Nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ tưới nước tới sinh trưởng và năng suất của lúa Khang Dân 18. - Pdf 29


1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
BẾ THỊ HƯỜNG
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ ĐỘ NƯỚC TỚI
SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA LÚA KHANG DÂN 18 KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo : Chính qui
Chuyên ngành : Trồng trọt
Khoa : Nông học
Khoá : 2010 - 2014
Giáo viên hướng dẫn : TS. Đỗ Thị Ngọc Oanh

Thái Nguyên, năm 2014
Sinh viên

Bế Thị Hường 3
MỤC LỤC

PHẦN 1.

MỞ ĐẦU 1
1.1. Đặt vấn đề 1
1.2. Mục đích và yêu cầu của đề tài 3
1.3. Ý nghĩa của đề tài 3
PHẦN 2.

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1. Cơ sở khoa học để xác định chế độ tưới nước cho lúa 4
2.1.1. Đặc điểm sinh vật học của cây lúa 4
2.1.2. Vai trò của nước đối với cây lúa 6
2.1.3. Nhu cầu về nước của cây lúa 6
2.2. Nghiên cứu về tưới nước cho lúa 8
2.3. Kỹ thuật tưới nước cho lúa 9
2.3.1. Kỹ thuật tưới nước cho lúa ở trên thế giới 9
2.3.2. Kỹ thuật tưới nước cho lúa hiện nay ở Việt Nam 10
2.3.2.1. Kỹ thuật tưới ướt - khô xen kẽ (Alternate Wetting and Drying) 10
2.3.2.2. Tưới nước tiết kiệm trong điều kiện đất nhiễm phèn (pH = 4 - 5) 11
2.3.2.3. Tưới nước tiết kiệm trong điều kiện đất chua mặn 12
2.3.2.4. Quy trình kỹ thuật tưới nước cho lúa ở vùng Đồng Bằng sông Hồng 13
2.3.2.5. Quy trình kỹ thuật tưới nước cho lúa ở Bắc Trung Bộ 13

4.4. Ảnh hưởng của các chế độ tưới nước đến năng suất của lúa Khang Dân
18 40
PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 47
5.1. Kết luận 47
5.2. Đề nghị 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48 5
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮTCT : Công thức
CV : Hệ số biến động (Coefficient of Variation)
FAO : Tổ chức Nông Lương thế giới (Food and Agriculture
Organization)

LSD : Sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa (Least Sigaificant
Difference Test)
NSLT : Năng suất lý thuyết
P : Sai khác giữa các trung bình của công thức 7
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1: Ảnh hưởng của các chế độ tưới nước đến chiều cao của
lúa Khang Dân 18 thời kỳ trỗ 32
Hình 4.2: Ảnh hưởng của các chế độ tưới nước đến chiều cao của
lúa Khang Dân 18 thời kỳ chín sữa 33
Hình 4.3: Ảnh hưởng của các chế độ tưới nước đến chiều cao của
lúa Khang Dân 18 thời kỳ thu hoạch 34
Hình 4.4: Ảnh hưởng của các chế độ tưới nước đến khả năng đẻ nhánh tối
đa của lúa Khang Dân 18 35
Hình 4.5: Ảnh hưởng của các chế độ tưới nước đến khả năng đẻ nhánh
hữu hiệu của lúa Khang Dân 18 36
Hình 4.6: Ảnh hưởng của các chế độ tưới nước đến số rễ của lúa Khang
Dân 18 thời kỳ trỗ 38
Hình 4.7: Ảnh hưởng của các chế độ tưới nước đến số rễ của lúa Khang
Dân 18 thời chín sữa 39
Hình 4.8: Ảnh hưởng của các chế độ tưới nước đến số bông/xô của
lúa Khang Dân 18 42
Hình 4.9: Ảnh hưởng của các chế độ tưới nước đến tổng số hạt/bông của
lúa Khang Dân 18 43
Hình 4.10: Ảnh hưởng của các chế độ tưới nước đến số hạt chắc/bông của
lúa Khang Dân 18 44
Hình 4.11: Ảnh hưởng của các chế độ tưới nước đến khối lượng 1000 hạt
của lúa Khang Dân 18 45
Hình 4.12: Ảnh hưởng của các chế độ tưới nước đến năng suất lý thuyết
của lúa Khang Dân 18 46

