1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
=======***======= TRỊNH ĐỨC HẠNH TÍNH SINH ĐỘNG CỦA SỰ MIÊU TẢ
NHÂN VẬT NÔNG DÂN TRONG
TRUYỆN NGẮN NAM CAO LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
HÀ NỘI - 2012
TRỊNH ĐỨC HẠNH CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VĂN HỌC KHÓA: 2010-2012
2
tính nghệ thuật và do đó, các giá trị nổi bật trong những sáng tác của Nam
Cao sẽ được làm rõ như: hình tượng tác giả, tài năng và cá tính sáng tạo,
phong cách, quan điểm sáng tác được thể hiện khá rõ nét. Điều đó, một mặt sẽ
tạo thêm cơ sở vững chắc giúp cho việc nhìn nhận, đánh giá vị trí và vai trò
của Nam Cao trong nền văn học hiện thực phê phán nói riêng và trong nền
văn học nước nhà nói chung một cách xác đáng hơn; mặt khác, người nghiên
cứu muốn góp thêm một phần vào việc củng cố, xác định rõ hơn tính hữu hiệu
của thuật ngữ tính sinh động trong khoa học nghiên cứu văn học. Như vậy,
chúng tôi thấy rõ việc thực hiện đề tài này có một ý nghĩa lí luận quan trọng.
1.2. Ý nghĩa thực tiễn
Về phía người giáo viên dạy văn, việc nghiên cứu tính sinh động của sự
miêu tả nhân vật nông dân trong truyện ngắn Nam Cao sẽ mang lại nhiều tư
duy khoa học và công tác giảng dạy của họ. Từ sự phân tích cái toàn vẹn sinh
động của tác phẩm, chúng ta có cơ hội để bồi đắp và rèn luyện lối tư duy biện
chứng khi xem xét mối quan hệ giữa cái toàn thể và cái bộ phận trong nghiên
cứu khoa học, trong việc phân tích tác phẩm văn học ở bậc đại học, cao đẳng
hay trung học phổ thông… Hướng nghiên cứu này sẽ rất bổ ích cho người
giáo viên có thể khai thác sâu hơn, nhiều hơn các khía cạnh của tác phẩm về
bình diện nghệ thuật, qua đó nâng cao chất lượng bài giảng của mình và tạo
hứng thú học tập của học sinh, học sinh sẽ tích cực, chủ động, tư duy, sáng
tạo và yêu thích giờ văn.
1.3. Lịch sử vấn đề
1.3.1. Qua nghiên cứu, tổng hợp, chúng tôi thấy việc nghiên cứu tác
phẩm văn chương từ góc nhìn tính sinh động đã được một số nhà nghiên cứu
quan tâm. Một số người giới thuyết thuật ngữ này với tư cách một biểu hiện
quan trọng của tính nghệ thuật của tác phẩm văn chương. Một số khác lại tập
trung thuyết minh cấu trúc nội hàm của thuật ngữ tính sinh động. Tiêu biểu
5 ngắn Lão Hạc và Chí Phèo. Đây là hai tác phẩm tiêu biểu của Nam Cao viết
về người nông dân Việt Nam trước Cách mạng. Có thể thấy vị trí của Nam
Cao rất quan trọng trong nền văn học nước nhà. Tác phẩm của Nam Cao chan
chứa những ý tưởng nhân bản và thấm nhuần tư tưởng nhân đạo. Ông là nhà
văn đồng tình với khát vọng sống lương thiện, và khát vọng được phát huy
đến tận độ tài năng của con người. Tư tưởng nhân đạo mới mẻ, phong phú và
sâu sắc đó cho ta thấy nhà văn không chỉ dừng lại ở chỗ tố cáo những thế lực
tàn bạo chà đạp quyền sống của con người mà còn đòi hỏi xã hội tạo điều kiện
để con người sống một cuộc sống thực sự có ý nghĩa. Qua các sáng tác về đề
tài này, ông đã làm hiện lên sự mục ruỗng và thối nát của xã hội thực dân nửa
phong kiến- xã hội mà người nông dân không được làm chủ mình. Đó là
những nét chính trong sáng tác của Nam Cao, đặc biệt là các sáng tác về
người nông dân là những sáng tác có những đột phá mới về nghệ thuật, mà
việc nghiên cứu tập trung theo hướng tính nghệ thuật và tính sinh động chưa
được các nhà nghiên cứu quan tâm. Trong khi đó, theo chúng tôi thì tính sinh
động của sự miêu tả là dấu hiệu tổng hợp và đặc trưng nhất của chất lượng
nghệ thuật trong tác phẩm. Xuất phát từ những lí do nêu trên, chúng tôi lựa
chọn đề tài Tính sinh động của sự miêu tả nhân vật nông dân trong truyện
ngắn Nam Cao.
