1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
HOÀNG THỊ HỒNG
NHỮNG CÁCH TÂN NGHỆ THUẬT TRONG THƠ
NGUYỄN QUANG THIỀU VÀ TRƯƠNG ĐĂNG DUNG
QUA HAI TẬP THƠ SỰ MẤT NGỦ CỦA LỬA
VÀ NHỮNG KỈ NIỆM TƯỞNG TƯỢNG LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM HÀ NỘI, 2013
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
Dung, người đã cung cấp cho tôi hệ thống tài liệu và cho tôi những ý kiến
đóng góp quí giá trong suốt quá trình tôi triển khai đề tài.
Tôi xin trân trọng cảm ơn tập thể Bộ môn Lí luận văn học, Khoa Ngữ
văn, Phòng Sau đại học, Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, là
cơ sở đào tạo đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học
tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn!
Hà Nội, ngày 19 tháng 11 năm 2013
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Hồng
4
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi.
Các dẫn chứng và kết quả nêu trong luận văn là chính xác, trung thực. Luận
văn này chưa công bố trong bất kì một công trình khoa học nào.
Hà Nội, ngày 19 tháng 11 năm 2013
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Hồng
7 8
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2
3. Mục đích của đề tài 12
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 13
5. Phương pháp nghiên cứu 13
6. Đóng góp của luận văn 14
7. Cấu trúc luận văn 14
Chương 1. ĐỔI MỚI THƠ VIỆT ĐƯƠNG ĐẠI VÀ SỰ XUẤT HIỆN
CỦA NGUYỄN QUANG THIỀU VÀ TRƯƠNG ĐĂNG DUNG 15
LỬA VÀ NHỮNG KỈ NIỆM TƯỞNG TƯỢNG 84
3.1. Tư duy dán ghép 84
3.1.1. Dán ghép các sự kiện - biến cố 84
3.1.2. Dán ghép không gian - thời gian 87
3.2. Những chuyển động ngôn ngữ trong thơ 93
3.2.1. Ngôn ngữ thơ đậm chất đời thường, thế sự 93
3.2.2. Ngôn ngữ thơ giàu chất tượng trưng, siêu thực 95
3.2.3. Ngôn ngữ thân thể trong thơ 98
3.3. Giọng điệu 103
3.3.1. Giọng điệu triết lí 103
3.3.2. Giọng điệu trăn trở suy tư 109
KẾT LUẬN 116
TÀI LIỆU THAM KHẢO 120
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Cách tân là thuộc tính của sáng tạo, là quy luật bản chất, là con
đường sống còn của văn học nghệ thuật. Thơ Việt Nam vốn tiềm tàng một
khát vọng đổi mới. Có những cái mới được hoan nghênh, nuôi dưỡng, nảy nở
và phát triển, trái lại có cái mới bị dè bỉu mỉa mai rồi nhanh chóng thui chột.
Thời kì trung đại, chúng ta đã học tập kĩ thuật và mĩ học Đường thi để
sáng tạo thơ Việt. Đến những năm 1930 - 1945 của thế kỉ XX, sự gặp gỡ với
phương Tây đã làm cả một nền thơ xưa một phen điên đảo lung lay. Sự thức
tỉnh của ý thức cá nhân đã mở đường cho những sáng tạo. Chưa bao giờ cùng
một lúc xuất hiện nhiều phong cách thơ độc đáo đến thế. Thơ mới đã phát
triển lên đến đỉnh điểm rồi dần dần đi đến khủng hoảng như một thông lệ. Vì
vậy nhu cầu làm mới Thơ mới, thoát khỏi từ trường của Thơ mới khi Thơ mới
đi vào chỗ bế tắc đã được đặt ra. Trong dòng chảy của Thơ mới, họ hiểu rằng
xu hướng lãng mạn đã quá đủ đối với độc giả tiên tiến đương thời. Hành trình
thơ Việt Nam hiện đại của Nguyễn Bá Thành (1995), Nửa thế kỉ thơ Việt
Nam 1945 - 1995 của Vũ Tuấn Anh (1997), Thơ trữ tình Việt Nam 1975 -
1990 của Lê Lưu Oanh (1998), Tiến trình thơ Việt Nam hiện đại của Mã
Giang Lân (2000), Vọng từ con chữ của Nguyễn Đăng Điệp (2003), Mấy
vấn đề về thơ Việt Nam 1975 - 2000 của Phạm Quốc Ca (2003), và gần đây
nhất, công trình gây được tiếng vang lớn về thơ là Thơ như là mĩ học của cái
khác của Đỗ Lai Thúy (2012),… Đó là những công trình nghiên cứu dài hơi,
có hệ thống về thơ đương đại Việt Nam.