nước vai trò cực kì quan trọng đối với đời sống của cây lúa ảnh hưởng đến
sinh trưởng và năng suất cây trồng.
Lúa yêu cầu nhiều nước hơn các loại cây trồng khác. để tạo ra một
đơn vị thân lá, lúa cần 400 - 450 đơn vị nước, để tạo ra một đơn vị hạt lúa
cần 300 - 350 đơn vị nước. Để tạo ra một gam chất khô cây lúa cần 628
gam nước trong khi cây ngô chỉ cần 349 gam nước (Nguyễn Thị Kim Hiệp,

2

1997). Nhu cầu nước cho 1 vụ lúa/ha là 1.240 mm. Bình quân mỗi vụ cây
lúa cần 800 - 1000 mm, nếu nơi nào có lượng mưa nhỏ hơn phải chủ động
tưới tiêu cho lúa. Nhu cầu nước của cây lúa thay đổi tùy thuộc vào giai
đoạn sinh trưởng. Nếu ở giai đoạn đẻ nhánh ẩm độ đất đạt 60 - 80% thì
chiều cao cây không kém gì ruộng nước. Giai đoạn làm đòng bị hạn nhiều,
hoa ngừng phát dục nên bị thoái hóa. Ở giai đoạn trỗ bông phơi màu bị hạn
dẫn đến nghẹn đòng, việc thụ tinh khó khăn lúa dễ bị lép. Thừa nước cũng
ảnh hưởng đến năng suất lúa. Ở giai đoạn đẻ nhánh nếu ngập quá 25%
chiều cao cây năng suất sẽ giảm 18 - 25%, ngập 75% giảm tới 30 - 50%,
nguyên nhân chính là do giảm tỉ lệ đẻ nhánh và diện tích quang hợp. Ngoài
vai trò cung cấp nước cho cây lúa, nước còn làm thay đổi điều kiện tiểu khí
hậu trong ruộng (Đặng Quý Nhân, 2008).
Do khai thác nguồn nước quá mức và biến đổi khí hậu, trong những
năm gần đây, nguồn nước cung cấp cho canh tác lúa đang ngày càng khan
hiếm. Ở châu Á, nơi mà cây lúa được trồng trên khoảng 30% diện tích đất
chủ động nước và chiếm 50% lượng nước tưới cho cây trồng việc khan
hiếm nước càng nghiêm trọng (Misha A. and salokhe V. M, 2008). Ở vùng
Trung du và miền núi phía bắc Việt Nam sản xuất lúa có vai trò quan trọng
trong đảm bảo an ninh lương thực của vùng. Đây là vùng có lượng mưa
hàng năm khá lớn, nhưng phân bố không đồng đều, nơi nguồn nước không
chủ động thường năng suất lúa thấp và không ổn định. Trong khi đó do sử

+ Biết cách thực hiện một đề tài nghiên cứu khoa học.
+ Đánh giá được khả năng thích ứng giống lúa Khang Dân 18 trên các
chế độ nước khác nhau với điều kiện sinh thái của địa phương.
+ Xác định được cơ sở khoa học để quyết định chế độ tưới nước cho lúa.
+ Kết quả nghiên cứu là tiền đề có giá trị cho khoa học nghiên cứu và
ứng dụng cho người sản xuất.
- Ý nghĩa thực tiễn của đề tài:
+ Bước đầu chọn chế độ tưới nước thích hợp cho giống lúa Khang Dân 18
với điều kiện sinh thái tại địa phương và những vùng có điều kiện tương tự.
+ Tiết kiệm được lượng nước tưới từ đó sử dụng tốt nguồn tài nguyên
nước để phát triển sản xuất lúa.
+ Đầu tư chi phí tưới hợp lý hơn và nâng cao hiệu quả cho người sản
xuất lúa, tăng thu nhập cho người nông dân.