Thực tế cho thấy, đây là đề tài nghiên cứu khá phức tạp. Cái khó bắt
nguồn từ nhiều phía, bao gồm cả khách quan lẫn chủ quan. Mặt khách quan
biểu hiện ở chỗ, tính sinh động của sự miêu tả nghệ thuật gần như là vấn đề
chủ yếu mới được các nhà nghiên cứu Liên Xô quan tâm. Ở Việt Nam, chưa
có nhiều nhà khoa học thực sự đi theo hướng này. Những công trình nghiên
cứu về Nam Cao và tác phẩm của ông theo hướng này rất ít, chỉ có một số bài
viết của Phùng Minh Hiến [31, 32, 33, 34, 35]. Về phía chủ quan, với tư cách
3.3. Tìm hiểu và xác lập một cách hệ thống hơn những dấu hiệu cơ bản
thể hiện tính sinh động của tác phẩm văn chương.
7 3.4. Khảo sát và phân tích kĩ một số truyện ngắn của Nam Cao viết về
nhân vật nông dân trước Cách mạng để thấy được những biểu hiện tính sinh
động trong các sáng tác của ông.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Những tài liệu công trình và nghiên cứu có liên quan đến tính nghệ
thuật và đặc biệt là tính sinh động của sự miêu tả nghệ thuật.
4.2. Những tài liệu công trình và nghiên cứu có liên quan đến tác phẩm
tự sự.
4.3. Những bài viết và các công trình nghiên cứu về Nam Cao và các
truyện ngắn viết về nhân vật nông dân trước Cách mạng của ông.
4.4. Những truyện ngắn của Nam Cao in trong Tuyển tập Nam Cao tập I
(1999)- Nxb văn học, và Tuyển tập Nam Cao (2010), Nxb. Thời đại, cụ thể là
các tác phẩm tiêu biểu sau:
Các tác phẩm viết về người nông dân Các tác phẩm viết về người trí thức
Nghèo
Chí Phèo
Dì Hảo
Đôi móng giò
Nửa đêm
Lão Hạc
Một đám cưới
Một bữa no
Tư cách mõ
Lang Rận
ngắn viết về nhân vật nông dân (trong sự so sánh với nhân vật trí thức tiểu tư
sản) của Nam Cao.
6.4. Góp phần làm sáng tỏ cá tính sáng tạo, phong cách nghệ thuật, quan
điểm sáng tác, những đóng góp và vị trí của Nam Cao đối với nền văn học
nước nhà.
9 II. NỘI DUNG
Chương 1
THUẬT NGỮ TÍNH SINH ĐỘNG
TRONG NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN VĂN HỌC
1.1. Vấn đề thuật ngữ tính sinh động
Trong cuộc sống hằng ngày ta rất hay bắt gặp những câu nói có cụm từ
sinh động như: lời lẽ thật sinh động, bài văn sinh động, câu chữ sinh động,
bức tượng sinh động, bức tranh sinh động, câu chuyện sinh động… Vậy thuật
ngữ sinh động được hiểu như thế nào?
