần số xuất hiện của nó không chỉ dừng lại ở những dẫn
chứng nêu trên. Ở đây, luận văn của chúng tôi chỉ dẫn ra những ý kiến tiêu
26
biểu nhằm làm nổi bật nguồn gốc thuật ngữ này. Nhìn chung, cách hiểu của
các nhà nghiên cứu về từ sinh động tương đối thống nhất, dù rằng ở họ, từ này
có thể được dùng theo kinh nghiệm riêng của mỗi cá nhân. Trong số đó,
không ít người đã nhìn ra tầm quan trọng của sự miêu tả sinh động đối tượng
(Aritxtôt), miêu tả sinh động tính cách nhân vật (Hêghen) hay con người sống
động (Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Lương Ngọc), thấy được mối liên hệ của
tính sinh động của sự miêu tả với tư tưởng tác phẩm, với kinh nghiệm nghệ
thuật quá khứ và với các yếu tố hình thức thể hiện , đồng thời coi đó như là
một thước đo trình độ nghệ thuật cao của tác phẩm văn chương. Song, như đã
nói, việc sử dụng kết hợp từ tính sinh động trong nhận xét của các nhà nghiên
cứu đã dẫn, cơ bản vẫn mang tính chất kinh nghiệm cá nhân và chưa được đào
sâu phân tích từ nhiều phía. Bởi vậy, những biểu hiện cụ thể của tính sinh
động cùng với mối liên hệ của nó với các yếu tố khác chưa được làm sáng tỏ,
một cách có hệ thống.
1.3. Những quan niệm coi tính sinh động như là một yếu tố cấu trúc quan
trọng của tính nghệ thuật
1.3.1. Nghiên cứu tính nghệ thuật cùng với những yếu tố cấu trúc của
nó, trên thực tế, đã được ươm mầm từ rất sớm trong lịch sử nghiên cứu văn
học. Song, có lẽ phải đến giữa thế kỉ XIX trở đi nó mới có một gương mặt cụ
thể và được biết đến rộng rãi. Theo quan sát của chúng tôi, nước Nga chính là
mảnh đất tập trung những thành tựu nghiên cứu lớn nhất về lĩnh vực này.
Chính vì thế, luận văn chủ yếu sẽ trình bày và đánh giá về những công trình
thuật cụ thể những đặc tính chủ yếu của sự phản ánh cuộc sống bằng hình
tượng: tính cá thể hóa, tính khái quát hóa, khuynh hướng thẩm mĩ, mối liên hệ
của tác phẩm với cuộc sống của con người” [75, tr.223]. Việc Timôphêev mở
rộng quan niệm tính nghệ thuật bao quát tất cả các mặt chất lượng của tác
phẩm đã dẫn đến “những mâu thuẫn logic của hệ thống khái niệm như: khái
niệm tính tư tưởng mất chỗ đứng; các yếu tố cấu trúc của tính nghệ thuật vẫn
28
chưa vượt thoát được hàng rào tính hình tượng. Và, tính sinh động, do quan
niệm tính nghệ thuật đó chi phối, chưa phát triển được ra những gì khác hơn
là “tính cách – hoàn cảnh”, “khuynh hướng toát ra từ tình thế và hành động”
[36, tr.30].
Có thể nói, quan niệm về tính nghệ thuật và các yếu tố cấu trúc của nó,
phải đến N. K. Gei, mới thực sự có một bước tiến quan trọng. Trong công
trình Nghệ thuật ngôn từ, ông không đồng tình với những quan niệm còn lẫn
lộn tính nghệ thuật với các biểu hiện đặc trưng của nghệ thuật. Có phần giống
Timôphêev, Gei cũng coi tính nghệ thuật như là yếu tố biểu hiện chất lượng
nghệ thuật. Nhưng ông tiến xa hơn Timôphêev ở chỗ, ông không đi tìm chất
lượng nghệ thuật qua các dấu hiệu “tính trung thực của sự khái quát hóa” hay
“tính khuynh hướng thẩm mĩ” mà là ở tính tổ chức cao của tổ chức nghệ
thuật. N.K. Gei cho rằng: “Sự xem xét tác phẩm dưới dạng sinh mệnh toàn
vẹn có tiền đề là sự xem xét cấu trúc của nó không phải như những nguyên
tắc hình thức và nội dung, mà như những nguyên tắc thống nhất trong cơ sở
của mình” [36, tr.30]. Ở đây, cái mà Gei gọi là những nguyên tắc thống nhất
trong cơ sở chính là tổ chức nghệ thuật của tác phẩm. Và, theo ông, các
nguyên tắc tổ chức nghệ thuật ấy cũng chính là những yếu tố cơ bản của cấu
trúc tính nghệ thuật. Ông đưa ra ba nguyên tắc tổ chức tác phẩm như là ba
thước đo giá trị thẩm mĩ và sự hoàn thiện nghệ thuật đó là: tính tổ chức của tổ
chức; tính chất mô hình hóa nghệ thuật về đời sống của tổ chức; tính mục đích
thống nhất của tổ chức.
Cương, Nguyễn Xuân Nam và Phùng Minh Hiến.
Trước hết, chúng tôi xin nói đến quan niệm của Nam Mộc. Là đồng tác
giả của cuốn Văn học - cuộc sống - nhà văn, Nam Mộc tuy không trực tiếp
đưa ra quan niệm của mình về tính nghệ thuật nhưng vẫn có thể thấy cách
hiểu của ông thông qua những biểu hiện chất lượng của hình thức nghệ thuật
mà ông đưa ra. Trong công trình kể trên, khi nói về tính nhân dân, Nam Mộc