4

PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Cơ sở khoa học để xác định chế độ tưới nước cho lúa
2.1.1. Đặc điểm sinh vật học của cây lúa
- Đặc điểm sinh trưởng của rễ lúa
Lúa là cây trồng có bộ rễ chùm với số lượng có thể đạt tới 500 - 800
cái, tổng chiều dài rễ ở thời kỳ trỗ bông có thể đạt đến 168 m. Bộ rễ lúa
tăng dần về số lượng và chiều dài qua các thời kỳ đẻ nhánh, làm đòng và
thường đạt tối đa vào thời kỳ trỗ bông, sau đó lại giảm đi. Thời kỳ đẻ
nhánh làm đòng bộ rễ phát triển có hình bầu dục nằm ngang, còn thời kỳ
trỗ bông, bộ rễ lúa phát triển xuống sâu có hình quả trứng ngược.
Rễ lúa là cơ quan hút chất dinh dưỡng và vận chuyển chất dinh
dưỡng để nuôi cây. Rễ lúa thuộc loại rễ chùm, có cấu tạo sơ cấp, sau

Như vậy sinh trưởng của rễ lúa phụ thuộc vào chế độ tưới nước, rễ
lúa yêu cầu oxy, cho nên chế độ tưới luân phiên cạn nước là tốt nhất.
- Đặc điểm đẻ nhánh của lúa
Cây lúa có thể đẻ nhánh khi có 4 - 5 lá thật. Ở ruộng lúa cấy, sau khi
bén rễ hồi xanh cây lúa bắt đầu đẻ nhánh. Lúa kết thúc đẻ nhánh vào thời
kỳ làm đốt, làm đòng.
Từ cây mẹ đẻ ra nhánh con (cấp một), nhánh cấp một đẻ nhánh cấp
hai, nhánh cấp hai đẻ nhánh cấp ba. Những nhánh hình thành vào giai đoạn
cuối thường là nhánh vô hiệu. Đẻ nhánh là một đặc điểm sinh vật học của
cây lúa, nhánh đẻ biểu hiện quá trình sinh trưởng phát triển của nó. Khả
năng đẻ nhánh có liên quan đến vấn đề năng suất, đẻ nhánh khỏe thì số
bông/khóm nhiều làm cho số bông trên đơn vị diện tích tăng. Khả năng đẻ
nhánh của cây lúa phụ thuộc vào giống, nhất là điều kiện chăm sóc, tưới
nước, ngoại cảnh (ẩm độ, ánh sáng, chế độ dinh dưỡng). Trong điều kiện
đất tốt, đầy đủ dinh dưỡng và các chế độ ngoại cảnh thuận lợi thì đẻ nhánh
nhiều, nhánh đẻ càng sớm thì cây càng khỏe, bông to, nhiều hạt, tỷ lệ
nhánh hữu hiệu cao, năng suất sẽ cao.
Như vậy, đẻ nhánh phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó, nước là rất
quan trọng.

6

2.1.2. Vai trò của nước đối với cây lúa
Nước trong đất, một phần được cây hút, một phần bị bốc hơi, một
phần bị rò rỉ. Sự thiếu hụt nước có ảnh hưởng đến sinh trưởng của lúa.
Thiếu nước ở bất cứ giai đoạn sinh trưởng nào cũng gây ảnh hưởng đến
năng suất lúa. Triệu chứng chung nhất của việc thiếu hụt nước là lá cuộn
tròn lại, hoặc bị cháy, kìm hãm lúa đẻ nhánh, thân cây bị thấp chậm ra hoa,
trỗ bị nghẹn đòng, hạt lép và lửng. Từ giai đoạn phân bào giảm nhiễm đến
trỗ bông cây lúa rất nhạy cảm với việc thiếu nước. Vào thời gian 11 ngày