Trong cuốn Từ điển Tiến Việt thông dụng do Nguyễn Như Ý chủ biên thì
với hiện thực nhưng mô tả làm sao cho đối tượng đó thật sinh động, làm cho
đối tượng đó hiện lên y như thật bằng cách tác động vào các giác quan và cảm
xúc thẩm mĩ của người tiếp nhận.
1.2.1.2. Ý kiến của G.E. Lessing
Sang thế kỉ XVIII, Lessing- đại biểu xuất sắc nhất của phong trào Ánh
sáng Đức cũng dùng từ sinh động để chỉ chất lượng đặc sắc của tác phẩm
nghệ thuật. Theo Lessing quan niệm: “Cái đẹp hòa điệu trong thi ca đều tràn
ngập sức sống và biến đổi hết sức linh hoạt” [36, tr. 19]. Như vậy Lessing đã
chỉ ra sức mạnh của nghệ thuật là tái hiện cuộc sống một cách sinh động, linh
hoạt và gợi cảm, điều này hoàn toàn trái ngược với N. G. Secnưsepxki giai
đoạn sau khi ông cho rằng tính sinh động của tác phẩm văn chương “thua kém
hơn so với tác phẩm hội họa” [36, tr. 19].
1.2.1.3. Ý kiến F. Hêghen
Hêghen- nhà triết học cổ điển Đức khi xây dựng cơ sở triết học cho hệ
thống các nghệ thuật trong công trình Những bài giảng mĩ học, ông đã nhiều
lần nhắc đến cụm từ tính sinh động. Theo ông tính sinh động thường gắn liền
với tính cách, đặc điểm của nhân vật và ông bàn về tính sinh động trong cách
nhìn nhận, đánh giá của ông về nhân vật anh hùng ca của Hômerơ như sau:
11 “Mỗi anh hùng ca của Hômerơ chẳng hạn làm thành một toàn thể sinh động
những đặc tính và những nét tính cách” [30, tr. 253]. Theo ông các nhân vật
ấy “mỗi người là cả một thế giới độc lập, toàn vẹn, một con người sinh động
toàn vẹn, chứ không phải là một thể trừu tượng có tính chất phúng dụ của một
nét duy nhất của tính cách” [30, tr. 253]. Hêghen đánh giá rất cao nhân vật
của Hômerơ vì theo ông, nhân vật của Hômerơ mang sắc thái thẩm mĩ đa
dạng mà ông gọi đó là tính đa diện và ông khẳng định rằng: “chỉ có một tính
đa diện như vậy mới cấp được cho tính cách một hứng thú sinh động” [30, tr.
qua nghệ thuật” [36, tr. 20]. Điều này chứng tỏ rằng dù tính sinh động bộc lộ
ở toàn diện tác phẩm hay ở riêng nhân vật thì đều cần đến trình độ nhận thức
đời sống phong phú, nhiều mặt của người nghệ sĩ tài năng.
1.2.2. Ở trong nước
1.2.2.1. Ý kiến của Trường Chinh
Ở Việt Nam, Trường Chinh là người đưa ra quan điểm khá rõ ràng về
tính sinh động. Trong tác phẩm Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam, ông
khẳng định rằng: chất lượng nghệ thuật cao tuyệt đối xa lạ với những “quái
thai của tưởng tượng”. Nghệ thuật cao không chấp nhận sự “bế tắc, cầu kì,
quanh co, lố bịch” [36, tr. 20]. Mà phải là “tả thực một cách sinh động”.
Trường Chinh cũng nhấn mạnh tính sinh động của tác phẩm được hình thành
trên cơ sở của tính chất bao gồm “nhiều khía cạnh của đời sống được miêu
tả”, “trình độ nhà văn nhìn thấu các mâu thuẫn phức tạp” và có mối liên hệ
nôi tại với khuynh hướng “tả thật” [36, tr. 20].