3
Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu hầu như chỉ hướng sự quan tâm đến sự
vận động chung của những đổi mới nền thơ Việt mà chưa hoặc ít nhìn nhận
cách tân của từng nhà thơ trong sự riêng lẻ, tách biệt cũng như trong mối quan
hệ cộng sinh. Dưới đây chúng tôi xin được hệ thống hóa những công trình
nghiên cứu cũng như những bài viết về hai tập thơ Sự mất ngủ của lửa của
Nguyễn Quang Thiều và Những kỉ niệm tưởng tượng của Trương Đăng Dung.
2.1. Buổi đầu, tập thơ Sự mất ngủ của lửa đã làm dấy lên những ý kiến
tranh luận nhiều chiều, đa dạng những thái độ khen - chê. Với tập thơ, Nguyễn
Quang Thiều thực sự đã làm cuộc vượt thoát ngoạn mục khi bỏ lại sau lưng
những vần điệu, thói quen, cách nhìn đơn tuyến mà ta từng thấy trong tập thơ
đầu tay của ông: Ngôi nhà mười bảy tuổi (1990), Nxb Thanh niên.
Trong Tiểu luận phê bình Vọng từ con chữ, Nguyễn Đăng Điệp đã
quan tâm đặc biệt đến nhà thơ Nguyễn Quang Thiều. Một thi pháp mới mẻ
của thơ Nguyễn Quang Thiều được nhà phê bình này phát hiện ra: “Là một
nhà thơ có ý thức khai phá lối đi riêng những trạng thái “mất ngủ” của trái
tim đầy “lửa” Nguyễn Quang Thiều hợp với thơ tự do mà ở đó, không loại trừ
“sự xâm lăng” của chất văn xuôi. Giọng thơ Nguyễn Quang Thiều, qua
những điểm mạnh của thơ tự do, vừa tung phá, trẻ trung mà không kém phần
sâu sắc” [13, tr. 34]. Bằng cách đó, Nguyễn Quang Thiều đã đóng góp cho
nền thơ đương đại Việt Nam thêm những vần thơ đậm chất văn xuôi. Và cũng
trong Tiểu luận Vọng từ con chữ với bài viết Nguyễn Quang Thiều: Nước,
những kết dính mờ nhạt, tinh thần phản tỉnh mãnh liệt làm đổ vỡ những trật tự
cũ, tường minh từng góc sâu tăm tối trong kí ức mỗi người, tạo những góc
nhìn tỉnh táo, sắc lạnh vào đời sống hiện thực. Theo tác giả Đông La thì
Nguyễn Quang Thiều đã thực hiện sự lạ hóa trong quá trình thay đổi cách
5
biểu đạt. Nhà thơ đã mở ra một không gian của trí tưởng tượng, làm tăng ấn
tượng sức biểu đạt chính là một qui luật của sáng tạo nghệ thuật.