Khi mạ chuyển sang giai đoạn sống nhờ dinh dưỡng hút từ đất thì căn cứ
vào sự sinh trưởng của mạ để có chế độ nước hợp lý. Có thể điều chỉnh
sinh trưởng của mạ qua điều tiết nước.
Thời kỳ cấy - đẻ nhánh: đây là thời kỳ quyết định số bông trên một
đơn vị diện tích. Mức ngập khác nhau trong thời kỳ này có ảnh hưởng đến
quá trình đẻ nhánh.
Thời kỳ làm đòng trổ bông: bước sang thời kỳ làm đòng, nhu cầu
nước của lúa rất cao. Thiếu nước dù chỉ thời gian ngắn cũng làm giảm năng
suất rõ rệt. Đối với lúa chiêm và mùa, lớp nước tưới thích hợp cho thời kỳ
này là 8 - 15 cm; lúa xuân là 3 - 5 cm.
Thời kỳ trỗ đến chín: sau khi lúa trổ bông, các sản phẩm tích luỹ ở
thân lá được chuyển vào hạt, trong thời kỳ này cây thiếu nước sẽ ảnh
hưởng đến độ mẩy của hạt và cuối cùng trọng lượng hạt thấp, năng suất
giảm. Nhưng nếu giữ nước trên ruộng suốt thời kỳ này thì lúa chín chậm,
hàm lượng nước trong hạt cao, chất lượng sản phẩm kém. Tháo nước vào
lúc nào để tích luỹ chất dinh dưỡng vào hạt tốt nhất, chín sớm, thuận lợi
cho việc thu hoạch và chuẩn bị làm đất cho vụ sau là một vấn đề có ý nghĩa
lớn trong sản xuất, nhất là sản xuất bằng cơ giới. Tháo nước sớm hay muộn
trong thời kỳ này phụ thuộc vào điều kiện thời tiết, khả năng giữ ẩm của
đất và đặc tính của giống lúa (Nguyễn Thị Kim Hiệp, 1997).
Để quyết định lượng nước tưới cho lúa hợp lý, cần phải nắm chắc
được nhu cầu về lượng nước cần thiết của cây lúa. Theo Nguyễn Thị Lẫm
và cs (2003) lượng mưa cần thiết cho cây lúa trung bình từ 6 - 7 mm/ngày
trong mùa mưa và 8 - 9 mm/ngày trong mùa khô. Lượng nước thẩm thấu
trong ruộng khoảng 0,5 - 0,6 mm/ngày thì một tháng cây lúa cần khoảng
200 mm và một vụ lúa năm tháng cần lượng mưa khoảng 1000 mm. Ở
những vùng có lượng mưa trên 1000 mm trong 5 - 6 tháng thì đều trồng
được lúa.
làm tăng năng suất từ 8 - 17,4%, nhưng cũng có trường hợp không có tác

9

dụng. Trường Đại học Nông nghiệp I - Hà Nội từ những nghiên cứu về rút
nước phơi ruộng ở cuối thời kỳ đẻ nhánh trên các nền phân bón khác nhau
đã đi đến kết luận sau: ruộng bón nhiều phân đạm, lúa sinh trưởng quá tốt,
có thể bị lốp đổ hoặc bông làm hạt kém thì cần rút nước để kìm hãm sinh
trưởng, tạo nên sự cân đối với phát dục đảm bảo cho lúa cho năng suất cao.
Ruộng bón nhiều phân hữu cơ, nhất là trong vụ chiêm xuân, ruộng trũng bị
ngập nước thường xuyên, rút nước phơi ruộng để làm tăng khả năng phân
giải chất hữu cơ trong đất, cung cấp thêm thức ăn cho cây với ý nghĩa như
là 30 biện pháp bón phân nuôi đòng và giảm nồng độ các chất khử trong
đất có hại cho bộ rễ lúa ở thời kỳ làm đồng, trỗ bông. Ruộng lúa có thể
hoặc đã bị các bệnh bạc lá, đạo ôn phá hại thì rút nước phơi ruộng cũng là
biện pháp cần thiết để góp phần ngăn ngừa bệnh phát sinh phát triển, tạo
điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các biện pháp phòng trừ hoá học có
kết quả cao và nhanh chóng. Ngoài những trường hợp trên, rút nước phơi ruộng
đều không có tác dụng tốt đối với sinh trưởng và phát triển của cây lúa.
2.3. Kỹ thuật tưới nước cho lúa
2.3.1. Kỹ thuật tưới nước cho lúa ở trên thế giới
Theo Viện nghiên cứu lúa quốc tế ở Philippines thì không nhất thiết
cánh đồng lúa nước luôn phải đầy ắp nước, khi nước trên ruộng lúa ở mức
dưới 15 cm dưới mặt ruộng thì mới cần tưới. Người nông dân dễ dàng tự đo
mực nước mặt ruộng bằng một ống nhựa có đục lỗ, do đó tiết kiệm từ 15
đến 30% lượng nước tưới mà năng suất không giảm.
1