1.2.2.2. Ý kiến của Đặng Thai Mai
Khi nhận xét về kịch của U. Sêcxpia với quan niệm coi tính sinh động
như một biểu hiện của sinh mệnh nghệ thuật, nhà nghiên cứu Đặng Thai Mai
khẳng định: kịch Sêcxpia độc đáo ở chỗ biết tiếp thu, sáng tạo những thể loại
cổ, sử dụng tổng hợp các thủ pháp viết kịch, đồng thời khéo kết hợp những
sắc thái thẩm mĩ trong mỗi vở kịch. Vì thế, công chúng luôn cảm nhận được
13 tính sinh động trong bất cứ tác phẩm nào của ông. Những hư cấu nghệ thuật ở
kịch Sêcxpia khiến người ta “không cảm thấy chối, mà cảm thấy khoan khoái
như đứng trước những hình thức huyền diệu của sự sống…, của sinh mệnh…,
sinh mệnh của nghệ thuật” [36, tr. 22].
1.2.2.3. Ý kiến của Nguyễn Đình Thi
Tương tự với ý kiến của Đặng Thai Mai, Nguyễn Đình Thi cũng coi tác
động như Thành Duy, Hà Minh Đức … Ở đây, luận văn của chúng tôi chỉ đưa
ra những ý kiến tiêu biểu nhằm nổi bật thuật ngữ này. Do kinh nghiệm sống,
cách cảm thụ khác nhau mà các nhà nghiên cứu hiểu về thuật ngữ tính sinh
động khác nhau, nhưng nhìn chung đều có sự thống nhất, trong số đó không ít
người đã nhìn ra tầm quan trọng của sự miêu tả sinh động đối tượng (Aristot),
miêu tả sinh động tính cách nhân vật (Hêghen), hay hình ảnh sống của con
người sống động (Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Lương Ngọc). Với tư cách là
một bình diện nghệ thuật, vấn đề tính sinh động của tác phẩm văn chương
được xem như một thước đo trình độ nghệ thuật cao của tác phẩm văn
chương. Tuy nhiên, xét một cách tổng quát, việc sử dụng kết hợp từ tính sinh
động được nhắc đến trong các ý kiến đã dẫn ở trên ít nhiều còn mang cảm
nhận của chủ quan, kinh nghiệm của cá nhân và chưa được đào sâu, khai thác
triệt để, phân tích, xem xét từ nhiều phía, nhiều góc độ. Vì vậy, những biểu
hiện cụ thể của tính sinh động cùng với mối liên hệ của nó với các yếu tố khác
trong tác phẩm văn chương chưa được phân tích, lí giải làm sáng tỏ một cách
có hệ thống.
1.3. Những quan niệm coi “tính sinh động” như là một yếu tố cấu
trúc quan trọng của tính nghệ thuật
1.3.1. Ở nước ngoài
Vấn đề nghiên cứu tính nghệ thuật cùng với những yếu tố cấu trúc của nó
đã được hình thành từ rất sớm trong lĩnh vực văn học, đặc biệt là sự đóng góp
15 của những nhà nghiên cứu người Nga sống vào thế kỉ XIX như N.A.
Dobroliubov và ở thế kỉ XX như L.I. Timophêev, N.K. Gei, P. Nicolaev. Có
thể trong lịch sử nghiên cứu văn học vấn đề tính nghệ thuật đã được quan tâm
sớm hơn, nhưng phải đến thế kỉ XIX- XX, qua một loạt công trình nghiên cứu
của các tác giả kể trên, nó mới được phổ biến rộng rãi với hệ thống lí thuyết
ông, vấn đề tính nghệ thuật không chỉ là vấn đề phân biệt tác phẩm văn học có
nghệ thuật tính với tác phẩm văn học không có nghệ thuật tính mà còn ở vấn
đề chất lượng của nó và ông khẳng định: “khái niệm tính nghệ thuật là khái
niệm chất lượng” [66, tr. 221]. L.I. Timophêev cũng chỉ ra những điều kiện
quyết định tính nghệ thuật của tác phẩm là: tính trung thực của sự khái quát,
tính sinh động của sự thể hiện, tính khuynh hướng thẩm mĩ và tính nhân dân.