Sáng 28.6.2012 tại Viện Văn học Việt Nam diễn ra cuộc tọa đàm khoa
học “Thơ Việt Nam hiện đại và Nguyễn Quang Thiều” nhân tập thơ Châu
thổ của ông trình xuất bản. Trong bản đề dẫn của mình, PGS. TS Nguyễn
Đăng Điệp khẳng định Nguyễn Quang Thiều là một hiện tượng nổi bật trong
số những cây bút từ sau năm 1975, với những cách tân ráo riết, táo bạo. Bản
thân thơ Nguyễn Quang Thiều, kể từ tập Sự mất ngủ của lửa in năm 1992, đã
định hình một giọng điệu, ngôn ngữ, phổ hình riêng và mới trong thơ ca Việt
Nam hiện đại và là một thứ thơ có từ trường.
Tác giả Nguyễn Mạnh Tiến khi bàn về tập thơ Sự mất ngủ của lửa
trong bài viết Nguyễn Quang Thiều, lửa thức (Những mơ mộng nghệ
thuật giữa lòng Sự mất ngủ của lửa). “Lửa cháy trong thơ Thiều không phải
là lửa của sự hiểm nguy. Trong cái nhìn tổng thể, lửa của Thiều không đe
dọa, không phẫn nộ mà thắp sáng an ủi. Lửa Thiều là ngọn lửa lạnh. Lửa âm
tính, ấm áp nơi bào thai mẹ. Lửa Thiều được gọi về trong niềm hoài hương
dằng dặc nơi chốn quê xa, trong cõi tưởng” [15, tr. 40]. Nguyễn Mạnh Tiến
đã diễn giải về cõi thơ Thiều thường trực một cảm thức lưu vong và nuôi
dưỡng không nguôi niềm hoài hương quê mẹ. Hiểu điều ấy rồi, chúng ta sẽ
không thấy ngạc nhiên khi vấp phải những dòng tự sự trữ tình mang cảm thức
kì dị nơi Thiều.
Ý thức tiếp cận thơ Nguyễn Quang Thiều ở góc nhìn tương tác như thế
tiếp tục được thể hiện trong bài viết Sự mất ngủ của lửa hay sự thao thức
của một hồn thơ của tác giả Đông La: “Ngọn lửa trong thơ Nguyễn Quang
Thiều là ngọn lửa của tình yêu, ngọn lửa của lương tri, sự mất ngủ chính là sự
7
ảnh hưởng đến tư duy nghệ thuật, điều đó đã được minh chứng qua những
sáng tác của ông. Các bài thơ của ông xuất hiện và liên tục gây ấn tượng
mạnh mẽ đối với người đọc.
Chỉ trong chưa đầy một năm đã có hơn ba mươi bài phê bình về tập thơ
Những kỉ niệm tưởng tượng của Trương Đăng Dung, một hiệu ứng thẩm mĩ
xã hội hiếm thấy trong đời sống thơ Việt đương đại. Nhà phê bình Đỗ Lai
Thúy khi viết lời tựa cho tập thơ đã cho rằng: “Thơ Trương Đăng Dung là thơ
- thời - gian” [10, tr. 9]. Ngoài ra Đỗ Lai Thúy còn khẳng định: “Trương
Đăng Dung là nhà thơ có tư tưởng. Mỗi bài thơ, thậm chí mỗi câu thơ của
anh đều gửi gắm đến cho người đọc một thông điệp nào đó về cuộc đời. Có
điều, khác với thơ cổ điển, thông điệp thơ anh không phải là những bưu kiện
để người đọc nhận trọn gói, mà là những chấm phá phía chân trời vẫy gọi
người đọc đến thám mã và đồng sáng tạo” [10, tr. 10 - 11]. Theo đó, mỗi tập
thơ phải có thông điệp riêng được toát ra một cách nhất quán từ vẻ đẹp của
các bài thơ đứng cạnh nhau. Như vậy, Trương Đăng Dung đã mang đến cho
mỗi câu thơ, mỗi bài thơ của mình một đời sống, một số phận để hút độc giả
vào trường thơ do chính ông tạo ra.