Trên thế giới hiện nay tồn tại hai phương pháp tưới cho lúa là tưới
ẩm và tưới ngập. Diện tích tưới ẩm chiếm tỷ lệ rất nhỏ so với diện tích tưới

- Tuần đầu tiên sau cấy: giữ mực nước từ bão hòa đến cao khoảng 1
cm, mực nước trong ruộng sẽ được giữ cao khoảng 1 - 3 cm theo giai đoạn
phát triển của cây lúa và giữ liên tục cho đến lúc bón phân lần hai (khoảng
20 - 25 ngày sau cấy), giai đoạn này, nước là nhu cầu thiết yếu để cây lúa
phát triển. Giữ nước trong ruộng ở giai đoạn này sẽ hạn chế cỏ mọc mầm.
- Giai đoạn từ 25 - 40 ngày: đây là giai đoạn lúa đẻ nhánh rộ và tối
đa, phần lớn chồi vô hiệu thường phát triển ở giai đoạn này, nên chỉ cần
nước vừa đủ. Lúc này, giữ mực nước trong ruộng từ bằng mặt đến thấp hơn
mặt ruộng 15 cm. Khi nước xuống thấp hơn 15 cm thì bơm nước vào ruộng
ngập tối đa 5 cm. Ở giai đoạn này, lá lúa giáp tán, nếu hạt cỏ nảy mầm
cũng không gây hại đáng kể. Đây cũng là giai đoạn lúa rất dễ bị bệnh khô
vằn tấn công, mực nước thấp làm hạch nấm ít phát tán, bệnh ít lây lan.

11
- Giai đoạn lúa 40 - 45 ngày: là giai đoạn bón phân lần ba (bón đón
đòng). Lúc này cần bơm nước vào khoảng 1 - 3 cm trước khi bón phân,
nhằm tránh ánh sáng làm phân hủy và bốc hơi phân bón, nhất là phân đạm.
- Giai đoạn lúa 60 - 70 ngày: đây là giai đoạn lúa trỗ nên cần giữ
nước cho cây lúa trỗ và thụ phấn dễ dàng, hạt lúa không bị lép lửng.
- Cây lúa 70 ngày đến thu hoạch: là giai đoạn lúa ngậm sữa, vào chắc
và chín nên chỉ cần giữ mực nước từ bằng mặt đến thấp hơn mặt ruộng 15
cm. Cần phải tháo nước mười ngày trước khi thu hoạch để mặt ruộng được
khô ráo, nâng cao phẩm chất gạo và thuận lợi cho việc sử dụng máy móc
khi thu hoạch.
2.3.2.2. Tưới nước tiết kiệm trong điều kiện đất nhiễm phèn (pH = 4 - 5)
Quy trình kỹ thuật tưới nước tiết kiệm trong điều kiện đất nhiễm
phèn được Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh An Giang (2010)
đề xuất, như sau:
- Lúa mới cấy đến bảy ngày sau khi cấy: để ruộng khô nước và xử lý
thuốc cỏ hậu nảy mầm để diệt cỏ.