So với Dobroliubov thì quan niệm tính nghệ thuật của L.I. Timophêev được
mở rộng hơn, bao quát tất cả các mặt giá trị phản ánh cuộc sống bằng hình
tượng tạo nên. Ngoài tính khái quát hóa giống như Dobroliubov đã xác định,
L.I. Timophêev đưa thêm tiêu chuẩn “tính khuynh hướng thẩm mĩ và mối liên
hệ của tác phẩm với cuộc sống con người” vào cấu trúc tính nghệ thuật. Ông
nhấn mạnh “Những biểu hiện căn bản của tính nghệ thuật không phải là cái gì
khác mà chính là sự thể hiện trong tác phẩm nghệ thuật cụ thể những đặc tính
chủ yếu của sự phản ánh cuộc sống bằng hình tượng: tính cá thể hóa, tính khái
quát hóa, khuynh hướng thẩm mĩ, mối liên hệ của tác phẩm với cuộc sống con
người” [66, tr. 223].
Điều khác biệt ở L.I. Timophêev là ông đã ý thức tách khái niệm tính
hình tượng ra khỏi quan niệm tính nghệ thuật và xem khái niệm tính nghệ
thuật như là khái niệm nói về chất lượng nghệ thuật của tác phẩm. Song việc
mở rộng quan niệm tính nghệ thuật bao quát tất cả các mặt chất lượng cơ bản
của tác phẩm đã dẫn đến khó khắn. “Đó là những mâu thuẫn logic của hệ
thống khái niệm như: khái niệm tính tư tưởng mất chỗ đứng, các yếu tố của
cấu trúc tính nghệ thuật vẫn chưa vượt thoát được hàng rào tính hình tượng.
17 Và, tính sinh động, do quan niệm tính nghệ thuật đó chi phối, chưa phát triển
được ra những gì khác hơn là “tính cách- hoàn cảnh”, “khuynh hướng toát ra
từ tình thế và hành động”” [66, tr. 30].
Sau gần mười năm, với công trình Tính nghệ thuật của văn chương thì
quan niệm về tính nghệ thuật của N.K. Gei đã có sự điều chỉnh lại. Ông đã
“uốn lại quan niệm chất lượng phần nào hơi tách rời đặc trưng của mình,
nhưng ông vẫn khác Dobroliubov và Timôphêev. Hầu hết các yếu tố cơ bản
trong cấu trúc tính nghệ thuật của họ nằm ngoài cấu trúc các thước đo nghệ
thuật của ông. Riêng thước đo tính sinh động được giữ lại, nhưng bị ông hạ
xuống xếp vào loại yếu tố riêng biệt” [36, tr. 32]. Qua đó có thể nhận thấy, sự
khác biệt căn bản trong quan điểm của N.K. Gei so với những người đi trước
đó là ông đi tìm tính nghệ thuật chủ yếu ở các nguyên tắc cơ bản của tổ chức
nghệ thuật tác phẩm.
1.3.1.4. Quan niệm của P. Nicolaev
P. Nicolaev có hướng nghiên cứu và quan niệm về tính nghệ thuật gần
gũi với N.K. Gei. Trong Từ điển thuật ngữ nghiên cứu văn học, P. Nicolaev
khẳng định: “Tính nghệ thuật là chất lượng đặc trưng của tác phẩm nghệ
thuật, là hình thức của cái đẹp trong nghệ thuật” [36, tr. 32]. P. Nicolaev đưa
ra cấu trúc tính nghệ thuật gồm một tiêu chuẩn cơ sở là tính chân thật tư
tưởng về nội dung tác phẩm và hai yếu tố cơ bản là tính hợp lí về tư tưởng-
nghệ thuật của tất cả các yếu tố trong tác phẩm và sự hoàn thiện của ngôn ngữ
thi ca.