Báo cáo trong Lễ trao giải thưởng văn học 2011 Hội Nhà văn Hà
Nội, nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên đã nhận định rất sâu sắc về tập thơ
Những kỉ niệm tưởng tượng của Trương Đăng Dung: “Có thể nói, Những kỉ
niệm tưởng tượng đã trở thành Vật chứng trước thời gian của Trương Đăng
Dung, nghĩa là thơ đã hiện hữu hóa ý thức sống của nhà thơ, biến cái sống tự
nhiên thành một cái sống được nhận thức, do đó đối với Trương Đăng Dung
có thể nói như R. Descartes: Tôi làm thơ, vậy tôi tồn tại. Giải thưởng trao cho
Những kỉ niệm tưởng tượng là sự khẳng định một tập thơ hay, một giọng thơ
mới lạ, một sáng tạo thơ đích thực và cũng khẳng định một hướng đi tốt đẹp
cho thơ”. Theo nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên thì Những kỉ niệm tưởng
8
tượng là tiếng thơ trĩu nặng cảm xúc suy tư về tồn tại nhân thế trong dòng
Nhà nghiên cứu văn học - nhà thơ Inrasara trong bài viết Trương Đăng
Dung, thơ như là thỏa thuận ý nghĩa đã khẳng định những đóng góp trên
hành trình sáng tạo thơ của Trương Đăng Dung: “Những kỉ niệm tưởng
tượng của Trương Đăng Dung, không dày, nhưng đủ đầy trong suy nghiệm về
thời gian, đau khổ và cái chết qua thứ ngôn ngữ “thỏa thuận”. Chỉ có thi sĩ
đích thực mới có thể sử dụng thứ ngôn ngữ “thỏa thuận” như phương tiện
thiện xảo mà không tổn hại đến ngôn ngữ như là ngôn ngữ” [38]. Như vậy,
Inrasara rất có thiện cảm và đánh giá rất cao tập thơ của Trương Đăng Dung
về phương diện mờ hóa ngôn ngữ, theo nhà nghiên cứu thì tập thơ Những kỉ
niệm tưởng tượng thực sự là: “một tập thơ hay và độc đáo, hay một cách
thâm trầm và đĩnh đạc”.
Nhà phê bình Nguyễn Đăng Điệp trong bài viết Thời gian và phận
người trong thơ Trương Đăng Dung viết: “Trở đi trở lại trong Những kỉ
niệm tưởng tượng của Trương Đăng Dung là tiếng cựa mình của thời gian,
của tình yêu và cái chết, là nỗi bất an trước một thực tại phi lí. Đó là một thế
giới ngập đầy hiện sinh trong cái nhìn trắc ẩn của một kẻ sớm tự nguyện
đứng về phe nước mắt” [16, tr. 28]. Như vậy, nhà phê bình đã có những nhận
định đầy đủ và sâu sắc về tập thơ Những kỉ niệm tưởng tượng của Trương
Đăng Dung. Đó là gợi ý quan trọng cho quá trình thực hiện luận văn mà
người viết lẩy ra được từ bài phê bình này.
Trên báo Tổ Quốc, Nguyễn Thanh Tâm có bài viết Trên đường đến
với Những kỉ niệm tưởng tượng. Sử dụng hình thức đối thoại, tác giả bài viết
đã có những kiến giải, nhìn nhận rất độc đáo và mới lạ về tập thơ Những kỉ
niệm tưởng tượng của Trương Đăng Dung: “Đó là thơ của niềm suy tưởng,
10
thơ của triết học ngôn ngữ, triết học hiện sinh, tiếng thơ trên những trầm tư
về bản thể và thời gian,… Ông ấy là nhà thơ có tư tưởng” [75]. Qua việc
phân biệt giữa tư tưởng nghệ thuật và quan niệm về thơ như một thành tố loại
hình với thơ mang tư tưởng, người viết đã một lần nữa khẳng định Giáo sư
Trương là một nhà thơ có tư tưởng. Chính ở những nơi mà những suy tưởng
Những bài viết như: Cảm thức lạc lõng trong tập thơ Những kỉ niệm
tưởng tượng (Hoài Nam), Nỗi buồn nhân thế trong thơ Trương Đăng
Dung (Nguyễn Trọng Đức), Cảm thức cô đơn trong thơ Trương Đăng
Dung (Hồ Tấn Nguyên Minh),… đều với một giọng khẳng định bao trùm lên
tập thơ Những kỉ niệm tưởng tượng là một nỗi buồn nhân thế. Nỗi buồn ấy
được thể hiện ở nhiều cung bậc, trạng huống khác nhau nhưng đều có cội
nguồn từ một con người có ý thức trách nhiệm cao đối với cuộc đời và con
người.