nông 3 - 5 cm. Sau khi bón phân thúc đợt một, để lắng 1 - 2 ngày, thay
nước ngọt mới, tưới nông 3 - 5 cm, có tác dụng kích thích lúa đẻ nhánh.
- Sau khi bón thúc đợt một khoảng 10 - 2 ngày, tưới ngập 12 - 15 cm
trong 20 ngày, để hạn chế đẻ nhánh vô hiệu.
- Giai đoạn làm đòng, trỗ, chín cần tưới ngập 3 - 5 cm bằng
nước ngọt.
- Khoảng 20 - 30 ngày, thay nước cũ một lần bằng nước ngọt, để
tháo chua, rửa mặn, tránh ngộ độc cho bộ rễ lúa.
Hiện nay, sản xuất nông nghiệp đang phải đương đầu với hàng loạt
thách thức dưới tác động của biến đổi khí hậu, mà cụ thể là nguồn tài
nguyên nước đang bị đe dọa nghiêm trọng. Trước bối cảnh đó, phát triển kỹ
thuật tưới tiết kiệm nhằm khai thác sử dụng hiệu quả và bền vững tài
nguyên nước trong nông nghiệp đã trở thành xu thế chung của nhiều nước
trên thế giới.
Việc triển khai và áp dụng kỹ thuật tưới ướt - khô xen kẽ cho lúa và
các phiên bản mới của nó ở một số nơi gần đây đã mang lại nhiều kết quả
rất khả quan. Tuy nhiên, để áp dụng tốt kỹ thuật này, chúng ta cần nắm một

13
số kiến thức cơ bản về nhu cầu nước của cây lúa, điều kiện cụ thể của
ruộng lúa (đất đai, thổ nhưỡng, khí tượng, thủy văn, ), đặt biệt là điều kiện
kinh tế xã hội, tiêu thụ sản phẩm và sự chấp thuận của cộng đồng.

2.3.2.4. Quy trình kỹ thuật tưới nước cho lúa ở vùng Đồng Bằng sông Hồng
Theo Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (2012): tuỳ điều kiện cụ
thể mà có thể đảm bảo chế độ nước phổ biến như sau: duy trì mức nước < 5
cm vào thời kỳ sau cấy đến thời kỳ đẻ nhánh hữu hiệu, > 20 cm vào thời kỳ
cuối đẻ nhánh để hạn chế đẻ nhánh vô hiệu. Nếu lúa tốt, sinh trưởng mạnh
thì nên rút nước phơi ruộng, hạn chế dinh dưỡng cũng có tác dụng làm
giảm đẻ nhánh vô hiệu. Duy trì 5 - 10 cm nước vào thời kỳ làm đòng đến

+ Trước thu hoạch 5 - 7 ngày nên tháo hết nước.
+ Nếu gặp thời tiết bất thuận (nóng trên 35
0
C hoặc lạnh quá dưới
15
0
C) cho nước ngập 15 - 20 cm để chống rét và chống nóng cho lúa.
2.3.2.6. Quy trình kỹ thuật tưới nước cho lúa ở vùng Nam Bộ (vùng Đồng
Bằng sông Cửu Long)
Theo Nguyễn Chí Công (2009) kỹ thuật tưới nước cho lúa ở vùng
Nam Bộ như sau:
Giai đoạn cây con (0 - 7 ngày sau gieo): rút cạn nước trước khi sạ
và giữ khô mặt ruộng trong vòng ba ngày sau khi sạ, ngày thứ tư cho nước
láng mặt ruộng một ngày sau đó rút cạn để đảm bảo đủ ẩm bề mặt ruộng.
Giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng (7 - 42 ngày sau gieo): sau khi sạ
được 7 - 10 ngày, bắt đầu cho nước từ từ vào ruộng và giữ nước trên mặt
ruộng ở mức 5 - 7 cm. Trong giai đoạn này, thay nước trong ruộng lúa từ 2
- 3 lần, sau mỗi lần thay nước giữ cạn trong 2 - 3 ngày.
Giai đoạn sinh trưởng sinh thực (42 - 65 ngày sau gieo): giữ nước
trong ruộng ở mức 3 - 5 cm.
Giai đoạn chín (65 - 95 ngày sau gieo): Giữ nước trong ruộng ở mức
2 - 3 cm cho đến giai đoạn chín vàng (7 - 10 ngày trước khi thu hoạch) tháo
cạn nước trong ruộng.
Như vậy, nhìn chung kỹ thuật tưới nước cho lúa ở cả 3 vùng đều có
sự giống nhau đó là tháo nước phơi ruộng, nước duy trì trên đồng ruộng có
sự khác nhau (từ 2 - 10 cm) tùy theo từng thời kỳ. Trong đó, quy trình phổ
biến là rút nước phơi ruộng từ 5 đến 10 ngày ở đứng cái và sau trỗ khoảng
15 ngày. Tuy nhiên, kỹ thuật tưới nước cho lúa ở vùng Đồng Bằng sông
Hồng có sự khác, đó là: khuyến cáo nên tháo cạn nước với điều kiện nếu
lúa tốt, sinh trưởng mạnh, còn trường hợp lúa xấu hoặc trên đất chua, mặn,