1.3.2. Ở trong nước
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu tính nghệ thuật và các yếu tố cấu trúc của
nó cho đến nay vẫn còn thưa thớt và không được sự quan tâm của nhiều nhà
nghiên cứu. Ta thường bắt gặp rải rác đây đó có một vài bài viết có liên quan
đến tính nghệ thuật nhưng thực sự quan tâm đến vấn đề này có thể kể đến sự
19 đóng góp tích cực của một số ít tác giả như: Nam Mộc, Nguyễn Cương và
bàn về tính nghệ thuật, Nguyễn Cương có nhắc đến tính sinh động của sự
miêu tả nhưng ông không dừng lại giải thích khái niệm này. Qua lập luận của
ông, ta hiểu được nhà nghiên cứu đã xem tính sinh động như là một yếu tố
của tính nghệ thuật và là cái thuộc hình thức nghệ thuật có vai trò quan trọng
tạo nên tính nghệ thuật (chất lượng) của tác phẩm văn chương.
1.3.2.3. Quan niệm của Nguyễn Xuân Nam.
Nguyễn Xuân Nam cũng là một tác giả đã đưa ra quan niệm khá rõ ràng
về tính nghệ thuật. Trong cuốn Từ điển văn học, ông đã xác định: “Hiểu theo
nghĩa hẹp, tính nghệ thuật là khái niệm chỉ chất lượng cao hay thấp của một
công trình nghệ thuật, trong giới hạn ở đây là tác phẩm văn học (…). Tính
nghệ thuật chính là cái thước đo và đánh giá mức độ sâu sắc, sinh động của
việc xây dựng hình tượng nghệ thuật thông qua kết cấu của nghệ thuật ngôn
từ” [12, tr. 1742]. Cũng như Dobroliubov ở thế kỉ XIX, Nguyễn Xuân Nam
cho rằng “tính nghệ thuật luôn luôn liên hệ mật thiết với các khái niệm tính
chân thực, tính tư tưởng” [12, tr. 1742]. Theo đó, tác giả nêu ra những biểu
hiện của tính nghệ thuật là: tính chất hoàn chỉnh của hình tượng nghệ thuật,
mức độ chân thực, sâu sắc và sinh động của hình tượng, sự gắn bó không thể
tách rời giữa tính nghệ thuật và tính tư tưởng. Như vậy, có thể thấy rằng, tính
sinh động của hình tượng được Nguyễn Xuân Nam nhắc đến như một dấu
hiệu quan trọng của tính nghệ thuật. Tiếc rằng, thuật ngữ tính sinh động chưa
được nhà nghiên cứu chú ý luận giải thêm.
1.3.2.4. Quan niệm của Phùng Minh Hiến
Ở Việt Nam, vấn đề tính nghệ thuật và tính sinh động của sự miêu tả,
người nghiên cứu nhiều nhất, tập trung nhất và chuyên sâu nhất là PGS. TS
Phùng Minh Hiến. Trong thời gian từ 1986 đến 2002, ông đã viết một loạt các
bài nghiên cứu có giá trị và đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành ở
nước ta. Đặc biệt năm 2002 với chuyên luận Tác phẩm văn chương, một sinh
21
Như vậy, hướng nghiên cứu văn chương xuất phát từ quan điểm tính sinh
động của sự miêu tả, chỉ đến Phùng Minh Hiến mới đạt được chiều sâu mới
với những thành tựu đáng ghi nhận. Bởi vậy, hệ thống lí luận của ông về vấn
đề này được chúng tôi xem như nền móng cơ sở để ứng dụng vào việc nghiên
cứu những truyện ngắn viết về đề tài nhân vật nông dân của nhà văn Nam
Cao. Những luận điểm khoa học của Phùng Minh Hiến về khái niệm tính sinh
động với những yếu tố cấu trúc của nó sẽ được chúng tôi kế thừa và thuyết
minh cụ thể dưới đây.