Và mới đây nhất, Mai Thị Liên Giang với bài viết Thất bại của “cái
chết” trong thơ Trương Đăng Dung, Tạp chí Nhật Lệ, số 13.2013, tác giả
bài viết không đi theo hướng phân tích cũ của những nhà phê bình, nghiên
cứu trước đó mà chị có thêm một số suy nghĩ về sự tiếp nối và đổi mới trong
thi pháp thơ Trương Đăng Dung: “Thơ Trương Đăng Dung không chỉ là
những con chữ được sắp xếp theo vòng tròn khép kín mà luôn có kết cấu mở.
Ý nghĩa của một bài thơ có khả năng mời gọi người đọc nỗ lực hơn. Nghệ
thuật thơ của Trương Đăng Dung gắn với các khuynh hướng sáng tác hiện
đại, hậu hiện đại” [25]. Trong bài viết này, Mai Thị Liên Giang chú ý nhiều
đến phương diện từ ngữ trong thơ Trương Đăng Dung và đặc biệt nhấn mạnh
tính trò chơi ngôn ngữ. Theo chị, trong mối quan hệ giữa người đọc và thơ
Trương Đăng Dung, trò chơi không chỉ có giá trị như một ẩn dụ hiệu nghiệm
12
để con người nhận thức được nhiều mặt của đời sống, nó còn là phương thức
để con người kiến tạo nên những giá trị của đời sống và chính bản thân mình.
Cùng với những công trình nghiên cứu, phê bình, giới thiệu về tập thơ
Những kỉ niệm tưởng tượng, chúng tôi có tham vọng tìm ra sự cách tân về
nội dung tư tưởng và các thủ pháp nghệ thuật của tập thơ Những kỉ niệm
tưởng tượng của Trương Đăng Dung, để khẳng định tài năng và đóng góp
của Trương Đăng Dung đối với nền văn học nước nhà.
Nhìn lại các công trình nghiên cứu trên, chúng tôi thấy các nhà nghiên
cứu, phê bình đã có những phát hiện đáng quí về thơ Nguyễn Quang Thiều và
- Những kỉ niệm tưởng tượng (2011).
Ngoài ra, chúng tôi còn tìm hiểu một số bài thơ khác của Nguyễn
Quang Thiều và Trương Đăng Dung, một số tác phẩm của các tác giả khác
như một sự so sánh cần thiết để làm nổi bật nội dung trọng tâm của luận văn.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để triển khai đề tài, người viết sẽ sử dụng những phương pháp nghiên
cứu cơ bản sau:
5.1. Phương pháp phân tích, tổng hợp
Phương pháp phân tích, tổng hợp sẽ đưa ra cái nhìn khái quát về những
đổi mới cơ bản của thơ trữ tình Việt Nam từ sau năm 1986 đến nay. Qua đó,
những nét chung và riêng trong cách tân về phương diện nội dung và nghệ
thuật trong hai tập thơ Sự mất ngủ của lửa của Nguyễn Quang Thiều và
Những kỉ niệm tưởng tượng của Trương Đăng Dung cũng sẽ được làm rõ
thông qua phương pháp này. 14
5.2. Phương pháp so sánh
Thông qua phương pháp so sánh, những đóng góp, cách tân của hai tập
thơ Sự mất ngủ của lửa của Nguyễn Quang Thiều và Những kỉ niệm tưởng
tượng của Trương Đăng Dung so với thơ ca truyền thống hoặc cùng thời sẽ
được làm rõ.