khác nhau, Combatore Ấn Độ, mùa mưa

Chỉ tiêu Chế độ
canh tác
Giai đoạn sinh trưởng
Cấy Đẻ nhánh

Làm đòng Ra hoa
Dài rễ (cm) Thông thường
SRI
1,02
0,88
6,1
22,5
17,4
31,1
55,7
67,5
Thể tích rễ
(CC/nhánh)
Thông thường
SRI
1,48
0,83
10,7
15,5
25,5
26,3
42,5
57,5

rễ (pmol/g)
Thông thường
SRI
NA
NA
46,2
58,9
73,6
86,0
50,5
72,5
(Norman Uphoff and Amir Kassam, 2011).

17
Bảng 2.3: Quần thể vi sinh vật ở vùng rễ lúa ở chế độ canh tác khác
nhau Combatore Ấn Độ, mùa mưa
(Đơn vị: %)
Chỉ tiêu Chế độ
canh tác
Giai đoạn sinh trưởng của lúa
Cấy Đẻ
nhánh
Làm
đòng
Ra
hoa
Azospirillum Thông thường
SRI
4,69
7,17

phospho
Thông thường
SRI
9,15
16,19
17,65
23,75
7,76
13,79
2,28
2,66
(Norman Uphoff and Amir Kassam, 2011).
Bảng 2.3 cho thấy tác động tích cực của SRI đến sinh vật đất. Số
lượng của tất cả vi khuẩn háo khí ở vùng rễ ở canh tác SRI tăng 50% so với
canh tác thông thường vào thời kỳ trước và trong thời gian làm đòng. Số
lượng Azospirillum cũng tăng tương tự, trong khi đó Azotobacter và
diazotroph (vi khuẩn cố định đạm) và vi khuẩn phân giải lân còn tăng nhiều
hơn, khoảng 75%. Trong giai đoạn làm đòng, số lượng diazotroph ở canh
tác SRI tăng gấp đôi so với canh tác thông thường. Trong chu kỳ của cây
lúa, không chỉ số lượng vi khuẩn ở chế độ canh tác SRI tăng mà còn tăng
số lượng loài vi khuẩn làm tăng lượng dinh dưỡng sẵn có.
Ảnh hưởng của ngập nước đến rễ và quang hợp: trong một thời gian
dài, việc ngập nước được cho là có lợi cho cây lúa. Tuy nhiên cây lúa mọc
ở điều kiện thiếu oxy bị giảm chức năng của nó và thoái hóa tới 70% vào
lúc ra hoa khi hạt bắt đầu hình thành. Ở điều kiện ngập nước khoảng 30 -
40% vỏ rễ thoái hóa để tạo túi khí cho phép oxy hòa tan thụ động trong rễ.

18
Sự thích ứng này không phải là điều kiện lý tưởng vì không đủ oxy cung
cấp cho đầu rễ, nơi quá trình sinh trưởng diễn ra. Nơi đất thoát nước tốt hệ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status