1.4. Bản chất của khái niệm tính sinh động
1.4.1. Khái niệm tính sinh động của sự miêu tả và những dấu hiệu cơ
bản của nó
Việc thừa nhận của các nhà nghiên cứu nước ngoài cũng như trong nước
coi tính sinh động của sự miêu tả là một tiêu chuẩn đặc trưng, tổng hợp nhất
để đánh giá chất lượng nghệ thuật của tác phẩm văn chương là có cơ sở khoa
học và mang lại hiệu quả nghiên cứu khả quan. Trên cơ sở phân tích kĩ lưỡng
những ý kiến liên quan đến tính sinh động của các nhà nghiên cứu văn học
trong và ngoài nước, chúng tôi bước đầu nêu lên định nghĩa về tính sinh động
của sự miêu tả như sau:
“Tính sinh động của sự miêu tả là đặc tính phẩm chất đặc trưng, tổng
hợp, biểu thị rõ nhất chất lượng nghệ thuật của tác phẩm văn chương. Tính
sinh động của sự miêu tả chỉ có thể xuất hiện khi nhà văn tạo cho tác phẩm
một tổ chức nghệ thuật năng động, chặt chẽ khiến cho thế giới hình tượng
trong đó (như hình tượng nhân vật, hình tượng thiên nhiên, hình tượng tác
giả…) hiện ra như là cái toàn vẹn, cụ thể, đã được nhận thức, thể nghiệm và
tự vận động theo bản chất của mình đồng thời mang lại cho bạn đọc cảm giác
sống động như những hình ảnh có thật trong thực tế”.
23
tâm hồn bạn đọc. Và sự tác động đó phụ thuộc rất lớn vào cấu trúc của hình
tượng.
Có thể khái quát một số đặc điểm quan trọng trong cấu trúc của hình
tượng như: tính cụ thể riêng biệt và tính khái quát, tính khách quan và tính
chủ quan, lí trí và tình cảm, cá biệt và khái quát, hiện thực và lí tưởng, tạo
hình và biểu hiện, hữu hình và vô hình… “Hình tượng nghệ thuật chỉ có sức
mạnh và tạo ra tính sinh động khi ở người nghệ sĩ- người sáng tạo ra nó có sự
cân bằng hài hòa mãnh liệt các mặt trên. Nhưng nó đặc trưng cho không phải
hình tượng bất kì nào, mà chỉ cho hình tượng có tính toàn vẹn bên trong” [36,
tr. 60].
Ở một cấp độ khác, tác phẩm văn học là một chỉnh thể thống nhất hữu cơ
giữa hai mặt một nội dung và hình thức. Trong sự phân chia có tính tương đối
thì nội dung tác phẩm thường gồm các yếu tố như: hệ đề tài, hệ vấn đề, tư
tưởng… Còn hình thức tác phẩm thường gồm: các chi tiết tạo hình- đối
tượng, cốt truyện, kết cấu, ngôn từ nghệ thuật… Nhìn một cách khái quát, tất
cả mọi yếu tố thuộc hệ thống nghệ thuật của tác phẩm đều tham gia vào sự
hình thành nên tính sinh động của tác phẩm khi nhà văn tạo ra được mối
tương quan hài hòa giữa chúng. Nó “nảy sinh như là chất lượng nghệ thuật
tổng hợp và chứa đựng trong bản thân nó không những tính toàn vẹn và tính
không lặp lại của nội dung và hình thức, mà còn cả toàn bộ sự hoàn thiện
nghệ thuật của tác phẩm” [36, tr. 71]. Vậy theo chúng tôi, tính sinh động
chính là dấu hiệu tổng hợp và có tính đặc trưng nhất trong phẩm chất nghệ
thuật của tác phẩm. Nó dựa vào cả tính hình tượng, lẫn tính chân thật của sự
miêu tả đời sống và tính chân lí của tư tưởng tác phẩm. Tính sinh động được
sáng tạo nên bằng sự thống nhất của nội dung và sự tổ chức toàn bộ các
phương tiện miêu tả nghệ thuật. Nó cũng là sự thống nhất của các tính cách,
25