5.3. Phương pháp cấu trúc - hệ thống
Phương pháp cấu trúc - hệ thống sẽ góp phần đắc lực trong việc xem
xét mối quan hệ giữa các yếu tố thuộc về nội dung và nghệ thuật của hai tập
thơ Sự mất ngủ của lửa của Nguyễn Quang Thiều và Những kỉ niệm tưởng
tượng của Trương Đăng Dung trong thế vận động của dòng chảy văn học.
6. Đóng góp của luận văn
Luận văn sẽ hướng đến những đóng góp có ý nghĩa sau:
- Góp phần làm sáng rõ thêm những đổi mới cơ bản của thơ trữ tình
một hệ mĩ cảm mới, một thang giá trị mới. Thời nay, thơ tiếp tục được đề cao
song không phải đề cao chức năng xã hội. Người ta nhận thấy rằng cần phải
trả lại cho thơ bản chất đích thực của nó. Thơ trước hết phải là thơ. Thơ
không phải là công cụ. Khả năng to lớn của thơ ca phải xuất phát từ chính đặc
trưng, bản chất nghệ thuật của nó. Chức năng bồi đắp tâm hồn tình cảm của
thơ được đề cao hơn bao giờ hết, nhất là trong hoàn cảnh sự sa sút về đời sống
tinh thần như hiện nay. Thơ là thơ, thơ không phải vụ lợi, uốn mình nên thơ
cũng rất trung thực trong việc phản ánh hiện thực. Hiện thực phản ánh không
phải chỉ ở bề mặt mà còn ở bề sau, bề sâu, bề xa, ở những góc khuất,… hiện
thực được phản ánh như nó vốn có, sẵn có, và sẽ có.
16
Thơ hôm nay còn chấp nhận cái ảo. Nếu không chỉ chấp nhận phản ánh
hiện thực một cách đơn thuần, thơ sẽ có thiên hướng tiếp cận cuộc sống ở một
phía khác nhiều ưu thế hơn so với các loại hình văn học nghệ thuật. Tất nhiên
sự ảo diệu, lung linh, đa nghĩa luôn là đặc điểm quen thuộc của thơ ca muôn
đời song với thơ ca giai đoạn này, chất ảo của thơ được khai thác dưới góc độ
đời sống tâm linh. Con người ở thế kỉ này nhiều khi quan tâm đến đời sống
tâm linh nhiều hơn là hiện thực cuộc sống lồ lộ dưới ánh mặt trời.
Quan niệm thơ là thơ cũng hé mở tính chất bất định, khó hình dung,
không thể định nghĩa của thơ. Chính vì tính chất bất định, khó hình dung đó
mà thơ trở nên hấp dẫn, bất ngờ, tạo khoảng không bao la cho sáng tạo. Nếu
trước đây đã có những định nghĩa về thơ thì hôm nay phải bổ sung, thay đổi,
thậm chí không thể định nghĩa bởi thơ hôm nay dường như không chấp nhận
bất kì khuôn khổ cố định nào.
1.1.1.2. Thơ là trò chơi
Trước hết đây là một thái độ khước từ những trói buộc, những trọng
trách một thời thơ phải gánh vác, lo toan; thể hiện thái độ tự do sáng tạo. Quan
niệm này cũng cấp cho thơ những phẩm chất mới: sự phóng khoáng, tự do, đối
lập với tính trang trọng mực thước của thơ truyền thống. Trò chơi cũng tạo nên
tính ngẫu hứng, sự lôi cuốn bất ngờ. Nó gợi ra những khía cạnh mới trong